skkn một vài kinh nghiệm giúp học sinh 12 viết đoạn văn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ hiệu quả - Pdf 44

MỤC LỤC
1. Mở đầu...............................................................................................2
1.1. Lý do chon đề tại..............................................................................2
1.2. Mục đích nghiên cứu........................................................................4
1.3. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................4
1.4. Phương pháp nghiên cứu..................................................................4
1.5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu...........................................................4
2. Nội dung.............................................................................................4
2.1. Cơ sở lý luận....................................................................................4
2.2. Thực trạng........................................................................................6
2.3. Một số kinh nghiệm giúp học sinh viết đoạn văn nghị luận xã hội
hiệu quả………………………………………………………………………7
2.3.1. Kỹ năng phân tích đề.....................................................................7
2.3.2. Xác định mối liên hệ với phần đọc hiểu........................................7
2.3.3. Cách viết đoạn văn và tìm ý..........................................................7
2.3.4. Rèn kĩ năng viết đoạn văn.............................................................9
2.3.5. Tăng cường luyện tập....................................................................10
2.3.6. Cùng chấm bài...............................................................................18
2.4. Kết quả đạt được .............................................................................20
3. Kết luận và kiến nghị........................................................................21
3.1. Kết luận............................................................................................21
3.2. Kiến nghị..........................................................................................21
Danh mục tài liệu tham khảo...............................................................22

1


MỘT VÀI KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH LỚP 12 VIẾT ĐOẠN
VĂN NGHỊ LUẬN KHOẢNG 200 CHỮ ĐẠT HIỆU QUẢ
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài

cũng như xuất phát từ thực tiễn dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông, rèn kĩ
năng làm văn cho học sinh là một công việc quan trọng. Nếu chỉ trang bị kiến
thức mà bỏ qua hoạt động rèn kĩ năng thì cũng giống như việc đã vất vả cày
xới, gieo trồng nhưng rồi lại không quan tâm đến khâu hoàn thiện sản phẩm
và thu hoạch. Cho dù học sinh có kiến thức sâu rộng, mới mẻ đến đâu cũng là
chưa đủ để tạo nên những bài làm tốt. Các em sẽ lúng túng khi làm bài, nhất
là trong bối cảnh Bộ GD&ĐT chủ trương đổi mới phương pháp dạy học, đổi
mới kiểm tra đánh giá các môn khoa học xã hội (trong đó có Ngữ văn) theo
tinh thần “... nâng cao yêu cầu vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tăng cường
ra các câu hỏi mở, gắn với thời sự quê hương đất nước để học sinh được bày
tỏ chính kiến của mình về các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội”. [Theo công
văn Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GDTrH, năm 2013].
Để đáp ứng được mục tiêu dạy học Ngữ văn, nhất là tính hiệu quả khi
ôn tập cho học sinh trước mỗi kì thi; chúng ta cần tập trung hình thành cho
các em hai năng lực cơ bản là: đọc hiểu văn bản và tạo lập văn bản. Điều này
phần nào đã được vận dụng trong cách ra đề thi trung học phổ thông quốc gia
năm 2017 của Bộ giáo dục và đào tạo. Điều đó thể hiện rõ ở câu 1 phần làm
văn có sự gắn kết giữa 2 phần đọc hiểu và làm văn. Đọc hiểu là tiền đề của
làm văn và làm văn là sự biểu hiện một phần nào đó kết quả của việc đọc hiểu
và vận dụng kĩ năng.
Để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn, giúp học sinh
hình thành những năng lực cơ bản, tôi nhận thấy quá trình rèn kĩ năng viết
đoạn văn nghị luận cho học sinh 12 trường THPT là một việc làm cần
thiết.Việc làm này mặc dù chỉ là giải pháp để nâng cao chất lượng dạy học
một dạng bài cụ thể nhưng lại có tác dụng không nhỏ trong việc liên kết chặt
chẽ hai phân môn đọc văn và làm văn; đưa văn học về gần hơn với đời sống;
3


