Đề tài Kiện toàn mô hình tổ chức và đội ngũ cán bộ thi hành án để thực hiện có hiệu quả luật thi hành án dân sự năm 2008 - Pdf 13


BỘ TƯ PHÁP
TỔNG CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
*******

ĐỀ ÁN KHOA HỌC NĂM 2009

ĐỀ ÁN KIỆN TOÀN MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ THI HÀNH ÁN ĐỂ THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ
LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008

Chủ nhiệm Đề án: PGS.TS. Nguyễn Văn Luyện
Thư ký Đề án : T.S Nguyễn Quan
g
Thái


cán bộ, Bộ Tư pháp.
2. Th.s Nguyễn Quốc Long - Phó vụ trưởng Vụ
Công chức, viên chức - Bộ Nội vụ.
3. Th.s Nguyễn Văn Lượng - Phó vụ trưởng Vụ Tổ
chức biên chế - Bộ Nội vụ.
4. T.S Nguyễn Thanh Thủy - Phó tổng cục trưởng
Tổng cục THADS, Bộ Tư pháp.
5. CN. Trần Minh Phượng - Phó vụ trưởng V
ụ Tổ
chức cán bộ, Tổng cục THADS, Bộ Tư pháp.
6. Th.s Đào Thị Hoài Thu - Chuyên viên chính, Vụ
Tổ chức cán bộ, Tổng cục THADS, Bộ Tư pháp.
7. CN. Lê Dương Hưng - Chuyên viên chính, Vụ
Tổ chức cán bộ, Tổng cục THADS, Bộ Tư pháp.
8. CN. Trần Phương Hồng - Chuyên viên Vụ Tổ
chức cán bộ, Tổng cục THADS, Bộ Tư pháp.
9. CN. Mai Phương Hoa - Chuyên viên Vụ Tổ chức
cán bộ, Tổng cục THADS, B
ộ Tư pháp.
10. Th.s Nguyễn Văn Nghĩa - Chuyên viên Vụ Tổ
chức cán bộ, Tổng cục THADS, Bộ Tư pháp.

3
MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU

40
1. Mục tiêu
40
2. Quan điểm
40
II. PHƯƠNG HƯỚNG KIỆN TOÀN TỔ CHỨC, CÁN BỘ NGÀNH
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỂ THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ LUẬT THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ
46
1. Kiện toàn mô hình tổ chức ngành THADS
46

4
2. Về kiện toàn đội ngũ cán bộ ngành THADS
71
Chương III:
GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

95
I. HOÀN THIỆN THỂ CHẾ TỔ CHỨC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

95
1. Giai đoạn 2009 - 2011:
95
2. Giai đoạn 2011- 2015
103
II. GIẢI PHÁP VỀ KIỆN TOÀN ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC, CÔNG
CHỨC LÃNH ĐẠO CỦA HỆ THỐNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU, NHIỆM VỤ ĐƯỢC GIAO
105

5. CQTHA Cơ quan thi hành án
6. CQTHADS Cơ quan THADS
7. CHV CHV
8. BA, QĐ Bản án, quyết định
9. TAND Tòa án nhân dân
10. PL Pháp luật
11. CQQLNN Cơ quan quản lý nhà nước
12. VKSND Viện kiểm sát nhân dân
13. CBCC Cán bộ công chức
14. CCHC Cải cách hành chính 6
MỞ ĐẦU I. Tính cấp thiết
Luật THADS được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 11 năm 2008, có
hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2009 là cơ sở pháp lý quan trọng để
tạo chuyển biến cơ bản trong công tác THADS, khắc phục tình trạng tồn đọng
án kéo dài, nâng cao hiệu quả hoạt động THADS, góp phần giữ vững kỷ
cương phép nước và tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ tốt hơn quyền và
lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân. Một trong nhữ
ng vấn đề
quan trọng được Luật THADS đề cập đến đó là vấn đề tổ chức bộ máy và
công chức THADS. Tuy nhiên, do xác định mô hình tổ chức cơ quan THADS
liên quan chặt chẽ đến trách nhiệm quản lý nhà nước của Chính phủ, hơn nữa,
để đảm bảo tính linh hoạt trong công tác quản lý nhằm nâng cao hiệu lực,
hiệu quả trong tổ chức, chỉ đạo công tác THADS thì mô hình tổ chức, nhiệm
vụ, quyề

