SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT HÀ TRUNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
RÈN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI (KHOẢNG 200 CHỮ)
CHO HỌC SINH LỚP 12
Người thực hiện: Trịnh Thị Giang
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM 2019
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
I. Lý do chọn đề tài.............................................................................................1
II. Mục đích nghiên cứu.....................................................................................2
1. Đối với học sinh..........................................................................................2
2. Đối với giáo viên.........................................................................................2
III. Đối tượng nghiên cứu...................................................................................2
IV. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................2
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM....................................................2
I. Cơ sở lý luận...................................................................................................2
1. Vai trò, vị trí của văn nghị luận xã hội........................................................2
1.1. Trong đời sống....................................................................................2
1.2. Trong nhà trường THPT.....................................................................2
II. Thực trạng vấn đề trước khi viết sáng kiến kinh nghiệm..............................3
để chung sống và học để tự khẳng định mình; Luật Giáo dục Việt Nam,
năm 2005 đã khẳng định, mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học
sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ
năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo,
hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư
cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên
hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng bảo vệ Tổ Quốc.
Theo đó, trong những năm gần đây mục tiêu giáo dục của Việt Nam đã
chuyển từ mục tiêu cung cấp kiến thức là chủ yếu sang mục tiêu hình
thành và phát triển những năng lực và kĩ năng sống cần thiết cho người
học nhằm giúp người học có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và
thách thức của cuộc sống.
Trong xu thế đổi mới, việc dạy và học Ngữ văn nói riêng đã có
những thay đổi đáng kể mà một trong những thay đổi tôi muốn nhấn
mạnh ở đây là sự xuất hiện của văn nghị luận xã hội: Từ năm học 2006 2007, SGK ngữ văn mới được đưa vào sử dụng, kiểu bài nghị luận xã hội
được đưa vào chương trình học chính thức; từ năm 2009, đề thi học kỳ,
Tốt nghiệp THPT, tuyển sinh Đại học Cao đẳng có câu nghị luận xã hội
(chiếm 3 điểm trong tổng số toàn bài).
Theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới và kiểm tra
đánh giá học sinh THPT, bắt đầu từ kì thi THPTQG năm 2017, đề thi Ngữ
văn yêu cẩu học sinh viết đoạn văn nghị luận xã hội (khoảng 200 chữ)
thay cho một bài nghị luận. Những thay đổi này diễn ra trong một thời
gian ngắn, gây khó khăn không nhỏ cho việc dậy và học của giáo viên và
học sinh. Bởi để viết tốt một bài nghị luận xã hội đã khó, có thể nói việc
viết một đoạn văn nghị luận xã hội súc tích trong khuôn khổ cho phép
(khoảng 200 chữ) còn khó hơn. Trong khi đó, SGK chương trình THPT
hiện hành không có bài học dành riêng cho việc hình thành kiến thức và
thực hành viết đoạn văn nghị luận xã hội. Rất nhiều nỗ lực từ phía giáo
viên đã được thể hiện. Tuy nhiên, vì không có tài liệu chính thống, quan
niệm và việc thực hành rèn kĩ năng cho học sinh viết đoạn văn nghị luận
2. Cấu trúc một đoạn văn.
3. Cách viết một đoạn văn nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lý hoặc
một hiện tượng đời sống.
4. Học sinh khối 12 - chuẩn bị tham gia kì thi THPTQG 2019.
IV. Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài này, người viết thực hiện các phương pháp nghiên cứu
sau:
- Phương pháp nghiên cứu hình thành cơ sở lý thuyết.
- Phương pháp khảo sát thực tế.