giúp cho học sinh có cái nhìn bao quát, toàn diện về những vấn đề văn học và

vấn đề nào đó. Văn nghị luận là thể văn dùng lí lẽ và dẫn chứng để phân tích
giải quyết một vấn đề”.
Từ điển thuật ngữ văn học cũng nêu rõ: “Văn nghị luận: Thể văn nghị
luận viết về những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác
nhau: chính trị, xã hội, triết học, văn hoá. Mục đích của văn chính luận là
bàn bạc, thảo luận, phê bình hay truyền bá tức thời một tư tưởng, một quan
điểm nào đó. Đặc trưng cơ bản nhất của văn chính luận là tính chất luận
thuyết. Văn chính luận trình bày tư tưởng và thuyết phục người đọc chủ yếu
bằng lập luận, lí lẽ”.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu: văn nghị luận là một loại văn bản nhằm
phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách trực
tiếp về các vấn đề văn học, chính trị, đạo đức, lối sống... và được trình bày
bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn với những lập luận chặt chẽ,
mạch lạc, giàu sức thuyết phục. Đây là loại văn phổ biến trong nhà trường. Vì
văn nghị luận vừa thể hiện năng lực tư duy, lo-gic của người viết; vừa cho
thấy năng lực diễn đạt, trình bày quan điểm riêng một cách thuyết phục. Nội
dung và cấu trúc của một văn bản nghị luận được hình thành từ các yếu tố cơ
bản là: Vấn đề cần nghị luận (luận đề), luận điểm, luận cứ và lập luận (luận
chứng).
Đoạn văn nghị luận là một bộ phận của bài văn. Đoạn văn thể hiện một
chủ đề tương đối trọn vẹn. Nếu như trong một bài văn nghị luận sẽ có nhiều
đoạn văn nghị luận nhằm thể hiện cái nhìn đa chiều cũng như giải quyết vấn
đề một cách trọn vẹn thấu đáo thì ở đây, tuy viết một đoạn văn với giới hạn
200 chữ nhưng cũng phải thể hiện cái nhìn, suy nghĩ, cảm nhận, nhận thức
của học sinh một cách toàn diện, đầy đủ. Như vậy, có thể nói viết đoạn văn
200 chữ về một vấn đề đặt ra trong phần đọc hiểu thực chất là yêu cầu học
sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng làm văn nghị luận để giải quyết một vấn đề

5



Lỗi thường gặp khi viết đoạn văn nghị luận xã hội
Viết thành bài văn
Viết quá dài
Viết quá ngắn

Bài viết đạt yêu

Số lượng

cầu
Số lượng

Tỉ lệ

Số lượng

Tỉ lệ

6

Số lượng

Tỉ lệ

Tỉ lệ


12C1
12C2

8
10
16

26,7%
29,4%
30,7%

Từ thực trạng trên, tôi đặc biệt chú ý đến việc rèn luyện nâng cao kĩ
năng viết đoạn văn nghị luận xã hội cho học sinh. Qua qúa trình giảng dạy
thực tế, tôi hệ thống, rút ra một số kinh nghiệm để rèn luyện kĩ năng viết đoạn
văn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ cho học sinh.
2.3. Một số kinh nghiệm giúp học sinh viết đọan văn nghị luận xã hội
hiệu quả
2.3.1. Kĩ năng phân tích đề
Phân tích đề là một thao tác không thể thiếu trong quá trình làm văn.
Phân tích đề giúp học sinh không những xác định đúng mà còn xác định trúng
vấn đề tránh lạc đề, xa rời đề. Học sinh đọc kĩ đề ra và trả lời câu hỏi đề bàn
về vấn đề gì. Gạch chân từ khóa trong đề ra – từ thể hiện nội dung vấn đề cần
làm sáng tỏ.
2.3.2. Xác định mối liên hệ với phần đọc hiểu
Trong phần đọc hiểu văn bản, học sinh đã tìm hiểu, khám phá, cắt
nghĩa, lí giải nội dung ý nghĩa của văn bản cũng như đã rút ra những thông
điệp, bài học, triết lí cho riêng mình. Đây là cơ sở để từ đó vận dụng giải
quyết một vấn đề trong thực tế đời sống. Phần đọc hiểu gồm 4 câu hỏi được
xây dựng theo các cấp độ: nhận biết, thông hiểu và vận dụng. Thông thường,
câu 3 và câu 4 của phần đọc hiểu có mối liên hệ với câu 1 phần làm văn.
2.3.3. Cách viết đoạn văn và tìm ý
Có nhiều cách để trình bày đoạn văn. Học sinh có thể viết đoạn văn
theo cách diễn dịch, quy nạp, song hành, móc xích hoặc tổng – phân – hợp.