Luật THADS giao Chính phủ quy định những cơ quan THADS cụ thể ở các
địa bàn nêu trên được tuyển chọn người có trình độ c
ử nhân luật làm CHV
không qua thi tuyển trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày Luật THADS có hiệu
lực thi hành.
Để các quy định của Luật THADS phát huy hiệu quả, đòi hỏi phải thực
hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó giải pháp quan trọng là hoàn thiện thể
chế để tiếp tục kiện toàn bộ máy tổ chức, cán bộ của cơ quan quản lý
THADS, cơ quan THADS. Đây là vấn đề
đã được đặt ra từ năm 1993, khi
chuyển giao công tác THADS từ Toà án nhân dân tối cao sang cho Chính phủ
và qua 16 năm thực hiện, đến nay đã có đủ điều kiện để xác định rõ mô hình
tổ chức cơ quan THADS. Kết quả tổng kết thi hành Pháp lệnh THADS năm
2004 đã chỉ ra rằng, một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho công tác
THADS còn nhiều hạn chế, bất cập là do mô hình tổ chức cơ quan thi hành án
chưa ngang tầm với chứ
c năng, nhiệm vụ, tính chất công việc được giao. Vị
trí, mối quan hệ của hệ thống cơ quan THADS chưa rõ ràng, nhất là cơ quan
THADS cấp tỉnh và cơ quan THADS cấp huyện.
Tất cả những vấn đề nêu trên là những vấn đề quan trọng, phức tạp,
một số vấn đề còn mới ở Việt Nam, nhiều nội dung được giao cho Chính phủ
và các cơ quan có liên quan ban hành các văn bản hướng d
ẫn thực hiện. Vì

8
vậy, có nhiều vấn đề phải chờ văn bản hướng dẫn mới có cơ sở để triển khai
thực hiện.
Trong khi đó, theo Kế hoạch triển khai thực hiện Luật THADS và Nghị
quyết của Quốc hội về việc thi hành Luật này, ban hành kèm theo Quyết định
số 2425/QĐ-BTP ngày 29/12/2008 của Bộ Tư pháp thì trong năm 2009 phải

công việc cấp bách của các cơ quan Tư pháp cần thực hiện trong năm 2000 và
Nghị quyết quốc hội khoá X kỳ họp thứ 8 về nhiệm vụ năm 2001 đã chỉ ra 2
nhóm biện pháp chủ yếu: tăng cường đội ngũ cán bộ công chức làm việc
trong các cơ quan tư pháp; bảo đảm kinh phí và cơ sở v
ật chất để các cơ quan
bảo vệ pháp luật hoàn thành nhiệm vụ.
- Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020: "Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế
định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều
kiện, phương tiện làm việc; trong đó, xác định Toà án có vị
trí trung tâm và
xét xử là hoạt động trọng tâm; “từng bước thực hiện việc xã hội hoá và quy
định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà
nước thực hiện một số công việc thi hành án”; "nghiên cứu chế định thừa phát
lại (thừa hành viên); trước mắt, có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương,
sau vài năm, trên cơ sở tổng k
ết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo”;
"Có chế độ, chính sách tiền lương, khen thưởng phù hợp với lao động của cán
bộ tư pháp ";
2. Tiếp tục thực hiện chủ trương cải cách hành chính, cải cách tư pháp,
từng bước xã hội hoá hoạt động thi hành án, phù hợp với tình hình kinh tế - xã
hội của đất nước, đồng thời bảo đảm sự quản lý tập trung, thống nh
ất của Nhà
nước đối với hoạt động THADS. Phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
IV. Nội dung chủ yếu của Đề án
1. Nội dung nghiên cứu:
Để thực hiện được các mục tiêu đề ra, Đề án sẽ tập trung nghiên cứu
một số nội dung cơ bản sau đây:
a) Về mô hình tổ chức và quản lý THADS

i địa phương theo tinh thần Luật THADS.
- Cơ sở lý luận và thực tiễn để xác định cơ cấu, tổ chức các đơn vị
chuyên môn thuộc cơ quan THADS cấp tỉnh trong tình hình mới.

