SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GIÚP HỌC SINH LỚP 12 NÂNG CAO NĂNG LỰC VIẾT
ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI TRONG KÌ THI
THPT QUỐC GIA
Người thực hiện: Vũ Thị Cương
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM 2017
1. MỞ ĐẦU…………………………………………………………………...
1.1. Lí do chọn đề tài. ………………………………………………………..
1.2. Mục đích nghiên cứu…………………………………………………….
1.3. Đối tượng nghiên cứu……………………………………………………
1.4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………..
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM……………………………..
2.1. Cơ sở lí luận……………………………………………………………...
2.2. Thực trạng của vấn đề: ...………………………………………………
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề: Giúp học sinh lớp 12
nâng cao năng lực viết đoạn văn nghị luận xã hội…………………………..
2.3.1. Giúp học sinh hiểu rõ khái niệm đoạn văn và đoạn văn nghị luận xã
hội……......……………………………………………………………………
2.3.2. Giúp học sinh nắm vững phạm vi, yêu cầu của viết đoạn văn nghị luận
xã hội ………………………………………………………………………….
7
9
9
9
17
17
19
19
20
21
MỤC LỤC
2
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Thực trạng của việc dạy và học môn văn trong trường phổ thông hiện nay là
một vấn đề đang được ngành giáo dục và cả xã hội quan tâm. Có thể khẳng định,
từ khi tiến hành cải cách chương trình và sách giáo khoa bậc THPT đến nay,
nhiều giáo viên đã rất nỗ lực trong việc dạy - học để mang lại cho học sinh
những phương pháp học Văn tích cực cùng với sự hỗ trợ của các phương tiện
công nghệ thông tin ngày càng hiện đại, giúp các tiết học Văn đạt hiệu quả cao
hơn, song việc học sinh học yếu môn Văn hiện vẫn đang là một tồn tại mà bất cứ
ai quan tâm đến nền giáo dục của nước nhà cũng có thể thấy. Một trong những
nguyên nhân dẫn đến tình trạng là do sự lên ngôi của công nghệ giải trí, kéo theo
công nghệ nghe nhìn, làm văn hóa nghe nhìn chiếm ưu thế, văn hóa đọc bị suy
giảm, dẫn tới học sinh không thích học văn. Một nguyên nhân nữa xuất phát từ
việc con người ngày nay dường như thực dụng hơn trước. Con cái định thi khối
Vì vậy, vấn đề làm thế nào để có thể nâng cao kết quả thi THPT quốc gia
môn Ngữ Văn đặc biệt là nâng cao năng lực viết đoạn văn nghị luận xã hội cho
học sinh lớp 12 thật sự là vấn đề thiết yếu và được quan tâm hàng đầu hiện nay.
Trong quá trình giảng dạy bản thân tôi đã không ngừng học hỏi, tích lũy
kinh nghiệm hay để tìm ra những phương pháp tốt nhất nhằm mục đích nâng cao
chất lượng làm bài của học sinh trong kì thi THPT quốc gia.
Xuất phát từ lí do trên, tôi chọn đề tài “Giúp học sinh lớp 12 nâng cao năng
lực viết đoạn văn nghị luận xã hội trong kì thi Trung học phổ thông quốc gia”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Tôi nghiên cứu đề tài này nhằm:
+ Giúp học sinh lớp 12 có thêm được các kiến thức và kỹ năng cơ bản trong
ôn tập môn Ngữ văn phần viết đoạn văn nghị luận xã hội, giúp các em ôn luyện,
và có các phương pháp tối ưu để làm dạng bài này.
+ Tìm cho mình một phương pháp để tạo ra các phương pháp giảng dạy phù
hợp với đối tượng học sinh nơi mình công tác, tạo ra không khí hứng thú, giúp
các em đạt kết quả cao trong kỳ thi THPT quốc gia 2017 và các năm tiếp theo.
+ Nâng cao chất lượng học tập bộ môn, góp phần nâng cao kết quả trong kì
thi THPT quốc gia sắp tới.
+ Mong muốn được HĐKH các cấp nhận xét, đánh giá, ghi nhận kết quả nỗ
lực của bản thân giúp cho tôi có nhiều động lực mới hoàn thành tốt nhiệm vụ
được giao.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài đi vào nghiên cứu phần Làm văn, cụ thể là
câu 1 viết đoạn nghị luận xã hội ( khoảng 200 chữ) trong cấu trúc đề thi THPT
quốc gia bộ môn Ngữ văn
- Đối tượng áp dụng: học sinh khối 12, cụ thể lớp 12C1, 12C2, 12C5.