+ Phân tích và chứng minh (thực chất là trả lời câu hỏi vì sao và lấy
một số dẫn chứng tiêu biểu để làm sáng tỏ vấn đề).
+ Bình luận, mở rộng vấn đề: đưa ý kiến, nhận xét của người viết về
vấn đề nghị luận và mở rộng.
+ Bài học nhận thức và hành động (làm gì).
- Phần kết đoạn: nêu đánh giá, cảm nhận chung của người viết, có thể
kết lại bằng một câu thơ, câu nói phù hợp để tạo sự ám ảnh, dư ba.
8


2.3.4. Rèn kĩ năng viết đoạn văn
- Kĩ năng vận dụng các thao tác lập luận: tuy viết một đoạn văn nhưng
để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận học sinh cũng cần vận dụng các thao tác lập
luận (giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận…) để có cái nhìn đầy đủ,
sâu sắc, đúng đắn, đa chiều về vấn đề.
- Kĩ năng vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt với phương thức
biểu đạt chính là nghị luận. Với yêu cầu này, tôi nhấn mạnh cho học sinh
những đặc trưng của văn nghị luận – có luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng bàn bạc về
một vấn đề trong đời sống hoặc văn học nhằm thuyết phục người đọc, người
nghe để tránh lỗi phổ biến là học sinh chỉ diễn xuôi hoặc kể lại.
- Kĩ năng viết phần mở đoạn: phần mở đoạn có vai trò quan trọng, giúp
khai thông mạch văn. Mở đoạn không những nêu được vấn đề nghị luận nên
tránh cho học sinh tình tạng viết lan man, xa rời đề mà còn gợi hứng thú cho
người đọc, tạo sức hấp dẫn cho đoạn văn. Mặt khác, câu mở đoạn cần thể hiện
mối liên hệ với phần đọc hiểu. Học sinh cần rèn luyện để có câu mở đoạn phù
hợp. Phần mở đoạn có thể diễn đạt từ 1 đến 2 câu và nêu được yêu cầu nghị
luận cũng như trích dẫn câu nói, câu thơ nếu có. Học sinh có thể diễn đạt, viết
câu mở đoạn theo một số cách như sau:
+ Nêu xuất xứ của vấn đề nghị luận (tên tác phẩm của tác giả) đã gợi ra
cho ta nhiều suy nghĩ về câu nói/ câu thơ (trích dẫn).

thông tin từ sách, mạng internet. Bởi chỉ có luyện tập học sinh mới có thể tự
biết cách làm, mở rộng vốn hiểu biết, nâng cao năng lực làm văn, rút kinh
nghiệm.
Từ đề ra, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu vấn đề nghị luận, chỉ
ra mối liên kết với phần đọc hiểu viết câu mở đoạn, tìm ý và viết thành đoạn
văn.
Cùng một đề ra, giáo viên cho các học sinh có năng lực khác nhau là
học sinh khá, giỏi và học sinh trung bình lên bảng viết đoạn văn. Sau đó, học
sinh sẽ thảo luận và nhận xét, giáo viên khái quát. Chúng ta dễ nhận thấy,
thông thường học sinh khá giỏi sẽ viết tương đối hoàn thiện. Học sinh trung

10


bình sẽ còn những thiếu sót như bàn luận sơ sài, viết thiếu ý…..Trên cơ sở đó,
học sinh sẽ đối chiếu với đoạn văn của mình để tự hoàn thiện.
Trong quá trình luyện tập, cách thức hiệu quả nhất là giáo viên hướng
dẫn cho học sinh nhận xét, đánh giá bài của bạn để từ đó học hỏi kinh
nghiệm. Mặt khác, giáo viên cũng cần nghiêm khắc trong quá trình luyện tập
của học sinh. Nếu học sinh viết tốt và có tiến bộ cần khích lệ, khen ngợi bằng
điểm số xứng đáng. Nếu học sinh chưa hoàn thành, giáo viên đề nghị học sinh
tiếp tục rèn luyện với ở nhà. Những học sinh viết chưa đáp ứng yêu cầu
chung, trong giờ luyện tập giáo viên sắp xếp lại chỗ ngồi để học sinh ngồi
cùng những học sinh có kĩ năng viết tốt để các em, trao đổi và học hỏi thuận
lợi hơn. Sau đây, tôi đưa ra một số ví dụ đã tiến hành luyện tập trên lớp với
một số đoạn văn học sinh đã viết tương đối hoàn thiện.
Ví dụ 1.
I. Đọc hiểu (3 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
…Cái thú tự học cũng giống cái thú đi chơi bộ ấy. Tự học cũng là một