2
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. Cơ sở lý luận
1. Vai trò, vị trí của văn nghị luận xã hội
1.1. Trong đời sống
Trong xu hướng xã hội hiện đại, nghị luận xã hội ngày càng khẳng
định vị thế quan trọng của nó. Có thể nói, nghị luận xã hội xuất hiện trong
mọi khuôn khổ giao tiếp, từ gia đình, nhà trường đến xã hội. Hằng ngày,
chúng ta dễ dàng bắt gặp việc bày tỏ, bảo vệ quan điểm, chính kiến của cá
nhân về một hiện tượng đời sống hoặc vẫn đề đạo đức, tư tưởng. Trên các
phương tiện thông tin đại chúng, cũng tràn ngập các bài bình luận về mọi
lĩnh vực về chính trị xã hội, kinh tế, văn hóa... Dù tồn tại ở dạng nói hay
dạng viết, nghị luận xã hội luôn thể hiện vai trò thiết yếu trong đời sống
ngày nay. Nó giúp con người có được cái nhìn đầy đủ, khách quan và
khoa học về mọi vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống hằng ngày. Từ
đó, định hướng tích cực cho sự phát triển tư tưởng, tâm hồn, tính cách của
mỗi cá nhân, đáp ứng yêu cầu đổi mới của xã hội.
1.2. Trong nhà trường THPT
- Cùng với việc bắt đầu thực hiện bộ sách giáo khoa mới, nhiều ấn
phẩm là các công trình nghiên cứu, các tài liệu tham khảo của các chuyên
gia đầu nghành, các nhà giáo nhiều kinh nghiệm và tâm huyết đã kịp thời
ra mắt, trở thành những công cụ hỗ trợ đắc lực cho cả giáo viên và học
sinh trong quá trình dạy và học.
- Với xu hướng phát triển của xã hội hiện đại, nghị luận xã hội tỏ ra
có ý nghĩa thiết thực và đóng vai trò không thể thay thế. Cái hay của dạng
văn này là ở chỗ học sinh chỉ cần nắm được cấu trúc chung rồi vận dụng
tri thức, kĩ năng, vốn sống của bản thân, tự do trình bày suy nghĩ, quan
điểm của cá nhân chứ không phải học thuộc lòng. Chính sự khác biệt này
đã khơi gợi sự chủ động, hứng thú cho học sinh với bài học, cụ thể là với
việc rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội.
2. Khó khăn
- Thời lượng chương trình Ngữ văn THPT dành cho văn nghị luận
xã hội ít, ngay trong sách giáo khoa hiện hành, chỉ có hai bài học ở lớp 12
là trực tiếp cung cấp tri thức và kĩ năng về văn nghị luận xã hội. Tuy
nhiên, cả bài học này đều mới chỉ dừng lại ở việc trang bị cho học sinh
kiến thức và kĩ năng để làm hoàn thiện một bài văn chứ chưa có phần
dành cho việc trang bị kiến thức, kĩ năng cho việc viết đoạn văn nghị luận
xã hội. Chính sự vênh lệch giữa bài học với bài thi kiểm tra đánh giá năng
lực học sinh như thế đã gây khó khăn không nhỏ đối với cả việc dậy và
học của giáo viên và học sinh.
- Trong khi chưa có các tài liệu giáo khoa chính thống về đoạn văn
và cách viết đoạn văn nghị luận xã hội thì trên mạng internet lại xuất hiện
tràn lan các đề thi thử, các đoạn văn mẫu, những clip hướng dẫn bí kíp
viết đoạn văn nghị luận xã hội chưa được thẩm định bởi giới chuyên môn.
Điều đáng lo là trong số đó, có không ít những đáp án đề thi thử, những
đoạn văn mẫu, những clip hướng dẫn cách viết đoạn văn nghị luận xã hội
chưa đúng với đặc điểm của đoạn văn. Điều này gây sự hoang mang, sai
lệch cho học sinh trong kiến thức và thực hành viết đúng đoạn văn nghị
lan tỏa hoặc đáng phê phán, lên án.
2. Khái lược về đoạn văn
2.1. Khái niệm
Đoạn văn là đơn vị trực tiếp để tạo nên văn bản, được quy ước
bắt đầu bằng việc lùi đầu dòng, viết hoa chữ cái đầu tiên, kết thúc bằng
dấu ngắt câu, xuống hàng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn
chỉnh. Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành. (Trong trường hợp đặc
biệt, đoạn văn có thể chỉ gồm 1 câu.)
2.2. Đặc điểm
- Về hình thức: Đoạn văn bắt đầu bằng việc lùi đầu dòng, viết hoa
chữ cái đầu tiên và kết thúc bằng dấu ngắt câu, xuống hàng.
- Về nội dung: Triển khai một tiểu chủ đề nhất định.