- Thời gian áp dụng: giáo viên tiến hành áp dụng đề tài vào các buổi dạy
phụ đạo, bồi dưỡng.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài“Giúp học sinh lớp 12 nâng cao năng lực viết đoạn văn
- Về kĩ năng: Học sinh biết phải nắm được kĩ năng viết đoạn văn nghị luận
xã hội (khoảng 200 chữ): các ý rõ ràng đảm bảo đúng các bước làm bài của văn
nghị luận xã hội; văn viết cần có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, đảm bảo tính liên
kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp. Đó là những kĩ năng cần thiết các
em cần phải nhớ khi làm bài dạng đề văn này.
2.2. Thực trạng của vấn đề
- Việc học của học sinh: Thực tế cho thấy, học sinh hiện nay ít mặn mà với
các môn xã hội, trong đó có môn Văn. Các em học văn chỉ với tính chất đối phó,
ít em có năng khiếu thực sự. Nhiều học sinh vốn kiến thức về các vấn đề xã hội
quá nghèo nàn nên trong quá trình học và làm bài các em gặp rất nhiều khó
khăn, nguyên nhân một phần do các em có lối học thụ động máy móc theo sách
vở, ngại đọc, ngại sưu tầm tài liệu thậm chí còn ngại giao tiếp với những xung
quanh.
- Việc thi cử: Trong cấu trúc đề thi minh họa THPT quốc gia năm 2017
môn Ngữ văn, phần làm văn viết đoạn văn nghị luận xã hội là hoàn toàn mới so
với năm trước, đây là dạng đề đòi hỏi học sinh không chỉ trang bị những kiến
thức phong phú về đời sống mà còn phải nắm vững kĩ năng viết đoạn văn nghị
luận xã hội thì mới có thể làm tốt dạng đề này.
- Trong thực tế giảng dạy: Qua thực tế giảng dạy và qua một số bài kiểm
tra của học sinh lớp 12 khi tôi chưa áp dụng đề tài này, tôi nhận thấy phần viết
đoạn văn nghị luận xã hội học sinh thường mắc phải những lỗi sau: lúng túng
trong việc xác định vấn đề cần nghị luận, các bước làm bài chưa đầy đủ thường
chỉ đi vào bước bàn luận vấn đề, nhiều em viết quá dài so với yêu cầu của đề
bài, thậm chí còn có học sinh viết thành bài văn nghị luận xã hội.
Kết quả khảo sát một số bài kiểm tra của học sinh lớp 12 phần viết đoạn văn
nghị luận xã hội ( câu 2,0 điểm) khi tôi chưa áp dụng đề tài này là:
Lớp
Bài kiểm tra
Điểm 0 – < 1
Điểm 1- < 1,5
12 ( 27,9%)
2 ( 4,7%)
1 ( 2,3%)
Bài số 2
28 ( 65,1%)
14 ( 32,6%)
1 ( 2,3%)
Bài số 3
Bài số 1
27 ( 62,8%)
28 ( 66,7%)
14 ( 32,6%)
13 ( 31%)
2 ( 4,6%)
1 ( 2,3%)
Bài số 2
26 ( 61,9%)
13 ( 31%)
cở sở chung là chủ đề của văn bản. Mỗi đoạn văn trong văn bản có một vai trò
chức năng riêng và được sắp xếp theo một trật tự nhất định: đoạn mở đầu của
văn bản, các đoạn thân bài của văn bản, đoạn kết thúc của văn bản. Mỗi đoạn
văn bản khi tách ra vẫn có tính độc lập tương đối của nó: nội dung của đoạn
tương đối hoàn chỉnh, hình thức của đoạn có một kết cấu nhất định.
Về mặt hình thức, đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh. Sự hoàn chỉnh đó thể
hiện ở những điểm sau: mỗi đoạn văn bao gồm một số câu nằm giữa hai dấu
chấm xuống dòng, có liên kết với nhau về mặt hình thức, thể hiện bằng các phép
liên kết; mỗi đoạn văn khi mở đầu, chữ cái đầu đoạn bao giờ cũng được viết hoa
và viết lùi vào so với các dòng chữ khác trong đoạn.
6
Đây là cách hiểu hợp lí, giúp người đọc nhận diện đoạn văn trong văn bản
một cách nhanh chóng, thuận lợi đồng thời giúp người viết tạo lập đoạn văn một
cách rõ ràng, rành mạch.
2.3.1.2. Khái niệm đoạn văn nghị luận xã hội
Đoạn văn nghị luận xã hội là đoạn văn bàn về một vấn đề xã hội. Vấn đề xã
hội đó có thể là một vấn đề thuộc về tư tưởng, đạo lí của con người hoặc một
hiện tượng đời sống có ý nghĩa xã hội.
2.3.2. Giúp học sinh nắm vững phạm vi, yêu cầu của viết đoạn văn nghị
luận xã hội
2.3.2.1. Phạm vi viết đoạn văn nghị luận xã hội
- Theo cấu trúc đề thi minh họa năm 2017 thì vấn đề nghị luận trong đoạn
văn nghị luận xã hội thường được rút ra từ ngữ liệu đã cho ở phần Đọc hiểu. Bởi
vậy các em có thể linh hoạt sử dụng lí lẽ và dẫn chứng ở trong bài đọc hiểu để
làm bài viết đoạn nghị luận xã hội này.
