sáng kiến kinh nghiệm: Hướng dẫn học sinh thực hiện có hiệu quả các thí nghiệm trong giờ học Vật lí cấp THCS - Pdf 35

MỤC LỤC

PHẦN

NỘI DUNG

TRANG

Phần thứ nhất

Đặt vấn đề

2

I

Lí do chọn đề tài

2

II

Phạm vi, đối tượng, mục đích của đề tài

3

Phần thứ hai

Nội dung đề tài

4


Phần thứ ba

Kết luận

12

1

Hiệu quả sử dụng SKKN

12

2

Bài học kinh nghiệm

13

3

Lời kết

13

4

Tài liệu tham khảo

14

thực tế cuộc sống. Việc học tập đòi hỏi người học sinh phải có tư duy nhạy bén,
óc sáng tạo, lòng ham mê khám phá thế giới xung quanh. Vì vậy việc rèn cho
học sinh làm quen, làm tốt thí nghiệm vật lí là vô cùng quan trọng. Nó không
những làm cho học sinh say mê học bộ môn, rèn cho học sinh thói quen làm
2


việc khoa học mà còn góp phần tạo cho học sinh phương pháp, kĩ năng làm việc
của một nhà khoa học.
Xuất phát từ những nội dung, yêu cầu nêu trên, tôi đã nghiên cứu trao đổi
với các nhóm bộ môn cũng như với giáo viên dạy vật lí và đề xuất sáng kiến
kinh nghiệm về vấn đề khai thác, "Hướng dẫn học sinh thực hiện có hiệu quả
các thí nghiệm trong giờ học vật lí", nhất là thí nghiệm vật lí khối 8, 9, tạo điều
kiện thuận lợi để hơn nữa để đạt hiệu quả trong việc tiếp thu kiến thức của học
sinh.
II. PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
1. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh khối 8, 9 trường THCS Tích Sơn.
2. Mục đích của đề tài:
Giáo viên tìm hiểu những hạn chế của học sinh khi sử dụng đồ dùng thí
nghiệm từ đó có những biện pháp khắc phục, vận dụng phương pháp mới một
cách linh hoạt để tổ chức tốt một giờ Vật lí trên lớp cho học sinh. Qua đó dần
hình thành cho học sinh cách tư duy Vật lí, kĩ năng sử dụng thiết bị thí nghiệm
Vật lí nhằm nâng cao chất lượng dạy - học bộ môn.
Giúp cho việc sử dụng và đưa thí nghiệm vật lí vào giảng dạy một cách
có hiệu quả nhất.
Giúp học sinh biết tiến hành các thí nghiệm cơ bản trong quá trình học và
biết sử dụng bộ thí nghiệm.

3

II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Trong dạy học vật lí, thí nghiệm vật lí là cơ sở để xây dựng, chứng minh
kiến thức vật lí. Thí nghiệm vật lí (cho học sinh làm) có tác dụng bồi dưỡng cho
học sinh phương pháp nghiên cứu Vật lí, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, sử dụng các
dụng cụ đo và các dụng cụ thiết bị khác.
4


Trường THCS Tích Sơn có cơ sở vật chất đủ phục vụ cho việc giảng dạy
bộ môn. Tuy phòng học kiên cố, sạch sẽ nhưng phòng bộ môn không đảm bảo
tiêu chuẩn rất ảnh hưởng đến chất lượng học tập bộ môn.
Tuy nhiên thực tế cho thấy, kĩ năng sử dụng đồ dùng thiết bị thí nghiệm
của học sinh còn rất yếu, nhất là khâu lắp ráp dụng cụ thí nghiệm. Trong giờ
học phần này chiếm mất rất nhiều thời gian. Khi làm thí nghiệm, học sinh
thường tập trung nhiều đến hiện tượng chứ không tập trung đến mục đích thí
nghiệm. Vì vậy nếu Giáo viên không có phương pháp giảng dạy phù hợp sẽ rất
dễ dẫn đến cháy giáo án, thiếu thời gian cho các hoạt động khác, chất lượng
học tập không cao, sẽ có kết quả ngược lại không như mong muốn.
Thiết bị thí nghiệm được trang bị đồng bộ nhưng chất lượng không cao.
Nhiều bộ dụng cụ thí nghiệm cho kết quả không chính xác đòi hỏi giáo viên
phải đầu tư thời gian để hiệu chỉnh, sửa chữa.
Từ những nguyên nhân trên dẫn đến chất lượng của bộ môn chưa được
như mong muốn. Do đó trong 4 giải pháp đổi mới phương pháp dạy học Vật lí ở
trường trung học cơ sở thì giải pháp "phấn đấu làm đầy đủ, có chất lượng các
thí nghiệm trên lớp là giải pháp được đặt lên hàng đầu" (theo tài liệu "Đổi
mới phương pháp dạy học" của tác giả Trần Kiều)
Điều tra kết quả học tập trước khi sử dụng đề tài
Thực tế về điều tra trình độ học tập của học sinh qua khảo sát:

Tổng số học


14

10,1%

35

25,4%

65

47,1% 24

17,4%

9

110

16

14,6%

23

20,9%

58

52,7% 13

Các điều kiện của thí nghiệm Vật lí phải được lựa chọn và thiết lập có
chủ định sao cho thông qua thí nghiệm, học sinh có thể trả lời được câu hỏi đặt
ra, có thể kiểm tra được giả thuyết hoặc hệ quả suy ra từ giả thuyết.
Các thiết bị thí nghiệm có độ chính xác ở mức độ nhất định. Đầu tiên
chúng ta tìm thấy một qui luật sai và rồi chúng ta tìm thấy một qui luật đúng.
Bây giờ, thí nghiệm có thể sai như thế nào? đầu tiên, trong một lần thử, nếu
điều gì đó sai do dụng cụ thí nghiệm, chúng ta không để ý đến nó. Nhưng
những điều này dễ xác định, kiểm tra đi, kiểm tra lại, đến khi không còn một lỗi
nhỏ, vậy làm sao kết quả thí nghiệm có thể sai được? Chỉ vì sự thiếu chính xác
6


của dụng cụ đo. Đảm bảo sự quan sát được của các đại lượng biến đổi trong khi
tiến hành thí nghiệm. Giáo viên có thể làm lại thí nghiệm nhiều lần và đảm bảo
kết quả thu tương đối giống nhau. Nếu không chuẩn bị kĩ như vậy, thí nghiệm
trên lớp phải làm đi làm lại nhiều lần, nếu thất bại sẽ phá vỡ tiến trình bài học
gây tâm lí hoang mang, thất vọng đối với học sinh và quan trọng hơn là làm cho
học sinh mất đi niềm tin khoa học.
Điều không thể thiếu được là giáo viên phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi
hướng dẫn học sinh quan sát hiện tượng, phân tích kết quả thí nghiệm vận dụng
các kiến thức có liên quan để đi đến tri thức mới một cách logic.
Khi soạn bài, giáo án của giáo viên phải phân chia thành các hoạt động cụ
thể, phù hợp với từng phần kiến thức tương ứng với sách giáo khoa và thí
nghiệm phục vụ cho hoạt động đó, cho phần kiến thức đó. Cần nêu rõ được thí
nghiệm nào do giáo viên tiến hành, thí nghiệm nào do nhóm học sinh làm, giáo
viên cũng định hình được thời gian làm cho thí nghiệm đó...nhằm đạt được yêu
cầu hình thành kiến thức, phát huy tính độc lập của học sinh và đáp ứng các yêu
cầu của giờ lên lớp với chất lượng cao. Trong mỗi phần thí nghiệm của học
sinh, giáo viên cần nêu rõ những chú ý trong khi làm thí nghiệm, đó là những
kinh nghiệm, những yêu cầu kĩ thuật hay những sáng tạo của giáo viên để đảm

Giáo viên yêu cầu học sinh đưa ra phương án thí nghiệm.
Các phương án học sinh đưa ra có thể giống trong sách giáo khoa nhưng
cũng có thể học sinh đưa ra phương án mà với những điều kiện thiết bị đã chuẩn
bị không thể thực hiện được. Giáo viên nên tôn trọng các ý kiến đó và có những
đánh giá nhất định. Những phương án đi đúng hướng sẽ được sử dụng.
Trong trường hợp học sinh không đưa ra được phương án thí nghiệm,
hoặc cũng có thí nghiệm với trình độ nhận thức của học sinh sẽ khó đưa ra được
phương án thí nghiệm, giáo viên có thể gợi ý hoặc đưa ra thí nghiệm và cho học
sinh làm.
Bước 3: Học sinh làm thí nghiệm.
Phương pháp thực hành là hình thành và rèn luyện cho học sinh một số kĩ
năng lao động tới một trình độ nào đó, việc học là rất quan trọng, một kĩ năng
thực hành được xác định bởi những tiêu chuẩn sau:
+ Là đơn vị của một công việc hoàn chỉnh.
+ Có qui trình riêng và được hoàn thành trong một thời gian nhất định.
+ Có điểm khởi đầu và điểm kết thúc rõ ràng.
+ Có thể quan sát, đo đếm và đánh giá được.
Vì vậy bước này học sinh phải tuân thủ theo qui trình thực hành thí nghiệm:
8