2.3. Các kiểu đoạn văn thường gặp
2.3.1. Diễn dịch
Là kiểu đoạn văn trong đó có câu chủ đề mang ý nghĩa khái quát
đứng ở đầu đoạn, các câu còn lại triển khai cụ thể ý của câu chủ đề, bổ
sung, làm rõ câu chủ đề. Các câu triển khai được thực hiện bằng một hoặc
kết hợp một vài thao tác sau: giải thích, phân tích, chứng minh, bình
luận...
Ví dụ:
Cái thú tự học cũng giống cái thú đi chơi bộ ấy. Tự học cũng là
một cuộc du lịch, du lịch bằng trí óc, một cuộc du lịch say mê gấp trăm
du lịch bằng chân, vì nó là du lịch trong không gian lẫn thời gian. Những
sự hiểu biết của loài người là một thế giới mênh mông. Kể làm sao hết
5
được những vật hữu hình và vô hình mà ta sẽ thấy trong cuộc du lịch
bằng sách vở?
2.3.4. Móc xích
Ví dụ:
Đọc thơ Nguyễn Trãi, nhiều người đọc khó mà biết có đúng thơ
Nguyễn Trãi không. Đúng là thơ Nguyễn Trãi rồi thì cũng không phải là
dễ hiểu đúng. Lại có khi chữ hiểu đúng mà toàn bài không hiểu. Không
hiểu vì không biết chắc bài thơ được viết ra lúc nào trong cuộc đời nhiều
chìm nổi của Nguyễn Trãi.Cũng một bài thơ, nếu viết năm 1420 thì có
một ý nghĩa, nếu viết năm 1430 thì nghĩa khác hẳn.
(Hoài Thanh)
2.3.5. Tổng - phân - hợp
Là kiểu đoạn văn có câu mở đầu đoạn nêu ý nghĩa khái quát bậc
một, các câu tiếp theo triển khai cụ thể ý khái quát. Câu kết đoạn là ý khái
quát bậc hai, mang tính chất nâng cao, mở rộng.
6
Ví dụ:
Lòng đố kị có thể gắn với sự hiếu thắng, một tâm lí muốn chứng
tỏ mình không thua chúng kém bạn, thậm chí hơn người. Tính hiếu
thắng có thể có tác dụng kích thích người ta phấn đấu, cạnh tranh vượt
lên người khác, có ý nghĩa tiến bộ nhất định. Tâm lý đố kị ngược lại, chỉ
là sự biến dạng của lòng hiếu thắng. Đố kị là tâm lí của kẻ thất bại. Động
cơ kích thích phấn đấu giảm sút, mà ý muốn hạ thấp, hãm hại người khác
để thỏa mãn lòng ích kỉ tăn lên. Phân tích lòng đố kị, nhà triết học Hi Lạp
cổ đại A - ri - xtot đã nói: “Người đố kị sở dĩ cảm thấy dằn vặt đau đớn
không chỉ vì cảm thấy mình thua kém mà còn vì phải nhìn thấy người
khác thành công”. Nhà triết học đã chỉ ra thực chất kẻ đố kị là kẻ
không muốn nhìn thấy người khác thành công.
(Phỏng theo Băng Sơn)
3. Cách viết đoạn văn nghị luận xã hội
“Nếu không thay đổi thì sẽ không bao giờ phát triển. Nếu không
phát triển thì không phải là cuộc sống. Phát triển đòi hỏi phải tạm thời từ
bỏ cảm giác an toàn. Điều này có nghĩa là phải từ bỏ lối sống quen thuộc
nhưng luôn bị hạn chế bởi tính khuôn mẫu, tính an toàn, những điều
không bao giờ khiến cuộc sống của bạn tốt hơn được. Những điều đó sẽ
khiến bạn không còn tin tưởng vào các giá trị khác, mọi mối quan hệ đều
không còn ý nghĩa. Nhà văn Dostoevsky nói: “Tiến thêm một bước, nói
thêm một lời là những điều đáng sợ nhất”. Nhưng trên thực tế, điều
ngược lại mới là điều đáng sợ nhất.”
Tôi nghĩ không có gì tồi tệ hơn là cứ sống mãi mãi một cuộc sống
trì trệ, không bao giờ thay đổi và không bao giờ phát triển.