- Vấn đề cần nghị luận của đoạn văn thường là:
+ Nghị luận về một vấn đề thuộc về tư tưởng đạo lí của con người như: tình
thầy trò, tình bạn, tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước, về lí tưởng
+ Triển khai đúng các bước làm bài của một đoạn văn nghị luận xã hội ( đối
với mỗi loại văn nghị luận xã hội có các bước làm bài khác nhau)
+ Vận dụng kết hợp các thao tác lập luận như giải thích, phân tích, chứng
minh, bình luận, bác bỏ… để bài viết có được sư lập luận chặt chẽ, tăng sức
thuyết phục.
+ Cần lựa chọn hình thức diễn đạt phù hợp cho đoạn văn như diễn dịch, quy
nạp, tổng – phân - hợp…( với dạng văn này nên lựa chọn hình thức diễn đạt diễn
dịch)
+ Diễn đạt cần lưu loát, lí lẽ và dẫn chứng hợp lí, thuyết phục; đảm bảo
được quy tắc chính tả, dùng từ đặt câu.
2.3.3. Giúp học sinh biết vận dụng tốt các thao tác lập luận, hình thức
diễn đạt để viết đoạn văn nghị luận xã hội
- Vì đây là dạng văn nghị luận xã hội nên trước khi hướng dẫn các em viết
bài giáo viên cần hướng dẫn các em ôn tập lại khái niệm về các thao tác lập luận
như: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ, so sánh…; sau đó giáo
viên đưa ra một số ví dụ cụ thể về đoạn văn có sử dụng các thao tác lập luận trên
để các em hiểu rõ hơn. Đồng thời cũng hướng dẫn các em khi viết đoạn văn nghị
luận xã hội cần vận dụng kết hợp các thao tác trên để viết bài.
- Cũng tương tự vậy: giáo viên hướng dẫn học sinh ôn tập lại các khái niệm
về các hình thức diễn đạt như: diễn dịch, quy nạp, song hành, móc xích, tổng –
phân - hợp...; sau đó giáo viên cũng đưa ra một số ví dụ cụ thể về đoạn văn có
sử dụng các hình thức diễn đạt trên để các em hiểu rõ hơn. Và trong bài viết các
em cần lựa chọn một hình thức diễn đạt phù hợp để viết nhưng với kiểu bài viết
đoạn văn nghị luận ( khoảng 200 chữ) này thì các em nên lựa chọn hình thức
diễn đạt diễn dịch là phù hợp nhất.
2.3.4. Giúp học sinh nắm vững các bước viết đoạn văn nghị luận xã hội
2.3.4.1. Đối với dạng đề bàn về một tư tưởng, đạo lí
- Đề bài thường trích một câu trong phần Đọc hiểu để yêu cầu thí sinh bày
tỏ ý kiến, bàn luận. Cũng có những đề bài không trích dẫn văn bản mà trực tiếp
sao phản đối?)
+ Cần phân tách các vế của câu nói để xem xét cặn kẽ, thấu đáo
+ Khi bàn luận, cần có căn cứ khách quan
- Phân tích, chứng minh bằng các dẫn chứng, ví dụ cụ thể ( Biểu hiện
như thế nào?)
Yêu cầu:
+ Phân tích và dẫn ra các ví dụ về những con người và sự việc cụ thể trong
cuộc sống, xã hội, lịch sử… để làm sáng tỏ chân lí mà mình đã giải thích ở phần
trên
+ Có một số cách nêu dẫn chứng: dùng số liệu cụ thể; nêu những tấm gương
điển hình, nổi tiếng; nêu lời nói của một người nổi tiếng…
- Luận bàn mở rộng vấn đề
Yêu cầu:
+ Cần khái quát, khẳng định lại chân lí, mở rộng và nâng cao ý nghĩa của
vấn đề
+ Phê phán những hiện tượng, những biểu hiện đi ngược lại chân lí, phê
phán điểm hạn chế của vấn đề
- Nêu bài học về nhận thức và hành động của bản thân
Yêu cầu:
+ Để rút ra được bài học các em cần trả lời được câu hỏi: Mình cần phải
làm gì?
+ Bài học phải được rút ra từ chính tư tưởng, đạo lí mà đề bài yêu cầu
+ Bài học cần chân thành, giản dị, không sáo rỗng, hình thức
+ Nên rút ra hai bài học: một bài học về nhận thức, một bài học về hành
động
Kết đoạn: Kết luận được vấn đề
2.3.4.2. Đối với dạng đề bàn về một hiện tượng đời sống
- Các hiện tượng đời sống thường được phân làm các loại sau:
+ Các hiện tượng tích cực trong đời sống: tương thân tương ái, tự học thành
tài…
kết các ý, các câu thành một đoạn văn hoàn chỉnh, thống nhất, mà muốn liên kết
tốt thì các em cần ôn lại các phép liên kết.
