Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội (khoảng 200 chữ) cho học sinh lớp 12 - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT HÀ TRUNG

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

RÈN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI (KHOẢNG 200 CHỮ)
CHO HỌC SINH LỚP 12

Người thực hiện: Trịnh Thị Giang
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn

THANH HOÁ NĂM 2019


MỤC LỤC


A. MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Nhân loại đang bước vào thời đại công nghệ 4.0 và 5.0 với những bước
chuyển như vũ bão. Hoàn cảnh thời đại ấy vừa là một thách thức, cũng là một cơ
hội để Việt Nam nỗ lực khẳng định mình và vươn tầm “sánh vai với các cường
quốc năm châu” như mong ước lúc sinh thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và để
đáp ứng mục tiêu trọng đại ấy, giáo dục luôn được coi là quốc sách hàng đầu.
Căn cứ vào mục tiêu giáo dục thế kỉ XXI củaTổ chức Giáo dục, Khoa
học và Văn hóa thế giới (Unesco) là: Học để biết, học để làm, học để chung
sống và học để tự khẳng định mình; Luật Giáo dục Việt Nam, năm 2005 đã
khẳng định, mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn

THPTQG cho học sinh khối 12, tôi thấy rõ trách nhiệm của mình trong việc tiếp
cận xu hướng kiểm tra đánh giá mới với những đòi hỏi mới về việc hình thành
và phát triển năng lực, kĩ năng cho học sinh, góp phần giúp các em đạt được kết
quả cao nhất trong kì thi THPTQG. Đó cũng là lý do chính để tôi chọn đề tài cho
3


sáng kiến kinh nghiệm của mình là: “Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã
hội (khoảng 200 chữ) cho học sinh lớp 12”.
II. Mục đích nghiên cứu
1. Đối với học sinh
Giúp các em vận dụng hiệu quả kiến thức và kĩ năng để viết đoạn văn
nghị luận xã hội (khoảng 200 chữ) nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu đổi mới kiểm
tra đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo; góp phần nâng cao kết quả bài thi Ngữ
văn cho các em học sinh 12 trong kì thi THPTQG.
2. Đối với giáo viên
Triển khai đề tài này, bản thân tôi mong muốn cùng các thầy cô giáo khác
giao lưu, học hỏi về kiến thức, phương pháp, đặc biệt là thống nhất quan điểm
về cách viết đoạn văn nghị luận xã hội để có thể trang bị kiến thức, kĩ năng
chuẩn cho học sinh khối 12 vững vàng bước vào kì thi cuối cấp.
III. Đối tượng nghiên cứu
1. Phân môn làm văn trong chương trình Ngữ văn 12, cụ thể là văn nghị
luận xã hội.
2. Cấu trúc một đoạn văn.
3. Cách viết một đoạn văn nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lý hoặc một
hiện tượng đời sống.
4. Học sinh khối 12 - chuẩn bị tham gia kì thi THPTQG 2019.
IV. Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài này, người viết thực hiện các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu hình thành cơ sở lý thuyết.