(John C. Maxwell, cách tư duy khác về thành
công, NXB Lao động - Xã hội, 2015, tr. 130)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1: Chỉ ra tác hại của việc không dám từ bỏ lối sống quen thuộc
được nêu trong đoạn trích.
Câu 2: Theo anh/chị, “điều ngược lại” được nói đến trong đoạn trích
là gì?
Câu 3: Việc tác giả trích dẫn ý kiến của Gail Sheehy có tác dụng
gì?
Câu 4: Anh/chị có cho rằng việc từ bỏ lối sống an toàn, quen thuộc
để phát triển đồng nghĩa với sự liều lĩnh, mạo hiểm không? Vì sao?
II. Làm văn:
Câu 1 (2.0 điểm):
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết 01
đoạn văn (khoảng 200 chữ) về điều bản thân cần thay đổi để có thể
thành công trong cuộc sống.
Như thế, giữa yêu cầu tiếp nhận văn bản và yêu cầu tạo lập văn
lý và liên hệ bản thân để rút ra bài học.
Trong phần thân đoạn, bên cạnh việc cắt nghĩa, lí giải và đánh giá,
khâu chứng minh cũng rất quan trọng. Nó chứng tỏ mức độ hiểu và sự chủ
động xử lý đề của người viết. Mỗi ý kiến, lí giải, đánh giá đều có thể gắn
với thực tiễn đời sống để chứng minh tính thực tế, chân xác của nó. Để
đoạn văn nghị luận xã hội trở nên sinh động, hấp dẫn, rất cần lựa chọn
được dẫn chứng thích hợp, tiêu biểu. Cần nhấn mạnh, đó phải là những
dẫn chứng từ thực tế đời sống, càng xác thực, cụ thể, càng có sức thuyết
phục cao. Cần tránh việc lấy dẫn chứng trong tác phẩm văn học vì dù tác
phẩm văn học có phản ánh thực tế đời sống thì đó cũng chỉ là sự phản ánh
mang chủ quan, cảm tính, hư cấu, tưởng tượng. Hơn nữa, việc lấy dẫn
chứng trong tác phẩm còn có thể làm nhòe ranh giới giữa nghị luận văn
học và nghị luận xã hội.
Việc đưa dẫn chứng lúc nào và đưa như thế nào cũng là vấn đề cần
xem xét, cân nhắc. Vì dung lượng đoạn văn có hạn, tuyệt đối không được
kể lể dài dòng mà nên thuật lại một cách ngắn gọn, nhấn mạnh vào khía
cạnh ứng dụng của dẫn chứng đối với ý cần trình bày. Đưa dẫn chứng cần
đúng lúc, đúng chỗ và có tính mục đích chứ không được tùy tiện. Đưa dẫn
chứng nên kèm theo thái độ, quan điểm đánh giá rõ ràng trên cơ sở lập
trường nhân văn và tinh thần vì sự tiến bộ chung.
* Bước 4: Định hướng kết đoạn:
- Khi liên hệ thực tế, người viết cần có thái độ chân thành và
nghiêm túc, tránh cách nói sáo mòn, gượng ép, giả tạo.
* Bước 5: Viết đoạn văn:
- Khi viết đoạn văn nghị luận xã hội phải đáp ứng cả yêu cầu về
hình thức và nội dung:
+ Về hình thức: Đoạn văn phải được bắt đầu từ chỗ lùi đầu dòng,
viết hoa chũ cái đầu tiên cho đến dấu kết thúc câu, ngắt dòng. Dung lượng
đoạn văn là khoảng 200 chữ, có thể áng chừng trên dưới một gang tay học
sinh, việc viết quá ngắn hoặc quá dài đềukhông nên vì sẽ làm mất điểm.
“Mời vào đây
Ai muốn mua gì cũng có!”
Tôi là khách đầu tiên
Từ bên trong
Phù thủy ló ra nhìn:
“Anh mua gì?”
“Tôi muốn mua tình yêu,
Mua hạnh phúc, sự bình yên, tình bạn...”
“Hàng chúng tôi chỉ bán cây non
Còn quả chín, anh phải trồng. Không bán!”