Câu 4. Thông điệp lớn nhất của phần văn bản trên đối với anh (chị )là
gì?
II. Làm văn (7 điểm)
Câu 1 (2 điểm): Từ thông điệp ở phần văn bản đọc hiểu trên, anh (chị)
hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) đề xuất với nhà trường phổ thông:
xây dựng phong trào đọc sách cho học sinh.
HƯỚNG DẪN
- Vấn đề cần bàn luận: đề xuất với nhà trường phổ thông xây dựng
phong trào đọc sách cho học sinh.
- Mối liên hệ với phần đọc hiểu: thể hiện qua câu 3 “Anh chị hiểu thế
nào…” và câu 4 “Thông điệp có….”. Như vậy, chúng ta có thể thấy đó là sự
gắn kết giữa vai trò ý nghĩa của việc tự học với việc xây dựng phong trào đọc
sách ở nhà trường trung học phổ thông.
12


- Tìm ý: giáo viên hướng dẫn học sinh đặt ra và trả lời các câu hỏi:
+ Là gì?
+ Vì sao?
+ Làm thế nào để xây dựng phong trào đọc sách cho học sinh?
+ Làm gì ?
- Viết phần mở đoạn
Học sinh có thể viết như sau:
Để việc tự học có hiệu quả và góp phần nâng cao chất lượng dạy học,
nhà trường nên xây dựng phong trào đọc sách cho học sinh.
Hoặc: Việc tự học có ý nghĩa vô cùng to lớn với chúng ta. Một trong
những cách tự học hiệu quả là đọc sách nên nhà trường phổ thông cần xây
dựng phong trào đọc sách cho học sinh.
- Viết đoạn văn.
Để việc tự học có hiệu quả và góp phần nâng cao chất lượng dạy học,

Đất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoa
Hoa của đất, người trồng cây dựng cửa
Khi ta đến gõ lên từng cánh cửa
Thì tin yêu ngay thẳng đón ta vào
Ta nghẹn ngào, Đất Nước Việt Nam ơi!...
Ta lớn lên khao khát những chân trời
Những mảnh đất chân mình chưa bén được
Những biển khơi chứa mặt trời đỏ rực
Những ngàn sao trôi miết giữa màu xanh
(Trích Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm, NXB Văn nghệ giải
phóng, 1974, tr.35-36)
Câu 1. Những từ ngữ, hình ảnh nào trong đoạn trích được lấy từ chất
liệu văn học dân gian?
Câu 2. Anh/chị hiểu như thế nào về nội dung câu thơ: “Đất đai cỗi cằn
thì người sẽ nở hoa”?
Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp điệp từ được sử dụng trong bốn câu
thơ cuối đoạn trích.
14


Câu 4. Điều anh/chị tâm đắc nhất trong đoạn trích trên là gì?
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị
về sức mạnh niềm tin trong cuộc sống được gợi ra từ đoạn trích ở phần Đọc
hiểu.
- Vấn đề cần bàn luận: thể hiện qua cụm từ in nghiêng trong đề ra – sức
mạnh niềm tin trong cuộc sống.
- Mối liên hệ với phần đọc hiểu thể hiện qua câu 2, 4.
- Viết câu mở đoạn: học sinh luyện viết, có thể diễn đạt như sau: Đoạn

không ngừng và rèn luyện không ngừng để thấy những điều kì diệu của sức
mạnh niềm tin.
(Bài làm của học sinh)
Ví dụ 3.
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
CẬU BÉ VÀ CÂY SI GIÀ
Bờ ao đầu làng có một cây si già. Thân cây to, cành lá xum xuê, ngả
xuống mặt nước. Một cậu bé đi ngang qua. Sẵn con dao nhọn trong tay, cậu
hí hoáy khắc tên mình lên thân cây. Cây đau điếng, nhưng cố lấy giọng vui
vẻ, hỏi cậu:
– Chào cậu bé. Tên cậu là gì nhỉ?
– Cháu tên là Ngoan.
– Cậu có cái tên mới đẹp làm sao!
Mặt cậu bé rạng lên. Cậu nói:
– Cảm ơn cây.
– Này, vì sao cậu không khắc tên lên người cậu? Như thế có phải tiện
hơn không? – Cây hỏi.
Cậu bé rùng mình, lắc đầu:
– Đau lắm, cháu chịu thôi!
– Vậy, vì sao cậu lại bắt tôi phải nhận cái điều cậu không muốn?
16