điểm của toàn bài. Khi đó, đề thi có 1 câu 3 diểm yêu cầu thí sinh viết một bài
nghị luận xã hội (khoảng 600 chữ). Nhưng, từ kì thi THPT Quốc gia năm 2017,
đề thi thay thế việc yêu cầu viết bài văn nghị luận xã hội thành viết đoạn văn với
dung lượng hạn chế (khoảng 200 chữ) chiếm 20% tổng số điểm bài thi. Rõ ràng,
dù thay đổi về tính chất và quy mô trong cấu trúc đề thi, nhưng suốt một thập kỉ
qua, nghị luận xã hội đã có vị trí không thể thay thế trong hệ thống kiến thức và kĩ
năng của học sinh khối 12 nói riêng cũng như trong giáo dục THPT nói chung.
II. Thực trạng vấn đề trước khi viết sáng kiến kinh nghiệm
1. Thuận lợi
- Chương trình thay Sách giáo khoa của Bộ Giáo dục từ năm học 2006 2007 được chuyển tiếp liến mạch từ THCS đến THPT đã giúp các em học sinh
vững vàng tâm lý tiếp cận môn học.
- Đội ngũ giáo viên Ngữ văn nói riêng trong liên tiếp nhiều năm đã được
tham gia các lớp tập huấn thay sách của Sở Giáo dục, sẵn sàng tiếp cận, lĩnh hội
và truyền đạt đúng, đủ và sâu sắc tinh thần đổi mới.
- Cùng với việc bắt đầu thực hiện bộ sách giáo khoa mới, nhiều ấn phẩm
là các công trình nghiên cứu, các tài liệu tham khảo của các chuyên gia đầu
nghành, các nhà giáo nhiều kinh nghiệm và tâm huyết đã kịp thời ra mắt, trở
thành những công cụ hỗ trợ đắc lực cho cả giáo viên và học sinh trong quá trình
dạy và học.
- Với xu hướng phát triển của xã hội hiện đại, nghị luận xã hội tỏ ra có ý
nghĩa thiết thực và đóng vai trò không thể thay thế. Cái hay của dạng văn này là
ở chỗ học sinh chỉ cần nắm được cấu trúc chung rồi vận dụng tri thức, kĩ năng,
vốn sống của bản thân, tự do trình bày suy nghĩ, quan điểm của cá nhân chứ
không phải học thuộc lòng. Chính sự khác biệt này đã khơi gợi sự chủ động,
hứng thú cho học sinh với bài học, cụ thể là với việc rèn kĩ năng viết đoạn văn
nghị luận xã hội.
2. Khó khăn
- Thời lượng chương trình Ngữ văn THPT dành cho văn nghị luận xã hội
ít, ngay trong sách giáo khoa hiện hành, chỉ có hai bài học ở lớp 12 là trực tiếp
cung cấp tri thức và kĩ năng về văn nghị luận xã hội. Tuy nhiên, cả bài học này

dục, dân tộc...
+ Nghị luận về mối quan hệ giữa con với con người trong gia đình và
ngoài xã hội...
- Nghị luận về một hiện tượng đời sống: Là dạng nghị luận có sử dụng các
thao tác lập luận để giúp người đọc hiểu rõ, hiểu đúng, hiểu sâu, về những hiện
tượng đời sống có ý nghĩa xã hội. Cụ thể:
+ Nghị luận về những hiện tượng liên quan đến môi trường sống tự nhiên
của con người
+ Nghị luận về những hiện tượng liên quan đến môi trường sống xã hội
+ Nghị luận về một hiện tượng tích cực/tiêu cực cần biểu dương, lan tỏa
hoặc đáng phê phán, lên án.
2. Khái lược về đoạn văn
2.1. Khái niệm
Đoạn văn là đơn vị trực tiếp để tạo nên văn bản, được quy ước bắt đầu
bằng việc lùi đầu dòng, viết hoa chữ cái đầu tiên, kết thúc bằng dấu ngắt câu,
xuống hàng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh. Đoạn văn thường
do nhiều câu tạo thành. (Trong trường hợp đặc biệt, đoạn văn có thể chỉ gồm
1 câu.)
2.2. Đặc điểm
- Về hình thức: Đoạn văn bắt đầu bằng việc lùi đầu dòng, viết hoa chữ cái
đầu tiên và kết thúc bằng dấu ngắt câu, xuống hàng.
- Về nội dung: Triển khai một tiểu chủ đề nhất định.
2.3. Các kiểu đoạn văn thường gặp
2.3.1. Diễn dịch
Là kiểu đoạn văn trong đó có câu chủ đề mang ý nghĩa khái quát đứng ở
đầu đoạn, các câu còn lại triển khai cụ thể ý của câu chủ đề, bổ sung, làm rõ câu
6


chủ đề. Các câu triển khai được thực hiện bằng một hoặc kết hợp một vài thao

Nam Cao (1917 - 1951), tên khai sinh là Trần Hữu Tri, quê ở làng Đại
Hoàng, phủ Lí Nhân (Nay là xã Hòa Hậu, huyện Lí Nhân) tỉnh Hà Nam. Ông là
một nhà ăn hiện thực xuất sắc với những truyện ngắn, truyện dài chân thực viết
về người nông dân nghèo đói bị vùi dập... Nam Cao được Nhà nước truy tặng
giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 1996.
2.3.4. Móc xích
Ví dụ:
Đọc thơ Nguyễn Trãi, nhiều người đọc khó mà biết có đúng thơ Nguyễn
Trãi không. Đúng là thơ Nguyễn Trãi rồi thì cũng không phải là dễ hiểu đúng.
Lại có khi chữ hiểu đúng mà toàn bài không hiểu. Không hiểu vì không biết
chắc bài thơ được viết ra lúc nào trong cuộc đời nhiều chìm nổi của Nguyễn
Trãi.Cũng một bài thơ, nếu viết năm 1420 thì có một ý nghĩa, nếu viết năm 1430
thì nghĩa khác hẳn.
(Hoài Thanh)
7


I.