11
- Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc quy định phân cấp quản lý cán bộ
các cơ quan THADS trong tình hình mới.
- Nội dung, hình thức và một số vấn đề đặt ra đối với việc thi tuyển vào
ngạch CHV theo tinh thần của Luật THADS.
- Cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến cơ cấu, số lượng, điều kiện
chuyển đổi từ ngạch CHV cấp huy
ện, cấp tỉnh sang ngạch CHV sơ cấp, trung
cấp, cao cấp.
- Những cơ sở khoa học để xác định các đơn vị thực hiện tuyển chọn
CHV không qua thi tuyển theo tinh thần Nghị quyết của Quốc hội về thi hành
Luật THADS.
- Kinh nghiệm liên quan đến việc tổ chức thi tuyển, thi nâng ngạch
công chức ở trong nước và quốc tế có thể vận dụng vào việc thi tuyển vào
ng
ạch CHV theo quy định của Luật THADS.
V. Quá trình thực hiện Đề án
Quá trình thực hiện Đề án gắn với tiến độ xây dựng, sửa đổi, bổ sung
các văn bản có liên quan hướng dẫn thực hiện Luật THADS, Nghị định số
74/2009/NĐ-CP; quá trình kiện toàn hệ thống tổ chức THADS và quá trình
kiện toàn đội ngũ cán bộ THADS, cụ thể:
1. Thời gian thực hiện:
- Tháng 5-8/2009: Xây dựng đề cương tổng quát, thu th
ập tư liệu, ký
hợp đồng viết chuyên đề nghiên cứu với cộng tác viên.
- Tháng 9/2009: Tổ chức nghiên cứu tại chỗ và tổ chức các buổi tọa
13Phần I

BÁO CÁO PHÚC TRÌNH

14
Chương I
THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC VÀ ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC TRIỂN KHAI
LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008

I. SƠ LƯỢC VỀ TỔ CHỨC CÁN BỘ NGÀNH THI HÀNH ÁN DÂN
SỰ TRƯỚC KHI BAN HÀNH LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1. Về tổ chức bộ máy, cơ chế quản lý THADS
Từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 cho đến khi có Pháp lệnh
THADS năm 1989 là giai đoạn mà tổ chức hoạt động THADS chưa được dựa
trên một văn bản pháp luật chính thức có hiệu lực pháp lý cao do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền ban hành. Công tác THADS đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp
của Toà án. Giai đoạn từ 1945 đến 1950 ở miền Bắ
c, trên cơ sở Sắc lệnh
ngày 10 tháng 10 năm 1945 về việc tạm thời giữ các luật lệ hiện hành
của chế độ cũ với điều kiện những điều khoản trong các luật này “không
trái với nền độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hoà”,

hoạt động THADS chủ yếu vẫn do Thừa phát lại thực hiện. Thừa phát lại do
Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm và quản lý, hành nghề trên cơ sở quy định

phương. Do đó, tình trạng án xét xử xong không được thi hành chiếm tỉ lệ
ngày càng cao trong lượng án phải thi hành hàng năm.
Giai đoạn từ năm 1990 đến trước khi có Pháp lệnh THADS năm 1993,
cơ quan THADS, CHV vẫn thuộc Toà án, do Chánh án Toà án trực tiếp chỉ
đạo về nghiệp vụ và chịu trách nhiệm báo cáo cấp trên về kết quả của hoạt
động thi hành án. Do Tòa án vừa là cơ quan xét xử duy nhất, vừa là c
ơ quan
làm nhiệm vụ thi hành án, dễ dẫn đến việc chưa thực sự bảo đảm tính khách
quan và quá tải trong hoạt động THADS. Giai đoạn từ năm 1993 đến năm
2003, việc Hiến pháp 1992 và các Luật về tổ chức bộ máy được ban hành đã
đặt ra những nguyên tắc, nền tảng cho quá trình cải cách tư pháp, trong đó
công tác THADS được đổi mới một cách cơ bản thông qua việc Quốc hội
thông qua Nghị quy
ết về việc bàn giao công tác thi hành án từ Toà án nhân
dân các cấp sang các cơ quan thuộc Chính phủ. Từ đó, hệ thống các cơ quan
quản lý THADS, cơ quan THADS được hình thành từ Trung ương đến địa
phương trong phạm vi cả nước, hoạt động độc lập, tách khỏi Toà án nhân dân,
tạo điều kiện thuận lợi để toà án tập trung thực hiện chức năng xét xử. Hệ
thống cơ quan quản lý THADS đã được hình thành
ở ba cấp gồm Cục quản lý