- Giáo viên cần hướng dẫn ôn tập lại một số phép liên kết như: phép lặp,
phép thế, phép nối, phép đối ...; sau đó giáo viên cần hướng dẫn học sinh chỉ ra
được một số phép liên kết trong một số ví dụ cụ thể để học sinh hiểu rõ hơn và
vận dụng tốt hơn.
2.3.6. Giúp học sinh rèn luyện kĩ năng sử dụng thời gian hợp lí để viết
đoạn văn
- Theo cấu trúc đề thi minh họa năm 2017 của Bộ GD – ĐT môn Ngữ văn
thì thời gian làm bài là 120 phút, căn cứ vào thời gian và số điểm thì câu viết
đoạn văn nghị luận xã hội các em chỉ nên viết trong khoảng 20 - 22 phút, sau đó
dành thời gian 2 phút đọc lại bài viết để có sự sữa chữa bổ sung nếu thấy cần
thiết.
- Căn cứ vào thời gian đó giáo viên cần cho các em ôn luyện một số đề chỉ
viết câu nghị luận xã hội trong khoảng 24 phút để các em tập làm quen, tránh
trường hợp đi thi khi làm bài chỉ sa đà vào một câu mà không còn thời gian để
làm các câu còn lại.
2.3.7. Giáo viên hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức và kĩ năng để
giải một số đề cụ thể
Sau khi trang bị cho các em một số kiến thức và kĩ năng cần thiết về viết
đoạn văn nghị luận xã hội, giáo viên hướng dẫn học sinh giải một số đề cụ thể
để các em được vận dụng và hiểu sâu hơn kĩ năng làm dạng bài này.
10
2.3.7.1. Đối với dạng đề bàn về một tư tưởng, đạo lí
Ví dụ 1: Đề thi minh họa 2017 của Bộ GD - ĐT lần 1
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về câu nói: “ Leo Iên
đỉnh cao là để các em có thể nhìn ngắm thế giới chứ không phải để thế giới
nhận ra các em”.
ta mở rộng thêm kiến thức. Ở tầm cao nhìn ngắm thế giới sẽ rộng hơn, khái quát
và chính xác cao hơn.
Nhìn ngắm thế giới là công việc phải làm hàng ngày nếu muốn tiến bộ, muốn
phát triển bởi cuộc sống không ngừng vận động. Vì vậy, cần coi đó là cái đích
của việc chinh phục những đỉnh cao trong cuộc đời.
+ Vì sao Leo lên đỉnh núi cao là không phải để thế giới nhận ra mình? Nếu
coi việc chinh phục đỉnh cao là để được mọi người ghi nhận là cái đích tối cao,
con người dễ bằng lòng, thỏa mãn với những gì mình có mà không còn ý thức
vươn lên nữa.
11
+ Chứng minh bằng những dẫn chứng cụ thể: Những người xem việc chinh
phục đỉnh cao là để nhìn ngắm thế giới? Rất nhiều những nhà khoa học, những
nhà kinh tế mà mục tiêu của họ đặt ra là để phấn đấu đạt được chứ không phải
để người khác nhìn thấy vai trò, tài năng của họ. Như nhà bác học Ê-đi-xơn,
mục tiêu của ông là thắp sáng lên cho cả thế giới. Ông đặt mục tiêu này để theo
đuổi, cống hiến hết mình cho những điều cao đẹp của cuộc đời chứ không nhằm
khẳng định tên tuổi.
- Bàn luận, mở rộng vấn đề
+ Làm thế nào để leo lên đỉnh cao? Cần trang bị cả về sức khỏe, kiến thức,
kĩ năng; rèn luyện ý chí, nghị lực, lòng kiên trì, quyết tâm cao; khiêm tốn, không
ngừng hoàn thiện bản thân…
+ Cần phê phán những hiện tượng nào? Phê phán những người không biết
đặt ra những đỉnh cao, những mục tiêu cho bản thân; phê phán những người
xem việc chinh phục đỉnh cao chỉ nhằm để khẳng định mình trước thiên hạ mà
không vì mục tiêu chung cho mọi người.
- Bài học về nhận thức và hành động
+ Câu nói định hướng cho chúng ta thái độ đúng đắn trong cuộc sống để
sống và tận hưởng, khám phá trọn vẹn.
+ Cuộc sống bao gồm cả hai yếu tố vật chất và tinh thần, tâm hồn và thể
xác, tuy rằng vật chất quyết định ý thức nhưng ý thức, tinh thần phải thoải mái
mới làm nên những điều tuyệt vời khác.
+ Có niềm tin sẽ tạo ra sức mạnh để vượt qua những khói khăn, trắc trở, vì
cuộc đời không bao giờ lường hết cho ta những hiểm nguy, cuộc sống của chúng
ta luôn trực chờ sự tổn thương nên cần có niềm tin để vượt qua.