2.3.5. Tổng - phân - hợp
Là kiểu đoạn văn có câu mở đầu đoạn nêu ý nghĩa khái quát bậc một, các
câu tiếp theo triển khai cụ thể ý khái quát. Câu kết đoạn là ý khái quát bậc hai,
mang tính chất nâng cao, mở rộng.
Ví dụ:
Lòng đố kị có thể gắn với sự hiếu thắng, một tâm lí muốn chứng tỏ
mình không thua chúng kém bạn, thậm chí hơn người. Tính hiếu thắng có thể
có tác dụng kích thích người ta phấn đấu, cạnh tranh vượt lên người khác, có ý
nghĩa tiến bộ nhất định. Tâm lý đố kị ngược lại, chỉ là sự biến dạng của lòng
hiếu thắng. Đố kị là tâm lí của kẻ thất bại. Động cơ kích thích phấn đấu giảm
sút, mà ý muốn hạ thấp, hãm hại người khác để thỏa mãn lòng ích kỉ tăn lên.

sự phát triển. Nhà văn Gail Sheehy đã khẳng định:
“Nếu không thay đổi thì sẽ không bao giờ phát triển. Nếu không phát
triển thì không phải là cuộc sống. Phát triển đòi hỏi phải tạm thời từ bỏ cảm
giác an toàn. Điều này có nghĩa là phải từ bỏ lối sống quen thuộc nhưng luôn bị
8


II.

hạn chế bởi tính khuôn mẫu, tính an toàn, những điều không bao giờ khiến cuộc
sống của bạn tốt hơn được. Những điều đó sẽ khiến bạn không còn tin tưởng
vào các giá trị khác, mọi mối quan hệ đều không còn ý nghĩa. Nhà văn
Dostoevsky nói: “Tiến thêm một bước, nói thêm một lời là những điều đáng sợ
nhất”. Nhưng trên thực tế, điều ngược lại mới là điều đáng sợ nhất.”
Tôi nghĩ không có gì tồi tệ hơn là cứ sống mãi mãi một cuộc sống trì trệ,
không bao giờ thay đổi và không bao giờ phát triển.
(John C. Maxwell, cách tư duy khác về thành
công, NXB Lao động - Xã hội, 2015, tr. 130)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1: Chỉ ra tác hại của việc không dám từ bỏ lối sống quen thuộc được
nêu trong đoạn trích.
Câu 2: Theo anh/chị, “điều ngược lại” được nói đến trong đoạn trích là gì?
Câu 3: Việc tác giả trích dẫn ý kiến của Gail Sheehy có tác dụng gì?
Câu 4: Anh/chị có cho rằng việc từ bỏ lối sống an toàn, quen thuộc để
phát triển đồng nghĩa với sự liều lĩnh, mạo hiểm không? Vì sao?
Làm văn:
Câu 1 (2.0 điểm):
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết 01 đoạn văn
(khoảng 200 chữ) về điều bản thân cần thay đổi để có thể thành công trong
cuộc sống.