a/ Giới thiệu sơ đồ thí nghiệm:
Giáo viên hướng dẫn học sinh tiến hành thí nghiệm theo sơ đồ thí nghiệm
có trong sách giáo khoa hoặc có cải tiến theo từng bài, theo dụng cụ thí nghiệm.
Ví dụ: Trong bài 5: "Sự cân bằng lực - quán tính" (Vật lí 8)
Sách giáo khoa đưa ra phương án thí nghiệm kiểm tra dự đoán tác dụng
của hai lực cân bằng lên một vật đang chuyển động là: Đo quãng đường của quả
cân A chuyển động sau mỗi khoảng thời gian 2 giây và tính vận tốc của A.
Nhưng phương án này là không khả thi với dụng cụ đo là máy A-tút. Vì vậy nên
đưa ra cho học sinh phương án làm thí nghiệm như sau: Đo thời gian đi được

+ Làm mẫu chuẩn xác để học sinh làm theo.
+ Dừng lại ở chỗ chủ chốt, nên hỏi học sinh đã nắm vững thao tác hay
chưa?
Sau khi học sinh đã nắm vững qui trình, giáo viên cho học sinh nêu được
mục đích thí nghiệm và cho nhóm học sinh làm thực hành. Trong khi thực hành,
giáo viên thường xuyên uốn nắn những sai sót. Nếu phát hiện học sinh có nhiều
sai sót mà nhiều học sinh mắc phải, giáo viên cần ngừng công việc cả lớp và
hướng dẫn lại.
Trong khi làm thí nghiệm, nhắc nhở nhóm học sinh phải quan sát, ghi
chép kết quả liên tục đảm bảo tính chính xác, trung thực vào phiếu học tập hoặc
bảng phụ của nhóm.
e/ Phân tích kết quả thí nghiệm:
Sau khi có kết quả thí nghiệm, giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích,
xử lí kết quả thí nghiệm, rút ra kết luận.
Kết quả giữa các nhóm có thể có sự chênh lệch ở mức độ cho phép nhưng
giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sai số và có
kết luận chính xác.
 Ngoài ra trong chương trình Vật lí THCS có những thí nghiệm mà trong bộ
dụng cụ thí nghiệm không có. Có thí nghiệm học sinh khó tiến hành, ví dụ bộ
thí nghiệm bài "Lực điện từ" làm rất khó thành công. Hoặc có thí nghiệm
chất lượng không cao như: Thí nghiệm trộn các ánh sáng màu, bộ các tấm lọc
màu không đủ tiêu chuẩn nên màu trộn được không như mong muốn. Nhất là
trộn ba ánh sáng màu với nhau để được ánh sáng trắng thì không được màu
trắng mà gần như vàng. Thí nghiệm dùng nam châm điện để tạo ra dòng điện
không có như trong SGK...

10


Để tạo được niềm tin khoa học, sức thuyết phục và hứng thú học tập với

Kết quả xếp loại
Giỏi

Khá

Trung bình

SL

%

SL

%

SL

19

13,8%

37

26,8%

70

12

%

So với khi chưa áp dụng chuyên đề thì tỉ lệ học sinh tiếp thu và hiểu bài ngay tại
lớp tăng lên rõ rệt, tỉ lệ khá giỏi tăng, giảm tỉ lệ học sinh trung bình, yếu. Điều
đáng kể hơn là tính năng động và khả năng tự lập của học sinh thể hiện khá rõ
rệt. Quan hệ thầy trò trở nên gần gũi, xoá bỏ được rào cản giữa giáo viên và học
sinh, bài học gây được hứng thú nên học sinh yêu thích môn học, tự lực giải
quyết được vấn đề, tự khám phá và lĩnh hội kiến thức mới. Khi giảng dạy thấy
học sinh nhớ bài nhanh, nhớ lâu, nắm chắc kiến thức nên chất lượng giảng dạy
cao.
Giáo viên nâng cao được trình độ chuyên môn nghiệp vụ hình thành dần
kinh nghiệm giảng dạy sau mỗi bài.
2. Bài học kinh nghiệm:
Qua việc áp dụng đề tài vào giảng dạy tại trường THCS Tích Sơn, bản
thân tôi đã rút ra được bài học sau:
Việc đổi mới phương pháp giảng dạy là vấn đề cấp bách góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên cũng giống như các hoạt động khác trong
nhà trường nhân tố quyết định vẫn là đội ngũ giáo viên. Theo tôi người thầy
phải có nhận thức đúng, yêu nghề, phải chuẩn bị tốt nội dung bài dạy, chuẩn bị
mọi điều kiện cần thiết cho thí nghiệm. Xây dựng được phương án tiến hành thí
nghiệm, chuẩn bị tốt hệ thống câu hỏi từ dễ đến khó cho phù hợp với từng đối
tượng học sinh.
Học sinh phải chuẩn bị tốt kiến thức có liên quan (kiến thức xuất phát) và
nắm chắc tiến trình thí nghiệm.
3. Lời kết:
Trong dạy và học vật lí có nhiều phương pháp khác nhau được áp dụng
cụ thể cho từng bài dạy. Tuy nhiên việc sử dụng thiết bị thí nghiệm trong giờ
học là không thể thiếu, nhất là theo chương trình hiện nay.
Trên đây là một trong những cách tổ chức tiến trình sử dụng đồ dùng thí
nghiệm trong giảng dạy Vật lí THCS. Tôi đã và đang thực hiện theo SKKN này.
13