+ Có hai cách để hạnh phúc, một là tránh những khó khăn đến với mình, hai
là thay đổi thái độ của bản thân trước những khó khăn đó. Chính thái độ, niềm
tin của chúng ta mới là yếu tố quyết định cuộc sống.
• Biểu hiện của sức mạnh niềm tin trong cuộc đời như thế nào?
+ Luôn lạc quan, yêu đời, không gục ngã trước bất kì khó khăn, thử thách
nào
+ Có ý chí, nghị lực để đối mặt và vượt qua những khó khăn
+ Tỉnh táo để tìm những lời giải cho những bài toán mà cuộc sống đặt ra
cho chúng ta, không rối rắm, mất niềm tin
+ Biết truyền niềm tin, niềm lạc quan cho người khác và cho cộng đồng.
+ Chứng minh bằng những dẫn chứng cụ thể: những tấm gương đã vượt lên
hoàn cảnh và số phận: thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí, những đứa trẻ mồ côi…
- Bàn luận, mở rộng:
+ Niềm tin là sức mạnh để vượt qua những thử thách nhưng không phải chỉ
cần niềm tin là đủ. Niềm tin ấy phải dựa trên những thực lực thực tế. Tin vào
điều gì đó trống rỗng sẽ càng làm cho chúng ta ảo tưởng vào bản thân mà thôi.
+ Phê phán những người không có niềm tin trong cuộc sống, yếu đuối thụ
động, bất lực trước những khó khăn thử thách…
- Bài học về nhận thức và hành động cho bản thân:
+ Em đã có những niềm tin vào bản thân, gia đình và xã hội như thế nào?
Em đã làm gì để hiện thực hóa niềm tin ấy?
Kết đoạn: Kết luận được vấn đề
Ví dụ 3: Đề thi khảo sát chất lượng kì thi THPT quốc gia năm 2017 của
Sở GD - ĐT Thanh Hóa.
+ Ước mơ hiện diện trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống: từ học tập,
nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất, quản lí xã hội…
+ Chứng minh bằng những câu nói nổi tiếng hoặc những dẫn chứng cụ
thể…
- Bàn luận, mở rộng:
+ Thực tế cho thấy có nhiều cách thức để chinh phục, thực hiện những
mong ước như tự thân, tương tác trí tuệ tập thể…
+ Phê phán thói dựa dẫm, ỉ lại, thụ động, không có ước mơ, hoài bão…
- Bài học nhận thức và hành động cho bản thân
+ Sống có ước mơ, dám ước mơ và quyết tâm thực hiện ước mơ
+ Tự trọng, tự tin khi thực hiện ước mơ của mình
Kết đoạn: Kết luận được vấn đề
2.3.7.2. Đối với dạng đề bàn về một hiện tượng đời sống
Ví dụ 1:
Nhiều chuyên gia cho rằng sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng
xã hội đang làm lo ngại về sự bùng phát của “ đại dịch ái kỉ” ( bệnh tự yêu
mình) và việc tự chụp ảnh và đếm “ like” cho những thông tin của mình trên
những trang mạng xã hội chỉ làm một biểu hiện.
Hãy viết 01 đoạn văn ( khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về
hiện tượng được nêu trong ý kiến trên.
Bài làm cần đảm bảo các yêu cầu sau:
* Yêu cầu về hình thức:
- Viết đúng 01 đoạn văn, khoảng 200 chữ
- Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận: có phần mở đoạn, phần phát triển
đoạn, phần kết đoạn.
- Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác
lập luận; lựa chọn hình thức diễn đạt phù hợp.
- Trình bày rõ ràng, mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu…
* Yêu cầu về nội dung: Học sinh có thể làm theo nhiều cách khác nhau
nhưng cần đảm bảo các nội dung sau
nhận thức đúng đắn, dẫn đến tình trạng lạm dụng.
+ Ngoài ra, do cha mẹ ít có thời gian quan tâm, để ý đến con cái nên không
quản lí được thời gian sử dụng mạng xã hội của con cái.
- Giải pháp:
+ Mỗi cá nhân cần ý thức được ranh giới ảo và thực tế để cân bằng cuộc
sống.
+ Gia đình, nhà trường và xã hội cần có những biện pháp hỗ trợ, giúp
đỡ,định hướng cho các thành viên trong cộng đồng, nhất là giới trẻ để mỗi cá
nhân
có cuộc sống thật lành mạnh, hài hòa với xã hội.