chứng minh cũng rất quan trọng. Nó chứng tỏ mức độ hiểu và sự chủ động xử lý
đề của người viết. Mỗi ý kiến, lí giải, đánh giá đều có thể gắn với thực tiễn đời
sống để chứng minh tính thực tế, chân xác của nó. Để đoạn văn nghị luận xã hội
trở nên sinh động, hấp dẫn, rất cần lựa chọn được dẫn chứng thích hợp, tiêu
biểu. Cần nhấn mạnh, đó phải là những dẫn chứng từ thực tế đời sống, càng xác
thực, cụ thể, càng có sức thuyết phục cao. Cần tránh việc lấy dẫn chứng trong
tác phẩm văn học vì dù tác phẩm văn học có phản ánh thực tế đời sống thì đó
cũng chỉ là sự phản ánh mang chủ quan, cảm tính, hư cấu, tưởng tượng. Hơn
nữa, việc lấy dẫn chứng trong tác phẩm còn có thể làm nhòe ranh giới giữa nghị
luận văn học và nghị luận xã hội.
Việc đưa dẫn chứng lúc nào và đưa như thế nào cũng là vấn đề cần xem
xét, cân nhắc. Vì dung lượng đoạn văn có hạn, tuyệt đối không được kể lể dài
dòng mà nên thuật lại một cách ngắn gọn, nhấn mạnh vào khía cạnh ứng dụng của
dẫn chứng đối với ý cần trình bày. Đưa dẫn chứng cần đúng lúc, đúng chỗ và có
tính mục đích chứ không được tùy tiện. Đưa dẫn chứng nên kèm theo thái độ,
quan điểm đánh giá rõ ràng trên cơ sở lập trường nhân văn và tinh thần vì sự tiến
bộ chung.
* Bước 4: Định hướng kết đoạn:
- Khi liên hệ thực tế, người viết cần có thái độ chân thành và nghiêm túc,
tránh cách nói sáo mòn, gượng ép, giả tạo.
* Bước 5: Viết đoạn văn:
- Khi viết đoạn văn nghị luận xã hội phải đáp ứng cả yêu cầu về hình thức
và nội dung:
+ Về hình thức: Đoạn văn phải được bắt đầu từ chỗ lùi đầu dòng, viết
hoa chũ cái đầu tiên cho đến dấu kết thúc câu, ngắt dòng. Dung lượng đoạn văn
là khoảng 200 chữ, có thể áng chừng trên dưới một gang tay học sinh, việc viết
quá ngắn hoặc quá dài đềukhông nên vì sẽ làm mất điểm.
+ Về nội dung: Đoạn văn phải đáp ứng được các yêu cầu về nội dung như
đã trình bày ở các bước như trên.
* Bước 6: Kiểm tra:

Phù thủy ló ra nhìn:
“Anh mua gì?”
“Tôi muốn mua tình yêu,
Mua hạnh phúc, sự bình yên, tình bạn...”
“Hàng chúng tôi chỉ bán cây non
Còn quả chín, anh phải trồng. Không bán!”
(K. Badjadio Pradip - Thái Bá dịch)
Câu nghị luận xã hội là: Từ nội dung của bài thơ Quán hàng phù thủy ở
phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy
nghĩ của mình về vấn đề: Làm thế nào để có hạnh phúc?
Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện theo các bước sau:
*Bước 1: Tìm hiểu đề:
- Đọc kĩ bài thơ để hiểu được nội dung tư tưởng, đặc biệt chú ý lời nói của
phù thủy ở hai câu cuối bài thơ.
- Kiểu bài: viết đoạn văn về một tư tưởng đạo lý
- Căn cứ vào từ khóa để xác định đúng, trúng vấn đề nghị luận: “Làm thế
nào” tức là đòi hỏi làm rõ về mặt định hướng phương pháp, cách thức, việc làm
để tạo ra hạnh phúc (chứ không quan niệm chung chung về hạnh phúc)
- Các thao tác lập luận sẽ sử dụng: phân tích, bình luận
- Kiểu đoạn văn: Tổng - Phân - Hợp
*Bước 2: Định hướng phần mở đoạn:
- Nêu khái quát nội dung - dẫn câu nói - nêu tinh thần chung của đoạn
trích hoặc trích cụm từ khóa.
Với đề bài này, có thể viết mở đoạn như sau: “Làm thế nào để có được
hạnh phúc?” là câu hỏi luôn thôi thúc mỗi chúng ta tìm lời giải đáp.
*Bước 3: Định hướng thân đoạn:
- Giải thích: Hạnh phúc là gì?
- Bình luận: Nhân tố quyết định hạnh phúc.
11