16
THADS thuộc Bộ Tư pháp; Phòng quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng;
Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; phòng tư pháp quận,
huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Các cơ quan thi hành án cũng được hình
thành ở hai cấp là Phòng thi hành án thuộc Sở Tư pháp, Đội thi hành án thuộc
Phòng Tư pháp. So với giai đoạn trước đó thì trong giai đoạn này công tác
THADS đã đạt được những kết quả bước đầ
u quan trọng, tạo ra sự chuyển
biến rõ rệt sau nhiều năm trì trệ. Theo kết quả thống kê chưa đầy đủ, từ năm

Xem Báo cáo tổng kết 10 năm công tác thi hành án dân sự (1993-2002) của Bộ Tư pháp.

17
trưởng Bộ Tư pháp); Phòng Tư pháp (cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân
dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quản lý về công tác THADS
trên địa bàn cấp huyện). So với Pháp lệnh THADS năm 1993 thì Pháp lệnh
THADS năm 2004 đã có bước tiến bộ rõ rệt trong việc phân cấp quản lý nhà
nước về THADS, xác định rõ hơn về nội dung quản lý nhà nước về THADS
của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, tạ
o cơ sở pháp
lý để hệ thống các cơ quan này hoạt động có hiệu quả hơn. Tuy nhiên, qua
thực tiễn thực hiện Pháp lệnh THADS năm 2004 cũng cho thấy có những hạn
chế, vướng mắc trong chế định về các cơ quan quản lý THADS. Ở một số nơi,
các cấp chính quyền do chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa, vai trò của công tác
thi hành án nên chưa làm tròn trách nhiệm chỉ đạo thực hiệ
n việc tổ chức phối
hợp các cơ quan hữu quan trong việc thi hành án ở địa phương. Việc giao cho
cơ quan tư pháp giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện quản lý nhà nước
về thi hành án ở địa phương cũng chưa hợp lý vì đây không phải là những cơ
quan trực tiếp tổ chức việc thi hành án nên không nắm chắc được các vụ việc
cụ thể, không thể tham mưu kịp thờ
i, đầy đủ cho Uỷ ban nhân dân về những
quy định cần thiết liên quan đến công tác thi hành án.
Cơ quan trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định của Toà án theo
Pháp lệnh THADS năm 2004 bao gồm THADS cấp tỉnh và THADS cấp
huyện. THADS cấp tỉnh có các phòng chuyên môn trực thuộc. Như vậy, so
với Pháp lệnh THADS năm 1993 thì Pháp lệnh THADS năm 2004 đã tạo ra
một bước tiến rõ rệt trong việc nâng cao vị trí, trách nhiệm của cơ quan
THADS. Theo đó, vị thế của cơ quan THADS đựơc nâng cao một bước, độc
lập hơn trong tác nghiệp của mình. Cơ quan THADS không còn là một

chức cơ quan THADS được chặt chẽ từ khâu tuyển dụng cán bộ, bổ nhiệm,
miễn nhiệm, cách chức chức danh CHV, thông qua đó đánh giá đúng năng lực
chuyên môn, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ thi hành án, xây dựng
quy hoạch, đào t
ạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng hợp lý cán bộ, thực hiện các
chế độ khen thưởng, kỷ luật đối với công chức thi hành án được chính xác,
phát huy hiệu quả.
So với Pháp lệnh THADS năm 1993 thì Pháp lệnh THADS năm 2004
về cơ bản vẫn giữ nguyên mô hình tổ chức THADS nhưng quy định rõ hơn
nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện trong quản lý
nhà nướ
c về công tác THADS ở địa phương.