- Bài học về nhận thức và hành động cho bản thân
+ Cần nhận thức được đây là hiện tượng tiêu cực do mạng xã hội gây ra
để từ đó lựa chọn cho mình một cách sống phù hợp…
Kết đoạn: Kết luận được vấn đề
Ví dụ 2:
Gần đây trên các phương tiện thông tin đại chúng liên tục thông tin về
các vụ việc nhiều học sinh, sinh viên bị bạn tổ chức đánh hội đồng như ở TP
HCM, Hà Nội, Nghệ An, Thanh Hóa… để lại những hậu quả nghiêm trọng. Vậy
là một học sinh, anh/ chị có suy nghĩ gì về vấn đề bạo lực học đường đang có xu
hướng gia tăng như hiện nay? ( Hãy viết 01 đoạn văn khoảng 200 chữ)
15
Bài làm cần đảm bảo các yêu cầu sau:
* Yêu cầu về hình thức:
- Viết đúng 01 đoạn văn, khoảng 200 chữ
- Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận: có phần mở đoạn, phần phát triển
đoạn, phần kết đoạn.
- Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác
lập luận; lựa chọn hình thức diễn đạt phù hợp.
thức văn hóa; và một phần do xã hội thờ ơ, dửng dưng, buông xuôi chưa có sự
quan tâm đúng mức, những giải pháp thiết thực, đồng bộ, triệt để.
- Biện pháp:
+ Đối với những người gây ra bạo lực học đường: Cần cố gắng mở rộng,
nâng cao nhận thức gây ra bạo lực là gây ra tội ác, cần có cái nhìn thân thiện,
nhân ái đối với người khác, cần kiểm soát tốt mọi lời nói và hành động của
mình....
16
+ Xã hội cần có những giải pháp đồng bộ, chặt chẽ giáo dục con người
trong gia đình, nhà trường và xã hội, coi trọng giáo dục kĩ năng sống, vươn tới
những điều chân - thiện - mĩ.
+ Có thái độ quyết liệt phê phán răn đe, giáo dục cải tạo, biện pháp trừng
phạt kiên quyết làm gương cho người kác.
- Bài học về nhận thức và hành động của bản thân
+ Có quan điểm nhận thức, hành động đúng đắn, hình thành những quan
niệm sống đẹp…
+ Có cái nhìn thân thiện, nhân ái, bao dung với những người xung quanh…
Kết đoạn: Kết luận được vấn đề
Ví dụ 3:
“Ông trồng chè khoe họ được uống chè từ khu trồng sạch nhà quây riêng
dành cho gia đình, khu còn lại tất nhiên là trà bẩn để bán. Bà bán rau cũng hân
hoan nói nhà mình được ăn rau ở khu trồng sạch, khu nhiều thuốc là để bán.
Ông bán thịt lơn cũng vậy. Nhưng họ không thể cả đời chỉ uống trà, ăn rau hay
ăn thịt, họ uống trà sạch nhưng vẫn phải ăn rau bẩn của kẻ khác, ăn rau nhà
sạch nhưng vẫn ăn thịt bẩn của kẻ khác… Chúng ta đang giết nhau trong khi
cảm thấy an tâm đã bảo vệ được gia đình mình ở một góc nhỏ hẹp hòi…”
(Chia sẻ của Trần Nhất Hoàng - cựu thành viên ban nhạc Bức Tường khi
nhắc đến kỉ niệm về cố nhạc sĩ Trần Lập)
+ Gây nên những bệnh tật nguy hiểm: viêm màng não, bệnh ung thư…
+ Gây tâm lí hoang mang cho người tiêu dùng; gây lũng đoạn thị trường,
ảnh hưởng đến cá nhân doanh nghiệp làm ăn chân chính, gây ảnh hưởng nặng nề
đến nền kinh tế.
- Nguyên nhân:
+ Do lợi nhuận; sự xuống cấp về lương tâm, đạo đức và là biểu hiện của
một trình độ nhận thức hẹp hòi, ích kỉ.
+ Do sự thiếu hiểu biết, tâm lí ham của rẻ của người tiêu dùng đã vô tình
tạo ra nhu cầu tiêu thụ lớn đối với thực phẩm kém chất lượng.
+ Sản xuất, canh tác, gieo trồng trong môi trường bị ô nhiễm trầm trọng từ
đất đai, nguồn nước đến không khí
+ Pháp luật xử lí chưa thật sự nghiêm minh đối với những cá nhân, cơ sở cố
tình tạo ra những thực phẩm bẩn để bán ra cho người tiêu dùng
- Biện pháp:
+ Nâng cao ý thức, tuyên truyền về nhận thức của người sản xuất trong xã
hội về vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm và đảm bảo sức khỏe của người tiêu
dùng
+ Mỗi cá nhân cần tỉnh táo hơn trong việc lựa chọn thực phẩm cho mình và
gia đình
+ Tăng cường kiểm soát, ra những quy định xử phạt các cơ sở sản xuất thực
phẩm bẩn nghiêm minh từ nhà nước.
- Bài học về nhận thức và hành động của bản thân
+ Nhận thức thực phẩm bẩn là một vấn nạn của xã hội, từ đó có những giải
pháp phù hợp để bảo vệ sức khỏe của mình, gia đình và xã hội.