đang có. Hãy vạch ra mục tiêu ngắn hạn và dài hạn, tất nhiên đó phải là những
mục tiêu tích cực, tốt đẹp, dựa trên năng lực và khao khát của bạn! Hãy không
ngừng trăn trở tìm ra phương pháp và hành động để hoàn thành những mục tiêu
cao đẹp đó! Hãy mở rộng lòng mình, yêu thương và chia sẻ... Làm được như
thế, bạn không những mang lại hạnh phúc cho bản thân mà còn ban tặng hạnh
phúc cho gia đình, xã hội - niềm hạnh phúc đích thực của cuộc đời bạn!
- Đề rèn luyện:
Sau đây là một số đề giáo viên sử dụng trong quá trình rèn luyện cho học sinh:
Đề 1:
I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Bóng đá, kinh tế, văn học, hội hoạ, âm nhạc… không có con đường đi tắt
nào cả. Có nhiều lĩnh vực chúng ta phải đi lại từ đầu vì chặng đường chúng ta
đi vừa qua là chặng đường của không ít những sai lầm. Sai lầm đã nguy hiểm
trong khi chúng ta lại còn ảo tưởng trong chính sự sai lầm của mình thì tồi tệ
12


đến nhường nào. Tôi yêu đội tuyển Việt Nam bây giờ nhưng tôi cũng hiểu đội
tuyển của chúng ta đang ở đâu. Sau những suy nghĩ nghiêm túc, tôi có thể nói
rằng: bóng đá Việt Nam chỉ thực sự mới bắt đầu cho dù sự bắt đầu ấy là vô
cùng ấn tượng. Giống như chúng ta nhận xét một cậu bé có năng khiếu, nhưng
sau đó cậu bé ấy phải học hành, phải rèn luyện và từng bước lớn lên có khi đến
gần hết cuộc đời mới chạm được vào một điều gì đó. Hãy ủng hộ bóng đá hay
bất cứ lĩnh vực nào mà người Việt Nam đang tham dự bằng trái tim rực nóng
nhưng phải nhìn nhận bằng một trí tuệ sâu sắc để khỏi khổ đau vì ảo tưởng.
Đừng tạo ra sức ép vô lý đối với đội tuyển và đừng hỏi vô lý đối với ông
Park Hang Seo trong giải đấu châu lục này. Điều lớn nhất mà ông Park Hang
Seo và đội tuyển Việt Nam (trong đó có U23) làm được là cho chúng ta nhận ra
rằng: sự đào tạo đúng đắn, sự dẫn dắt đúng đắn cùng với sự dâng hiến không



Bởi cuộc đời vốn dĩ chẳng công bằng,
Phải biết vượt khó khăn mà tồn tại.
Ai thành công mà chưa từng thất bại,
Bước sai đường quay lại muộn màng chi.
Hà cớ gì để dạ mãi sân si,
Tự đưa tay mà gạt đi dòng lệ.
Dù biết rằng điều đó làm không dễ,
Nhưng ưu sầu cũng đâu thể đổi thay,
Có những điều cần phải học buông tay,
Vì bản thân một ngày mai tươi sáng.
Nước mắt rơi lâu ngày rồi cũng cạn,
Mây có mù vẫn phiêu lãng bay xa,
Nên chớ buồn về những thứ đã qua,
Vì niềm vui chính là nơi phía trước.
Bởi thời gian chẳng bao giờ chảy ngược,
Đừng biến mình thành nhu nhược nhé ai.
(Thơ Trần Tùng - nguồn Internet)
Câu 1: Xác định hai phương thức biểu đạt chính trong bài thơ trên.
Câu 2: Theo tác giả có những cách nào để “vượt lên khó khăn mà tồn tại”.
Câu 3: Vì sao tác giả nói “Đừng tự làm trái tim mình thương tổn”?
Câu 4: Anh/ chị có đồng tình với quan điểm của tác giả:
“Nên chớ buồn về những thứ đã qua
Vì niềm vui chính là nơi phía trước”?
II. LÀM VĂN (7 điểm):
Câu 1 (2 điểm):
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn
(khoảng 200 chữ) trình bày ý nghĩa của việc biết vượt lên khó khăn trong cuộc sống.
4.2. Kiểu nghị luận về một hiện tượng xã hội

