Phòng giáo dục và đào tạo
TRNG TIU HC BO HIU
HNG DN HC SINH LP 4
GII TON Cể LI VN
Năm học 2012 2013
-Tên sáng kiến:
“HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 4 GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN”
-Tác giả: Nguyễn Ngọc Minh.
-Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm Tiểu học.
-Nơi công tác: TRƯỜNG TIỂU HỌC XUÂN CHÂU
HUYỆN XUÂN TRƯỜNG-TỈNH NAM ĐỊNH
-Đơn vị áp dụng sáng kiến: CẤP TRƯỜNG.
Phần thứ nhất: ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Trong công cuộc đổi mới đất nước. Sự nghiệp giáo dục đào tạo cũng
đang từng bước đổi mới các phương pháp dạy học nhằm đào tào tạo những
con người mới có bản lĩnh, có năng lực sáng tạo. Giám nghĩ, giám làm đạt
tới một con người toàn diện đáp ứng với sự đổi mới của đất nước. Trong
những thành tựu đạt được của sự nghiệp đạt được của sự nghệp giáo dục là
sự đóng góp lớn của bậc Tiểu học, bậc Tiểu học là nền móng cơ bản cho
các bậc học. Xuất phát từ vị trí và tầm quan trọng của môn học, việc giải
toán có lời văn không những rèn cho học sinh kỹ năng, kỹ sảo về giải toán
mà còn biết áp dụng vào cuộc sống hàng ngày để vận dụng vào việc tính
toán.
Việc huớng dẫn học sinh giải toán có lời văn là giúp các em phát
triển năng lực tư duy một cách tích cực, giúp các em hình thành khả năng
suy luận, lập luận và trình bày kết quả một cách hợp lý, làm cơ sở cho quá
trình học toán ở Tiểu học nói chung và các bậc học nói riêng .
Nhận thức đúng điều này bản thân tôi là một giáo viên Tiểu học,
tôi đã không ngừng học hỏi sáng tạo để góp phần nhỏ bé vào việc đổi mới
lời văn là nhiệm vụ của người giáo viên trong nhà trường Tiểu học. Nhưng
không phải giáo viên nào cũng thực hiện thành công. Muốn thành công mỗi
giáo viên Tiểu học phải tinh thông về chuyên môn, có kiến thức vững vàng
để vận dụng đa dạng hóa phương pháp, phải biết sáng tạo, đổi mới cách
dạy, cách rèn cho học sinh đạt được chất lượng cao nhất.
+ Đối với nhà trường: phải có điều kiện phương tiện để đáp ứng
yêu cầu dạy và học giải toán có lời văn.
+ Đối với giáo viên: tinh thông chuyên môn nghiệp vụ. Có tâm
huyết trong việc giáo dục học sinh, kiên trì và có điều kiện đầu tư cho việc
dạy học , có kinh nghiệm trong giảng dạy .
+ Đối với học sinh: phải có nhu cầu hứng thú, có động cơ học tập,
có phương pháp học và tự học.
+ Đối với gia đình: các bậc cha mẹ học sinh cần có sự quan tâm,
tạo điều kiện cho con em học tốt và kết chặt chẽ với nhà trường với giáo
viên chủ nhiệm trong việc kiểm tra đôn đốc học tập một cách có khoa học,
liên tục.
*Tóm lại: Tất cả những yếu tố, những cơ sở trên đều tham gia vào
tích cực vào quá trình giảng dạy và mang lại hiệu quả tốt cho việc giải toán
có lời văn lớp 4 .
2.2. Nội dung cụ thể
Toán có lời văn ở Tiểu học là những bài toán diễn đạt dưới dạng bằng
lời văn có nội dung gần gũi với hoạt động học tập của học sinh mà điển
hình ở lớp 4 là :
- Tìm số trung bình cộng .
-Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó.
-Tìm phân số của một số.
-Tìm hai số khi biết tổng hoặc hiệu và tỉ số của hai số đó.
-Tính chu vi, diện tích của một số hình đã học.
2
Trong mỗi bài toán có lời văn thường gồm 3 yếu tố :
Ví dụ: bài 2 – SGK (trang 27)
- Giáo viên yêu cầu học snh đọc kỹ đề bài
- Hướng dẫn học sinh phân tích đề toán để các em biết được số cân
nặng của 4 bạn : Mai , Hoa , Hưng , Thịnh lần lượt là : 36kg , 38kg ,
40kg , 34kg ,và tính được cân nặng của mỗi bạn
- Hướng dẫn tốm tắt bài toán
36kg 38kg 40kg 34kg
? kg ? kg ? kg ? kg
- Hướng dẫn giải bài toán:
Cả bốn em cân nặng là:
36 + 38 + 40 +34 = 148 (kg )
3
Trung bình mỗi em cân nặng là:
148 : 4 = 37 (kg)
Đáp số : 37 kg
* Dạng toán tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó:
Ví dụ : bài 2 – SGK ( trang 47)
- Học sinh đọc đề toán
- Hướng dẫn học sinh phân tích đề toán bằng hệ thống câu hỏi
+ Bài toán thuộc dạng toán gì? ( Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số
đó)
+ Bài toán cho biết gì ? ( biết tuổi của bố và tuổi của con là 58 , bố
hơn con 38 tuổi)
+ Bài toán hỏi gì ? ( Hỏi bố bao nhiêu tuổi , con bao nhiêu tuổi)
- Tóm tắt bài toán:
? tuổi
Tuổi bố:
38 tuổi 58 tuổi
Tuổi con:
? tuổi
cần biết được đâu là hiệu , đâu là tỉ số.