Kết đoạn: Kết luận được vấn đề
2.3.8. Giáo viên nhận xét, đánh giá năng lực viết đoạn văn nghị luận xã
hội của học sinh qua một số bài kiểm tra cụ thể
- Sau khi hướng dẫn học sinh nắm vững kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn
nghị luận xã hội, hướng dẫn học sinh giải một số đề tại lớp và ở nhà, giáo viên
tiến hành cho học sinh kiểm tra một số đề tại lớp câu viết đoạn văn nghị luận
ba khối 10, 11, 12 đặc biệt là học sinh khối 12. Đồng thời sáng kiến cũng có thể
nhân rộng áp dụng cho những trường THPT có nét tương đồng với trường THPT
Yên Định 3.
+ Việc thực hiện giải pháp của sáng kiến đưa ra chắc chắn sẽ góp phần nâng
cao năng lực viết đoạn văn nghị luận xã hội cho học sinh khối 12 trường THPT
Yên Đinh 3. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục môn Ngữ văn nói
chung và từng bước cải thiện tỉ lệ đỗ tốt nghiệp THPT và ĐH - CĐ nói riêng.
Khảo sát kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội qua các bài kiểm tra tại lớp,
tôi đã thu được kết quả như sau: (Phần viết đoạn văn nghị luận xã hội: 2,0 điểm)
Trước khi áp dụng đề tài:
Lớp
Bài kiểm tra
Điểm 0 – < 1
Điểm 1- < 1,5
Điểm 1,5 – 2
( %)
( %)
( %)
12C1:
Bài số 1
31 ( 73,8%)
10 (23,8%)
1( 2,4%)
42 HS
Bài số 2
28 ( 66,7%)
12 ( 28,6%)
2 ( 4,7%)
12C2:
43 HS
14 ( 32,6%)
13 ( 31%)
2 ( 4,6%)
1 ( 2,3%)
Bài số 2
26 ( 61,9%)
13 ( 31%)
3 ( 7,1%)
Bài số 3
25 ( 59,5%)
14 ( 33,3%)
3 ( 7,2%)
Sau khi áp dụng đề tài:
Lớp
Bài kiểm tra
Điểm 0 – < 1
Điểm 1- < 1,5
Điểm 1,5 – 2
Bài số 12
Bài số 10
4 ( 9,5%)
5 (11,6 %)
29 ( 69,0 %)
29 ( 67,5 %)
9( 21,5 %)
9 ( 20,9%)
Bài số 11
4 ( 9,3%)
29( 67,5%)
10 ( 23,2 %)
Bài số 12
Bài số 10
4 ( 9,3%)
4 ( 9,5 %)
28 ( 65,1%)
28 ( 66,7%)
và trò. Học sinh đủ tự tin để giải quyết dạng đề viết đoạn văn nghị luận xã hội
trong đề thi THPT quốc gia. Tất nhiên để giành được điểm cao trong kì thi này
học sinh không chỉ phải làm tốt phần viết đoạn văn mà tất cả các phần trong đề
thi đều phải giải quyết tốt.
Bên cạnh đó vẫn còn một số mặt hạn chế:
- Trong việc ôn tập triển khai đề tài: Bên cạnh những em có khả năng thực
sự, còn nhiều em chưa đáp ứng được kỳ vọng của bản thân và thầy cô. Trong
quá trình học tập các em chưa chịu khó, chưa chăm học, nên kết quả chưa cao.
Bài học kinh nghiệm:
- Việc hướng dẫn học sinh giải dạng đề viết đoạn văn nghị luận xã hội
trong đề thi THPT quốc gia bộ môn Ngữ Văn mang lại kết quả tương đối tốt,
phù hợp với việc đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp thi cử.
- Việc phân dạng bài và hướng dẫn học sinh làm tốt các dạng bài đã giúp
cho giáo viên nắm vững mục tiêu chương trình, từ đó cũng nâng cao chất lượng
giảng dạy môn văn.
20
- Giúp giáo viên không ngừng tìm tòi, sáng tạo, từ đó nhằm nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên để tránh nguy cơ tụt hậu.
- Rèn cho học sinh phương pháp học tập tích cực, chủ động kiến thức dưới
sự hướng dẫn của giáo viên. Học sinh phải có tinh thần học tập nghiêm túc, phải
nhận thức rõ ràng sự khác biệt giữa học để biết và học để thi như thế nào
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Trong cấp học THPT: Các kỳ thi luôn được coi trọng vì nó phản ánh được
chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh, là thước đo để đánh giá sự nỗ
lực, phấn đấu của thầy và trò.
Muốn có kết quả tốt phải bắt đầu từ người thầy trước. Không có học trò dốt,
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ đề luyện thi THPT Quốc gia năm 2017 môn Ngữ văn, Đỗ Ngọc Thống
( chủ biên), NXB Giáo dục Việt Nam.
- Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban chỉ đạo xây dựng chương trình và biên soạn
SGK THPT, Tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn THPT (Tài
liệu tham khảo), Hà Nội, 7/2003, tr.14.
- Đề thi minh họa THPT quốc gia năm 2017 môn Ngữ văn của Bộ GD – ĐT
- Đề thi khảo sát chất lượng kì thi THPT quốc gia năm 2017 của Sở GD – ĐT
Thanh Hóa
- SGK Ngữ văn 12, tập 1, NXB Giáo Dục – Phan Trọng Luận ( Tổng chủ
biên)
- SGV ngữ văn 12, tập 2, NXB Giáo Dục - Phan Trọng Luận ( Tổng chủ
biên)
- Tham khảo các tài liệu từ nguồn Internet
- Tài liệu hội thảo tập huấn: Đổi mới nội dung và phương pháp dạy môn
Ngữ văn…
22
PHỤ LỤC
ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG LÀM BÀI CỦA HỌC SINH: CÂU VIẾT
ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI TRONG CẤU TRÚC ĐỀ THI THPT
QUỐC GIA
I. Trước khi áp dụng đề tài: khảo sát đề số 1, 2, 3 câu viết đoạn văn nghị
luận xã hội ( khoảng 200 chữ).
Ý
Nội dung
Điểm
1 * Giải thích:
0,25
- Giá trị: là một tiêu chuẩn để xem xét một con người đáng quý
đến mức nào về mặt đạo đức, trí tuệ, tài năng…
23
2
3
- Tư tưởng: là quan điểm, suy nghĩ chung tiến bộ đối với hiện
tượng khách quan, với các vấn đề xã hội.
=> Giá trị của chúng ta là ở tư tưởng: nghĩa là vị thế, tầm vóc
của con người trong cuộc sống thể hiện thông qua những suy
nghĩ tiến bộ về hiện thực khách quan hay các vấn đề xã hội mà
người đó cống hiến và để lại.
* Bàn luận, chứng minh:
- Giá trị của con người không nằm ở vật chất mà người đó có
( của cải, đất đai, vóc dáng bê ngoài…)
+ Con người nhỏ bé trước vũ trụ bao la, rộng lớn. Trước không
gian, thời gian mọi thứ về vật chất đều dễ bị biến đổi, tan biến.
+ Đời người hữu hạn, không có ai trường tồn cùng thời gian, vì
vậy mỗi người phải sống sao cho có nghĩa, có ích…
- Giá trị của con người nằm ở tinh thần, tư tưởng, tình cảm tiến
bộ với hiện thực khách quan, với những vấn đề xã hội.
+ Con người có trí tuệ, tư tưởng, ý chí, nghị lực, có sự sáng
Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu trí tuệ thường trực của con người có
cuộc sống trí tuệ. […] Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống
trí tuệ nữa. Và khi không còn nhu cầu đó nữa, thì đời sống tinh thần của con
người nghèo đi, mòn mỏi đi, cuộc sống đạo đức cũng mất luôn nền tảng. Đây là
một câu chuyện nghiêm túc, lâu dài và cần được trao đổi, thảo luận một cách
cũng rất nghiêm túc, lâu dài. Tôi chỉ muốn thử nêu lên ở đây một đề nghị: Tôi
24
đề nghị các tổ chức thanh niên của chúng ta, bên cạnh những sinh hoạt thường
thấy hiện nay, nên có một cuộc vận động đọc sách trong thanh niên cả nước; và
vận động từng nhà gây dựng tủ sách gia đình. Gần đây có một nước đã phát
động phong trào trong toàn quốc mỗi người mỗi ngày đọc lấy 20 dòng sách.
Chúng ta cũng có thể làm như thế, hoặc vận động mỗi người trong mỗi năm đọc
lấy một cuốn sách. Cứ bắt đầu bằng việc rất nhỏ, không quá khó. Việc nhỏ đấy
nhưng rất có thể là việc nhỏ khởi đầu một công cuộc lớn.
( Theo Nguyên Ngọc, Một đề nghị, tạp chí Điện tử Tiasang.com.vn, ngày
19-7-2007)
Hãy viết 01 đoạn văn( khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về
ý kiến được nêu trong đoạn trích ở phần đọc hiểu: “ Đọc sách là sinh hoạt và
nhu cầu trí tuệ thường trực của con người có cuộc sống trí tuệ”.
HƯỚNG DẪN CHẤM :
1. Yêu cầu về hình thức:
- Viết đúng 01 đoạn văn, khoảng 200 chữ
- Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận: có phần mở đoạn, phần phát triển
đoạn, phần kết đoạn.
- Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác
lập luận; lựa chọn hình thức diễn đạt phù hợp.
- Trình bày rõ ràng, mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu…
2. Yêu cầu về nội dung: Học sinh có thể làm theo nhiều cách khác nhau