*Bước 1: Tìm hiểu đề:
- Đọc kĩ văn bản, hiểu đượ nội dung chính là đề cập tới hiện tượng rác
thải điện tử ngày càng nhiều và trở thành mối nguy hiểm nghiêm trọng đối với
môi trường.
- Kiểu bài: Nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống
- Vấn đề nghị luận: Hạn chế sử dụng các thiết bị công nghệ hiện đại có phải
là cách tốt nhất đề bảo vệ môi trường khỏi sự ô nhiễm của rác thải điện tử không?
- Thao tác lập luận chính: bác bỏ
* Bước 2: Định hướng mở đoạn: Giới thiệu trực tiếp vấn đề nghị luận
* Bước 3: Đinh hướng thân đoạn:
- Bác bỏ quan điểm coi việc hạn chế sử dụng các thiết bị công nghệ hiện
đại là cách tốt nhất đề bảo vệ môi trường khỏi sự ô nhiễm của rác thải điện tử:
+ Trong xã hội hiện đại, sự xuất hiện của các thiết bị công nghệ điện tử là
tất yếu, nó là một trong những tiêu chí thể hiện trình độ phát triển của nhân loại.
+ Các thiết bị công nghệ điện tử ngày càng trở nên quan trọng và có vị trí
không thể thay thế trong cuộc sống hiện đại.
+ Hạn chế sử dụng các thiết bị công nghệ điển tử sẽ trái với quy luật phát
triển, làm cản trở sự phát triển.
- Đề xuất giải pháp: Làm thế nào để hạn chế tối đa sự nguy hiểm của rác
thải điện tử?
* Bước 4: Định hướng kết đoạn
* Bước 5: Viết đoạn:
* Bước 6: Kiểm tra:
- Lưu ý: Trong thời gian mới bắt đầu, giáo viên cần yêu cầu học sinh thực
hiện đầy đủ, rành rọt từng bước vào tờ giấy kiểm tra hoặc vở. Sau khi luyện một số
đề, đã trở nên thành thục các bước, giáo viên nhắc nhở học sinh rút ngắn thời gian
chuẩn bị này và chuyển ra phác nhanh trên giấy nháp trong vòng 5 phút, còn
khoảng 15 phút dành cho việc viết đoạn. Tổng thời gian làm câu nghị luận xã hội
khoảng 20 phút.
- Đoạn văn tham khảo:

của mình, có đến 75,6% sinh viên cho biết họ ít thỏa mãn với sự lựa chọn của
mình, “vào học rồi mới biết mình không hợp”, 32,4% sinh viên muốn được thi
lại vào năm sau... Kết quả này cho thấy có nhiều bạn trẻ không chọn đúng nghề
như mong muốn.
Những sai lầm chủ quan trong việc lựa chọn ngành học thường bắt đầu từ
quan niệm mang nặng tính thực dụng: Ngành này có dễ xin việc làm, có thu
nhập cao, có được làm việc ở thành phố không?
Sai lầm có thể đến với người chọn nghề theo truyền thống gia đình, theo
sự thành đạt của người thân, theo sự rủ rê của bạn bè... mà không quan tâm đến
sự phù hợp của nghề với năng lực, nguyện vọng của bản thân. Thậm chí, nhiều
thí sinh không tự chọn ngành, chọn nghề để đăng kí thi đại học mà người lựa
chọn, người làm hồ sơ chính là bố mẹ của thí sinh.
Ngoài ra, một sai lầm nữa là chọn nghề hời hợt theo kiểu “nước đến chân
mới nhảy”. Nhiều học sinh đến năm lớp 12 vẫn chưa tìm hiểu và chưa quyết
định chọn nghề. Bởi vậy, có khá nhiều thí sinh nộp 4, 5 bộ hồ sơ, thậm chí có
ngươi đã nộp 9 - 13 bộ để “chống trượt”.
Việc chọn sai nghề khiến bản thân khó phát huy năng lực. Giảm năng
suất và hiệu quả lao động, từ đó dẫn tới tâm lý chán nản, thất vọng, thiếu tự tin,
mất dần động lực làm việc.
Lúc ấy, nếu muốn bắt đầu với nghề khác thì phải chịu tốn kém, mất thời
gian học nghề mới... Đối với xã hội, việc có nhiều cá nhân lựa chọn sai nghề sẽ
gây lãng phí cho công tác đào tạo và đào tạo lại, năng suất lao động không cao,
16


III.