(Theo Trần Hồng Thắng)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính.
Câu 2. Anh/Chị hiểu thế nào về câu nói của cậu bé: “Đau lắm, cháu
chịu thôi!”?
Câu 3.Theo anh/chị, cậu bé trong văn bản đã phạm sai lầm gì? Sai lầm
đó thể hiện qua câu nói nào?

buồn, hạnh phúc hay khổ đau. Nếu không muốn nhận phiền muộn thì đừng
làm tổn thương người khác vì có lúc nào đó bạn sẽ ân hận muộn màng. Không
những thế, chỉ biết nghĩ cho mình, gây tổn thương cho người khác sẽ làm mất
giá trị bản thân. Như những vết đinh kia, dù đinh đã gỡ bỏ nhưng dấu vết vẫn
hằn sâu trên đó và và những tổn thương khó mà xóa mờ. Vì vậy hãy cho đi
niềm vui, hạnh phúc. Hãy sống như những đóa hoa tỏa ngát hương thơm cho
đời, cho người và cũng chính là cho mình.
(Bài làm của học sinh)
2.3.6. Cùng chấm bài
Chấm bài là một khâu quan trong của quá trình dạy học. Giáo viên cần
đầu tư thời gian, công sức phù hợp để góp phần nâng cao chất lượng. Giáo
viên xây dựng một thang điểm phù hợp vừa khách quan vừa công khai theo
yêu cầu chung của Bộ giáo dục để học sinh tự đối chiếu và trao đổi rút kinh
nghiệm sau khi viết đoạn văn. Với những yêu cầu chung về kĩ năng kiến thức
đã được cụ thể hóa, học sinh sẽ tự đánh giá được bài viết của mình cũng như
trao đổi, thảo luận với bạn để học hỏi, rút kinh nghiệm hiệu quả hơn. Tôi đã
xây dựng thang điểm cụ thể như sau:
Nếu bài làm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau sẽ đạt điểm tuyệt đối:
STT
1

NỘI DUNG
Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu viết đoạn văn: viết đúng hình thức của đoạn văn,

2

đảm bảo dung lượng (khoảng 2/3 đến 1 trang giấy thi).
Bàn luận về vấn đề logic, mạch lạc, sâu sắc, toàn diện, bộc lộ suy nghĩ đúng

3

Không có phần mở đoạn, hoặc mở đoạn không giới thiệu

Trừ 0.25
Trừ 0.25

5

được vấn đề nghị luận.
Bàn luận vấn đề sơ sài, chưa sâu sắc.

Trừ 0.5

6

Bàn luận chưa trúng vấn đề, lan man.

Trừ 1.0

Với một thang điểm cụ thể, học sinh không những đánh giá được bài
viết của mình mà còn nhận xét được bài của học sinh khác để học hỏi, rút
kinh nghiệm.
Thực tế cho thấy đoạn văn của học sinh viết là vô cùng phong phú. Và
đề ra là đề mở - trình bày suy nghĩ của anh chị về, nên hướng dẫn chấm cũng
cần có độ mở phù hợp. Tôi nhận thấy, những bài làm như sau vẫn đạt điểm
tuyệt đối: về kĩ năng, đáp ứng yêu cầu cơ bản về cách viết đoạn văn, diễn đạt
chính xác hoặc giàu màu sắc văn chương, chữ nghĩa rõ ràng nhưng nội dung
không đầy đủ các ý như trong hướng dẫn chấm mà bàn sâu vào một ý nào đó
hoặc thể hiện quan điểm riêng thấu lí đạt tình.
2.4. Kết quả đạt được
Qua quá trình áp dụng kết hợp những biện pháp trên, tôi thấy học sinh

0%
0%

Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng
3
10%
6
20%
21
5
14,7%
6
17,6%
23
4
10,3%
5
12,8%
30

Tỉ lệ
70%
73,4%
76,9%

Như vậy với kiến thức, kĩ năng được trang bị cùng quá trình luyện tập
vận dụng đã giúp học sinh nâng cao năng lực tạo lập văn bản với định hướng
cho trước. Từ đó, tôi nhận thấy điểm liệt môn ngữ văn ở các lớp tôi phụ trách
tuyệt đối không có. Không những thế, điểm thi ngữ văn còn tương đối cao
góp phần nâng cao tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông và điểm số xét tuyển

2. Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên), Dạy và học nghị luận xã hội, NXB
Giáo dục Việt Nam, 2010.
3. Nhiều tác giả, Những bài làm văn nghị luận xã hội chọn lọc, NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010.

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status