- Phương pháp cho dạng toán này : coi số bé là một phần , xem số lớn
mấy phần rồi tính hiệu các phần đó .
4
- Lây hiệu đã cho chia cho hiệu số phần để tính giá trị của một phần .
- Tìm số bé, số lớn.
Ví dụ : Bài 2 – SGK – trang 151
Mẹ hơn con 25 tuổi . Tuổi con bằng
2
7
tuổi mẹ . Tính tuổi của mỗi
người ?
- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kỹ đề bài .
- Hướng dẫn phân tích : Theo đầu bài , ta biết hiệu số tuổi của hai mẹ
con là 25 tuổi. Tuổi con bằng
2
7
tuổi mẹ, có nghĩa là tuổi con được chia
làm hai phần bằng nhau thì tuổi mẹ được chia làm 7 phần bằng nhau .
- Hướng dẫn tóm tắt bài toán
Ta có sơ đồ sau :
? tuổi
Tuổi con : 25 tuổi
Tuổi mẹ :
? tuổi
- Hướng dẫn giải bài toán :
Theo sơ đồ , hiệu số phần bằng nhau là :
7 – 5 = 2 ( phần )
Tuổi của con là :
phép tính gì ? làm thé nào để tìm được ?
- Lời giải trước mỗi phép tính thường là những câu ngắn gọn , sát với
nội dung phép tính sắp trình bày .
Ví dụ : Bài 4 – SGK – trang 85.
Bài giải
Số gói kẹo trong 24 hộp là :
120 x 24 = 2880 ( gói )
Nếu mỗi hộp chứa 160 gói kẹo thì cần số hộp là :
2880 : 160 = 18 ( hộp )
Đáp số : 18 hộp
- Giáo viên cần hướng dẫn học sinh tự kiểm tra lại kết quả của bài
toán bằng cách hướng dẫn các em nhìn vào yêu cầu của bài toán và sự liên
quan giữa các đại lượng, yếu tố, kết quả đã phù hợp với các điều kiện mà
bài toán đưa ra chưa ? các phép tính trong bài đã chính xác chưa ?
* Kết quả :
Sau một thời gian áp dụng , nhờ sự kiên trì phấn đấu không ngừng
của các em học sinh cùng với sự quan tâm chỉ đạo của giáo viên, các em đã
nhận dạng và giải được các dạng toán trên một cách tích cực, thành thạo và
đã thu được kết quả như sau :
Tổng số
học sinh
22 em G K TB Y
Đầu năm 0 2 13 7
Cuối năm 6 9 7 0
* Để đạt được kết quả trên , đòi hỏi giáo viên phải :
- Sử dụng tình huống linh hoạt , sử dụng nhiều phương pháp để gây
hứng thú học tập cho học sinh , rèn luyện nhiều cách giải toấn dạng toán có
lời văn điển hình .
- Khi hướng dẫn học sinh giải bài toán phải sử dụng câu hỏi phù hợp ,
đúng trọng tâm , ngắn gọn , dễ hiểu .
giáo viên nói chung và của mỗi người giáo viên nói riêng. Có như vậy thì
kết quả chất lượng dạy và rèn kỹ năng giải toán cho học sinh mới đạt kết
quả cao và phát huy tính tích cực, chủ động, tự rèn của mỗi em học sinh
trong trường tiểu học Bảo Hiệu nói riêng và bậc tiểu học nói riêng.
* Một số đề xuất
Hiện nay, trường Tiểu học Bảo Hiệu là một trong 5 trường Tiểu học
đang thực hiện dự án Đảm bảo chất lượng giáo dục trong nhà trường phổ
thông của huyện Yên Thuỷ (gọi tắt là chương trình SEQAP). Đây là
chương trình rất thuận lợi cho quá trình học tập của các em.
Bên cạnh đó giáo viên có thêm thời gian để bổ sung kiến thức cần
thiết, phù hợp với đối tượng học sinh do mình phụ trách.
Tôi mong rằng, chương trình này sẽ áp dụng lâu dài để các em có
thêm sự quan tâm cả về kinh tế lẫn tinh thần, tạo hứng thú cho các em thêm
yêu trường lớp. Với phương châm:
“Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”
7
Bên cạnh đó rất cần sự quan tâm của các cấp, ban ngành đoàn thể
đầu tư thêm cơ sở vật chất, những đồ dùng dạy học, SGK, vở viết đầy đủ
để các em học tập đạt hiệu quả ngày một tốt hơn.
Trên đây là một số phương pháp thực hiện thành công mà tôi đã
mạnh dạn sáng tạo và vận dụng đạt kết quả cao. Mong các đồng chí đồng
nghiệp, ban giám hiệu, chuyên môn của nhà trường cũng như Phòng giáo
dục huyện nhà bổ sung cho tôi để giúp bản thân tôi đạt kết quả cao hơn nữa
trong năm học tới.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Xuân Châu, ngày 20 tháng 4 năm 2013
Người viết8