(K. Badjadio Pradip - Thái Bá dịch)
Câu nghị luận xã hội là: Từ nội dung của bài thơ Quán hàng phù
thủy ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ)
trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề: Làm thế nào để có hạnh phúc?
Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện theo các bước sau:
*Bước 1: Tìm hiểu đề:
- Đọc kĩ bài thơ để hiểu được nội dung tư tưởng, đặc biệt chú ý lời
nói của phù thủy ở hai câu cuối bài thơ.
- Kiểu bài: viết đoạn văn về một tư tưởng đạo lý
10
- Căn cứ vào từ khóa để xác định đúng, trúng vấn đề nghị luận:
“Làm thế nào” tức là đòi hỏi làm rõ về mặt định hướng phương pháp,
cách thức, việc làm để tạo ra hạnh phúc (chứ không quan niệm chung
chung về hạnh phúc)
- Các thao tác lập luận sẽ sử dụng: phân tích, bình luận
- Kiểu đoạn văn: Tổng - Phân - Hợp
*Bước 2: Định hướng phần mở đoạn:
- Nêu khái quát nội dung - dẫn câu nói - nêu tinh thần chung của
tin, bạn mến. Hạnh phúc của người đi làm là hoàn thành công việc, đạt
năng xuất lao động cao... Nghĩa là, niềm hạnh phúc ấy có thể do hoàn
cảnh khách quan mang lại, nhưng về cơ bản, rõ ràng, hạnh phúc chủ yếu
là do chúng ta tự tạo ra hay nói cách khác, hạnh phúc nằm trong tầm tay
của mỗi người. Vì vậy, dù bạn là ai, dù đang làm công việc gì, bạn chính
là người quyết định mình có thể hạnh phúc hay không. Và để sở hữu nó,
đầu tiên bạn cần là biết yêu thương chính mình, biết trân trọng những gì
11
mình đang có. Hãy vạch ra mục tiêu ngắn hạn và dài hạn, tất nhiên đó
phải là những mục tiêu tích cực, tốt đẹp, dựa trên năng lực và khao khát
của bạn! Hãy không ngừng trăn trở tìm ra phương pháp và hành động để
hoàn thành những mục tiêu cao đẹp đó! Hãy mở rộng lòng mình, yêu
thương và chia sẻ... Làm được như thế, bạn không những mang lại hạnh
phúc cho bản thân mà còn ban tặng hạnh phúc cho gia đình, xã hội - niềm
hạnh phúc đích thực của cuộc đời bạn!
- Đề rèn luyện:
Sau đây là một số đề giáo viên sử dụng trong quá trình rèn luyện cho
học sinh:
Đề 1:
I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Bóng đá, kinh tế, văn học, hội hoạ, âm nhạc… không có con đường
đi tắt nào cả. Có nhiều lĩnh vực chúng ta phải đi lại từ đầu vì chặng
đường chúng ta đi vừa qua là chặng đường của không ít những sai lầm.
Sai lầm đã nguy hiểm trong khi chúng ta lại còn ảo tưởng trong chính sự
sai lầm của mình thì tồi tệ đến nhường nào. Tôi yêu đội tuyển Việt Nam
bây giờ nhưng tôi cũng hiểu đội tuyển của chúng ta đang ở đâu. Sau
những suy nghĩ nghiêm túc, tôi có thể nói rằng: bóng đá Việt Nam chỉ
ta, sợ hãi giết chết chúng ta, nông cạn giết chết chúng ta, thù hận giết
chết chúng ta….”.
Câu 4. Thông điệp có ý nghĩa nhất đối với anh/ chị sau khi đọc đoạn
trích?
II. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn
(khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về vai trò của lao động, sáng tạo trong
cuộc sống.
Đề 2:
I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm):
Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi ở dưới:
BƯỚC QUA NIỀM ĐAU
Đừng tự làm trái tim mình thương tổn,
Kẻo tâm hồn bề bộn tựa tơ giăng.
Bởi cuộc đời vốn dĩ chẳng công bằng,
Phải biết vượt khó khăn mà tồn tại.
Ai thành công mà chưa từng thất bại,
Bước sai đường quay lại muộn màng chi.