I.

nảy sinh nhiều xáo trộn cho hoạt động của các doanh nghiệp, tổ chức (có nhiều

Đọc một “nội dung sâu sắc” khác với cách đọc “mì ăn liền” của chúng
ta khi lướt qua các trang mạng. Hiện tại, việc thực sự đọc, chìm đắm vào một
nội dung văn học là việc ngày càng hiếm thấy trong đời sống đương đại.
Theo các nhà tâm lí học, việc chú tâm đọc một nội dung sâu sắc có tầm
quan trọng đối với mỗi cá nhân giống như việc người ta cần bảo tồn những
công trình lịch sử hay những tác phẩm nghệ thuật quý giá. Việc thiếu đi thói
quen đọc nghiêm túc sẽ gây ảnh hưởng tới sự phát triển trí tuệ và cảm xúc của
những thế hệ “sống trên mạng”.
(Đọc sách văn học giúp chúng ta thông minh hơn?,
dẫn theo , ngày, 12 - 08 - 2015)
Câu 1: Ghi lại câu nêu ý khái quát của đoạn trích trên.
Câu 2: Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến sau:

17


II.

Theo các nhà tâm lí học, việc chú tâm đọc một nội dung sâu sắc có tầm
quan trọng đối với mỗi cá nhân giống như việc người ta cần bảo tồn những
công trình lịch sử hay những tác phẩm nghệ thuật quý giá.
Câu 3: Dựa vào đoạn trích để giải thích vì sao có thể nói: Việc thiếu đi
thói quen đọc nghiêm túc sẽ gây ảnh hưởng tới sự phát triển trí tuệ và cảm xúc
của những thế hệ “sống trên mạng”.
Câu 4: Từ đoạn trích, anh/chị hãy rút ra 02 bài học cho bản thân.
LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết 01 đoạn văn
(khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến: Hiện tại, việc thực sự
đọc, chìm đắm vào một nội dung văn học là việc ngày càng hiếm thấy trong đời

Khá
SL
Tỉ lệ
9
23 %
10
25%

Trung bình
SL
Tỷ lệ
28
72%
28
70%

Yếu
SL
Tỷ lệ
2
5%
2
5%

Khá
SL
Tỉ lệ
17
44%
16

SL
Tỉ lệ
1
3%
1
3%

Từ thực tế đứng lớp, sau một thời gian áp dụng đề tài, tôi nhận thấy rõ sự
thay đổi tích cực của học sinh: các em đã chú ý và cố gắng hơn trong việc viết
đoạn, đại đa số đã viết đúng hình thức đoạn văn, phần lớn đã đảm bảo được nội
dung cần thiết, có một số em tiến bộ rõ rệt. Khi tiến hành khảo sát, kết quả so
sánh trên càng cho thấy rõ sự tiến bộ của học sinh. Tôi tin rằng, với khoảng thời
gian còn lại, tiếp tục được rèn theo hướng này, các em sẽ vững tâm bước vào kì
thi THPT quốc gia và cải thiện đáng kể kết quả bài thi môn Ngữ văn.

18


C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Với khuôn khổ của một đề tài nhỏ, có đối tượng nghiên cứu và mục đích
cụ thể nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy phân môn Làm văn trong chương
trình ngữ văn THPT, tôi nhận thấy đây là một đề tài có tính thực tiễn cao, dễ áp
dụng, có thể triển khai với nhiều đối tượng học sinh khác nhau. Mặt khác, khi
tiến hành so sánh dễ nhận thấy hiệu quả rõ rệt của đề tài này: Học sinh hứng thú,
chủ động và tích cực tham gia hoạt động dạy - học do giáo viên tổ chức, kiến
thức được tiếp thu một cách hệ thống, đầy đủ, được trang bị phương pháp và rèn
kĩ năng viết đoạn nghị luận xã hội là một kĩ năng cần thiết không chỉ trong kì thi
THPT quốc gia mà cả trong thực tế đời sống. Do đó, người viết mạnh dạn chắp
bút trình bày dưới dạng một sáng kiến kinh nghiệm của bản thân với mong

Bộ đề luyện thi Trung học phổ thông Quốc gia năm 2018 môn Ngữ văn, Đỗ
Ngọc Thống, NXB Giáo dục, 2018.
Bộ đề luyện thi Trung học phổ thông Quốc gia năm 2019 môn Ngữ văn, Đỗ
Ngọc Thống, NXB Giáo dục, 2019.

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status