định luật về công


I/ Mục tiêu:
1/ KT: - Phát biểu đợc định luật về công dới dạng: Lợi bao nhiêu lần về lực thì
thiệt bấy nhiêu lần về đờng đi và ngợc lại.
- Vận dụng định luật để giải các bài tập về mặt phẳng nghiêng, ròng rọc
động.
2/ KN: - Làm TN nghiên cứu để đi đến định luật về công.
- Chính xác trong thao tác TN.
3/ TĐ: - Nghiêm túc, trung thực, hợp tác trong TN và học tập bộ môn.
II/ Chuẩn bị:

* Mỗi nhóm HS:
+ 1 lực kế 5N,1 ròng rọc động, 1 quả nặng 200g.
+ 1 sợi dây mảnh không giãn, 1 thớc thẳng, giá TN
* GV: Phiếu học tập của nhóm (Bảng 14.1/SGK)
+ Máy tính, máy chiếu.

III/ Tổ chức hoạt động học tập của học sinh:
1/ Tổ chức: Sĩ số:
trợ giúp của GV

hoạt động của hs
16


2. Kiểm tra bài cũ: 1 HS:



- HS nêu các bớc tiến hành TN:



Nêu các bớc tiến hành TN?

+TH1: Dùng lực kế kéo quả nặng G
theo phơng thẳng đứng lên một đoạn
S1. Đọc số chỉ của lực kế F 1 và độ dài
S1 ghi vào bảng KQTN.

+ TH2: Dùng ròng rọc động kéo quả
nặng G lên cũng một đoạn S1. Đọc số
17




chỉ F2 của lực kế và quãng đờng đi đợc
của lực kế S2 ghi vào bảngKQTN.

GV giao dụng cụ cho các nhóm.
Nêu mục đích TN?




Cho nhóm HS làm TN, ghi KQ vào
phiếu.
Lu ý:

- Nội dung : SGK.
- 2 HS đọc.
Cho HS đọc nội dung định luật.
GV chốt:

III/ Vận dụng:

+ Không máy cơ đơn giản nào lợi về
C5: - HS thảo luận nhóm, trả lời:
công.
a/ Trờng hợp 1 lực kéo nhỏ hơn hai
+ Lợi bao nhiêu lần về lực thì thiệt bấy
lần.
nhiêu lần về đờng đi và ngợc lại.
b/ Không có trờng hợp nào tốn công
HĐ2: Vận dụng định luật về công.
nhiều hơn. Công thực hiện trong hai tr18




ờng hợp nh nhau.

Cho nhóm HS thảo luận C5.

c/ Công của lực kéo thùng hàng theo
mặt phẳng nghêng lên ôtô cũng đúng
bằng công của lực kéo trực tiếp thùng
hàng theo phơng thẳng đứng lên ôtô.
A = P. h = 500 . 1 = 500 J.

nhất.
Khi dây kéo dịch chuyển l = 8m, vật
lên cao đợc h = 8 : 2 = 4m.
b/ Công nâng vật lên:
A = p. h = 420. 4 = 1680 (J)

- Cá nhân HS trả lời:
D.
4. Củng cố
Câu1: Câu nào sau đây nói về tính chất của
máy cơ đơn giản là đúng ?
A. Đợc lợi bao lần về lực thì lợi
bấy nhiêu lần về đờng đi.
B. Đợc lợi bao nhiêu lần về lực thì đợc
lợi bấy nhiêu lần về công.
C. Đợc lợi bao nhiêu lần về lực thì
thiệt bấy nhiêu lần về công.
D. Đợc lợi bao nhiêu lần về lực thì
thiệt bấy nhiêu lần về đờng đi.

Cho HS nhắc lại định luật về
công.
19


5. HDVN:
+ Häc bµi.
+ Lµm bµi tËp vÒ nhµ: SBT.
+ ChuÈn bÞ bµi sau: ¤n tËp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status