Hà cớ gì để dạ mãi sân si,
Tự đưa tay mà gạt đi dòng lệ.
Dù biết rằng điều đó làm không dễ,
Nhưng ưu sầu cũng đâu thể đổi thay,
Có những điều cần phải học buông tay,
Vì bản thân một ngày mai tươi sáng.
Nước mắt rơi lâu ngày rồi cũng cạn,
Mây có mù vẫn phiêu lãng bay xa,
Nên chớ buồn về những thứ đã qua,
Vì niềm vui chính là nơi phía trước.
Bởi thời gian chẳng bao giờ chảy ngược,
bẩn đất trồng và nguồn nước ngầm.
Một vấn đề nghiêm trọng.
Khoảng 130 triệu điện thoại di động bị vứt đi mỗi năm. Những thứ
bị vứt đi hằng năm sẽ nhanh chóng nhiều bằng số mua vào. Chúng ta có
khoảng hai tỉ chiếc điện thoại di động trên hành tinh, nhưng đó chỉ là
phần nhỏ của bức tranh. Bây giờ hãy cộng thêm 50 triệu màn hình máy
tính, chúng ta có một đống rác thải mà khi chồng cái nọ lên cái kia, sẽ
vượt qua chiều dài từ trái đất đến vệ tinh xa nhất.
(Elizabeth Roger - Thomas M. Kostigen, Sách xanh,
NXB Thế giới, 2010, tr. 68 - 69)
Câu nghị luận xã hội của đề này là:
Hạn chế sử dụng các thiết bị công nghệ hiện đại có phải là cách tốt
nhất để bảo vệ môi trường khỏi sự ô nhiễm của rác điện tử không?
Viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày quan điểm của
anh/chị.
Với kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống như thế này,
giáo viên hướng dẫn học sinh thực hành như sau:
*Bước 1: Tìm hiểu đề:
- Đọc kĩ văn bản, hiểu đượ nội dung chính là đề cập tới hiện tượng
rác thải điện tử ngày càng nhiều và trở thành mối nguy hiểm nghiêm trọng
đối với môi trường.
- Kiểu bài: Nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống
- Vấn đề nghị luận: Hạn chế sử dụng các thiết bị công nghệ hiện đại
có phải là cách tốt nhất đề bảo vệ môi trường khỏi sự ô nhiễm của rác thải
điện tử không?
- Thao tác lập luận chính: bác bỏ
* Bước 2: Định hướng mở đoạn: Giới thiệu trực tiếp vấn đề nghị
luận
* Bước 3: Đinh hướng thân đoạn:
14
xuất, hiệu quả hơn. Có thể nói, các thiết bị công nghệ điện tử ngày càng trở
nên quan trọng và có vị trí không thể thay thế trong cuộc sống hiện đại. Hạn
chế sử dụng những thiết bị tiên tiến ấy nghĩa là từ chối sự tiến bộ của khoa
học công nghệ, là trái với quy luật phát triển của xã hội loài người. Vậy, làm
thế nào để việc sử dụng rộng rãi, phổ cập các thiết bị không tạo ra lượng
rác điện tử khổng lồ gây ô nhiễm môi trường sống của con người? Đây thực
sự là vấn đề trọng đại và bức thiết, cần sự ra tay của cả cộng động. Trước
tiên là việc nâng cao ý thức sử dụng của người dân, tuyệt đối không vứt bừa
bãi ra môi trường khi thiết bị không còn giá trị sử dụng. Đặc biệt, với các
nhà chuyên môn, cần nghiên cứu để phát minh công nghệ xử lý rác thải điện
tử, có biện pháp thu gom, phân loại, tái chế, tiêu hủy... một cách khoa học.
Đó mới là giải pháp vững bền cho vấn nạn rác thải điện tử.