19
Tuy nhiên, cơ chế quản lý THADS theo quy định của Pháp lệnh
THADS năm 2004 cũng còn nhiều hạn chế và còn nhiều quan điểm khác
nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng cần tổ chức các cơ quan THADS theo hệ
thống dọc, độc lập với uỷ ban nhân dân và cơ quan tư pháp địa phương;
Quan điểm thứ hai cho rằng cần phân cấp hẳn công tác thi hành án cho
Uỷ ban nhân dân địa phương đảm nhi
ệm, Bộ Tư pháp chỉ làm chức năng quản
lý nhà nước thuần tuý mà không trực tiếp chỉ đạo cụ thể đối với hoạt động
này;
Quan điểm thứ ba thì đề nghị cơ bản giữ mô hình tổ chức thi hành án
như hiện nay, vừa quản lý theo hệ thống dọc, vừa kết hợp phân cấp hợp lý cho
địa phương.
Ngoài ra, việc quy định cơ chế tham gia củ
a nhiều ngành, nhiều cơ
quan, tổ chức trong công tác thi hành án như hiện nay đã làm cho công tác thi

a phương hỗ trợ thì cũng
không "ổn", Đối với tổ chức cơ quan THADS trên Trung ương có thể là
Tổng cục song dưới đó là mô hình ra sao cho phù hợp, nhưng không thể tách
rời sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền địa phương".
Việc nghiên cứu lịch sử mô hình tổ chức và quản lý THADS ở Việt
Nam với những ưu điểm, hạn chế của từ
ng mô hình thông qua hiệu quả công
tác thi hành án được phản ánh ở tỉ lệ thi hành về việc, về tiền và mức độ hài
lòng của dư luận quần chúng nhân dân đối với công tác THADS có ý nghĩa
quan trọng để từ đó từng bước khắc phục hạn chế, kế thừa và phát triển những
ưu điểm nhằm xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy và cơ chế
quản lý THADS, đáp ứng yêu c
ầu của công cuộc đổi mới xây dựng Nhà nước
pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
2. Về cán bộ, công chức THADS
Vào thời điểm tháng 6/1993, các Toà án địa phương đã tiến hành bàn
giao công tác thi hành án sang các cơ quan thuộc Chính phủ với số lượng biên
chế 1.126 người trong đó có 700 CHV và 426 cán bộ, phần lớn số cán bộ ở
thời điểm bàn giao chưa bảo đảm đủ tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn,
nghi
ệp vụ theo quy định, có nơi không có cán bộ thi hành án để bàn giao.

21
Đến hết năm 2002, qua tổng kết 10 năm công tác THADS cho thấy, cả
nước đã có 61 Phòng thi hành án cấp tỉnh và 631 Đội thi hành án cấp huyện
với tổng biên chế đã thực hiện là 4.357/5183 (trong tổng số 5.183 biên chế
được Chính phủ giao có 682 biên chế mới được bổ sung đầu năm 2003). Đội
ngũ cán bộ thi hành án hiện có 1.920 CHV, trong đó có 306 CHV cấp tỉnh,
1.614 chấp viên cấp huyện và 2.437 cán bộ nghiệp vụ. Đến năm 2008 (nă
m

VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN
SỰ KHI TRIỂN KHAI LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1. Những thuận lợi
1.1. Đường lối, thể chế về THADS ngày càng hoàn thiện và được
quan tâm đúng mức
Xác định rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác THADS, trong
những năm qua Ban cán sự Đảng Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Ban ngành
có liên quan tham mưu trình Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị ban
hành nhiều chủ trương, chính sách về tư pháp (trong đó có công tác THADS),
như: Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khoá
VII (1995), Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khoá VIII (1997), Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính
trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị
quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (2004)
và nhất là trong Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị
về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam đến năm
2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005
của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
Về thể chế THADS: Từ năm 1993 đến nay Bộ Tư pháp đã phối hợp với
các Bộ, ngành có liên quan tham mưu giúp Chính phủ trình Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội và Quốc hội ban hành 03 văn bản pháp lý quan trọng về
công tác
THADS như: Pháp lệnh THADS năm 1993; Pháp lệnh THADS năm 2004.
Đặc biệt đã trình và Quốc hội đã ban hành Luật THADS. Đây là văn bản pháp
lý quan trọng được ban hành nhằm hoàn thiện các quy định về trình tự, thủ
tục thi hành án, xác định rõ địa vị pháp lý của cơ quan thi hành án, quy định
nguyên tắc về hệ thống tổ chức cơ quan THADS, phân định rõ cơ quan quản

quan trọng như tổ chức áp dụng thống nhất pháp luật về THADS trong toàn
quốc, hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo về thi hành
án ; giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý theo ngành dọ
c đối với cơ quan
THADS cấp tỉnh, cấp huyện. Bên cạnh đó, tính chất của các tranh chấp về dân
sự, kinh tế cũng ngày càng phức tạp, số lượng tiền, tài sản phải thi hành án
ngày càng lớn. Vì vậy, cùng với việc xác định rõ hơn vị trí, vai trò của các cơ

24
quan THADS địa phương, Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22 tháng 8
năm 2008 của Chính phủ, Quyết định số 32/2009/QĐ-TTg ngày 02 tháng 3
năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ đã quy định rõ chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và tổ chức của Cục THADS trực thuộc Bộ Tư pháp. Nhờ đó, từ
năm 2004 đến năm 2009, công tác tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp
quản lý tổ
chức, hoạt động THADS của Cục THADS ngày càng đi vào chiều
sâu, chất lượng được nâng lên rõ rệt. Về thể chế, đã tham mưu để Bộ trưởng
Bộ Tư pháp trình cấp có thẩm quyền ban hành Pháp lệnh THADS năm 2004,
Nghị định 164/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2004 của Chính phủ về kê
biên, đấu giá quyền sử dụng đất để đảm bảo thi hành án; Nghị định số
173/2004/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2004 về thủ
tục, cưỡng chế và xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực THADS; Nghị định 50/2005/NĐ-CP ngày 11
tháng 4 năm 2005 về cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS và cán bộ,
công chức làm công tác THADS và một số văn bản hướng dẫn thi hành khác.
Đây là các văn bản quan trọng, bước đầu giải quyết được nhiều vấn đề có liên
quan đến cải cách hành chính trong THADS. Công tác quản lý ngành tiếp tục
được quan tâm chú trọng, góp phần đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng
đối với công tác THADS ở nước ta.
Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp tiếp tục thực hiện nhiệm vụ giúp Ủy ban

quyết dứt điểm. Hoạt động THADS góp phần bảo đảm quyền, lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân, giữ vữ
ng trật tự an toàn xã hội; tạo điều kiện phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà
nước.
Kết quả nêu trên là quan trọng, nhưng so với đòi hỏi của thực tiễn và
yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới thì công tác THADS ở nước ta vẫn còn
nhiều hạn chế, yếu kém, trong đó phải kể đến một vấ
n đề rất lớn đó là chưa
xác định rõ vị thế của các cơ quan thi hành án trong hệ thống các cơ quan
hành chính, tư pháp ở địa phương; đội ngũ lãnh đạo của cơ quan thi hành án,
cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động của cơ quan thi hành án chưa ngang
tầm và chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp, các ngành, đ
oàn thể đã có sự quan
tâm đúng mức về công tác THADS: Hoạt động THADS đã được coi là một
trong các nhiệm vụ chính trị quan trọng, được cấp uỷ Đảng, chính quyền địa
phương quan tâm. Vai trò chỉ đạo tổ chức thi hành án của các cấp chính
quyền địa phương ngày càng được tăng cường, bước đầu hình thành cơ chế
phối hợp giữa các cơ quan hữu quan ở địa phương trong công tác thi hành án.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status