- Đề rèn luyện:
Sau đây là một số đề giáo viên đã sử dụng để rèn luyện cho học
sinh kĩ năng viết đoạn văn về một hiện tượng đời sống:
Đề 1:
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
15
Theo kết quả khảo sát gần đây của Trung tâm hỗ trợ và tư vấn tâm
lý (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà
Nội), có đến 65,4% sinh viên năm thứ nhất tại một số trường đại học
chưa hiểu hết về mục đích, ý nghĩa của ngành mình học; 50,8% không
biết học xong sẽ làm việc gì và nơi nào tuyển dụng họ. Khi được hỏi về
mức độ thỏa mãn với sự lựa chọn của mình, có đến 75,6% sinh viên cho
biết họ ít thỏa mãn với sự lựa chọn của mình, “vào học rồi mới biết mình
không hợp”, 32,4% sinh viên muốn được thi lại vào năm sau... Kết quả
này cho thấy có nhiều bạn trẻ không chọn đúng nghề như mong muốn.
Những sai lầm chủ quan trong việc lựa chọn ngành học thường bắt
ngành học hoặc công việc trong tương lai.
III. LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm)
16
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết 01 đoạn
văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về ý nghĩa của việc
định hướng nghề nghiệp cho học sinh THPT.
Đề 2:
I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Mới đây, các giáo sư tâm lý học ở Trường Đại học York và Toronto
(Canada) đã tìm ra những bằng chứng để chứng minh rằng: Đọc sách
văn học thực sự giúp con người trở nên thông minh và tốt tính hơn.
Những nghiên cứu của các giáo sư đã cho thấy những người
thường xuyên đọc sách văn học thường có khả năng thấu hiểu, cảm thông
và nhìn nhận sự việc từ nhiều góc độ. Ngược lại, những cá nhân có khả
năng thấu cảm tốt cũng thường lựa chọn sách văn học để đọc.
Sau khi tìm thấy mối liên hệ hai chiều ở đối tượng độc giả là
người lớn, các nhà nghiên cứu tiếp tục tiến hành với trẻ nhỏ và nhận
thấy những điều thú vị, rằng những trẻ được đọc nhiều sách truyện
thường có cách ứng xử ôn hòa, thân thiện hơn, thạm chí trở thành đứa
trẻ được yêu mến nhất trong nhóm bạn.
Đọc một “nội dung sâu sắc” khác với cách đọc “mì ăn liền” của
chúng ta khi lướt qua các trang mạng. Hiện tại, việc thực sự đọc, chìm
đắm vào một nội dung văn học là việc ngày càng hiếm thấy trong đời
sống đương đại.
Theo các nhà tâm lí học, việc chú tâm đọc một nội dung sâu sắc có
- Hình thức và nội dung khảo sát:
+ Giáo viên yêu cầu học sinh 2 lớp viết đoạn văn nghị luận xã hội
cùng 1 đề, cùng thời gian, giáo viên trực tiếp thu bài chấm.
- Kết quả khảo sát:
+ Trước khi áp dụng đề tài:
Lớp
Sĩ số
12K
12M
39
40
Giỏi
SL
Tỉ lệ
0
0%
0
0%
Khá
SL
Tỉ lệ
9
23 %
10
25%
0
0%
+ Sau khi áp dụng đề tài:
Lớp
Sĩ số
12K
12M
39
40
Giỏi
SL
Tỉ lệ
1
3%
1
3%
Khá
SL
Tỉ lệ
17
44%
16
40%
mới kiểm tra đánh giá để kịp thời bổ sung những bài học trang bị kĩ năng
viết đoạn văn nghị luận xã hội, tránh tình trạng học một đằng, thi một nẻo
như hiện nay.
- Trong các lần bồi dưỡng thường xuyên, Sở giáo dục cần chú ý
đúng mức tới việc trang bị kĩ năng ôn luyên thi THPT Quốc gia cho đội
ngũ giáo viên để nâng cao chất lượng cho kì thi này.
Hà Trung, ngày 20 tháng 5 năm 2019
Tôi xin cam đoan, đây là SKKN của bản
thân, không sao chép của người khác.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Người viết
Trịnh Thị Giang
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. SGK Ngữ văn 12 (Tập 1 - Ban cơ bản), NXB Giáo dục, 2007
2. Bộ đề luyện thi Trung học phổ thông Quốc gia năm 2018 môn Ngữ văn, Đỗ
Ngọc Thống, NXB Giáo dục, 2018.
3. Bộ đề luyện thi Trung học phổ thông Quốc gia năm 2019 môn Ngữ văn, Đỗ
Ngọc Thống, NXB Giáo dục, 2019.
20