Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội trong đề thi trung học phổ thông quốc gia - Pdf 51

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ...................
-------------------------

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM DỰ THI

Đề tài:

RÈN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

TRONG ĐỀ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA

Tác giả: ........................
Trình độ chuyên môn: Cử nhân Ngữ văn
Chức vụ: Tổ trưởng tổ chuyên môn
Nơi công tác: Trường THPT ...................

.............., tháng 05 năm 2017
1


THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội trong đề thi Trung học
phổ thông quốc gia
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Phương pháp giảng dạy Ngữ văn
3. Thời gian áp dụng sáng kiến: .
Từ ngày 5 tháng 9 năm 2016 đến ngày 25 tháng 5 năm 2017
4. Tác giả:
Họ và tên: ........................
Năm sinh: 1978
Nơi thường trú:


Giáo viên

3

HS

Học sinh

4

NXB

Nhà xuất bản

5

THPT

Trung học phổ thông

6

Sở GD & ĐT

Sở Giáo dục và Đào tạo

7

ĐH


6

I
II
1.
2

1.3
Rèn kĩ năng viết đoạn nghị luận xã hội.
1.3.1 Rèn kĩ năng viết đoạn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
1.3.2 Rèn kĩ năng viết đoạn nghị luận về một hiện tượng đời sống
1.3.3 Rèn kĩ năng viết đoạn nghị luận về một vấn đề xã hội rút ra từ
một văn bản văn học
1.4
Một số đoạn nghị luận tiêu biểu
2
Phương pháp ôn tập
2.1 Đối với học sinh
2.2 Đối với giáo viên
2.3 Lưu ý trong quá trình biên soạn đề và chấm câu Nghị luận xã
hội
IV
V
VI

Hiệu quả do sáng kiến đem lại
Kiến nghị
Cam kết
TÀI LIỆU THAM KHẢO

2016V/v tổ chức Kỳ thi THPT quốc gia và tuyển sinh ĐH, CĐ hệ chính quy năm 2017,
kì thi Trung học phổ thông quốc gia năm 2017 bao gồm 5 bài thi: Toán, Ngữ văn,
Ngoại ngữ, Khoa học Tự nhiên (tổ hợp các môn Vật lí, Hóa học, Sinh học) và Khoa
học Xã hội (tổ hợp các môn Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân . Các bài thi Toán,
Ngoại ngữ, Khoa học Tự nhiên và Khoa học Xã hội thi theo hình thức trắc nghiệm
khách quan; bài thi Ngữ văn thi theo hình thức tự luận. Đây là sự điều chỉnh lớn về
hình thức so với kì thi Trung học phổ thông quốc gia các năm trước đây.
Riêng môn Ngữ văn, qua nghiên cứu 03 đề minh họa của Bộ Giáo dục và đào
tạo, ta nhận thấy cũng có nhiều điểm mới:
- Thời gian làm bài giảm (từ 180 phút xuống còn 120 phút);
- Số lượng các câu hỏi đọc – hiểu giảm (từ việc đọc 2 văn bản giảm xuống còn 1
văn bản; từ 08 câu giảm xuống còn 4 câu ); tỉ lệ câu hỏi phù hợp;
- Câu nghị luận xã hội: thay vì là một yêu cầu viết một bài văn (600 chữ) bàn về
một vấn đề/ hiện tượng nào đó hoàn toàn độc lập thì đề thi năm nay lại yêu cầu viết
một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về một vấn đề/ hiện tượng lấy ý từ văn bản đọc
hiểu…
- Sự đổi mới ấy khiến cho học sinh có nhiều sự bỡ ngỡ trong cách học, ôn luyện.
Đặc biệt nhất là phần viết đoạn nghị luận xã hội.
Để giúp học sinh có kĩ năng, phương pháp viết đoạn nghị luận xã hội và đạt kết
quả cao ở phần thi này trong bài thi Trung học phổ thông quốc gia, tôi mạnh dạn đề
xuất cách : “Rèn kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội trong đề thi Trung học phổ
thông quốc gia”
II. THỰC TRẠNG
1. Nội dung nghị luận xã hội trong chương trình Ngữ văn
- Mục tiêu giáo dục môn Ngữ văn ở trường phổ thông là: “Hình thành và phát
triển các năng lực cốt lõi và năng lực đặc thù của môn học; đặc biệt là năng lực giao
5


tiếp và năng lực cảm thụ, thưởng thức văn học; bồi dưỡng, nâng cao vốn văn hóa cho

em không biết làm cách nào để đưa ra ý kiến một cách thuyết phục. Nhiều em cứ diễn
đạt quẩn quanh, không thoát ý…
2. Điểm mới trong câu Nghị luận xã hội - Đề thi THPT Quốc gia năm 2017
2.1. Điểm mới
- Theo phương án tổ chức kì thi Trung học phổ thông quốc gia của Bộ Giáo dục
và Đào tạo, bài thi môn Ngữ văn có cấu trúc gồm hai phần: Phần Đọc – hiểu (3,0 điểm)
và phần Làm văn (7,0 điểm). Phần Làm văn có hai câu: một câu nghị luận xã hội và
một câu nghị luận văn học, nhằm kiểm tra năng lực tạo lập văn bản của học sinh.
- So với đề đề hai năm trước, câu Nghị luận xã hội vẫn là phần thi bắt buộc, vẫn
chủ yếu là những câu hỏi dạng mở, nhưng phần thi này năm nay, có một số điểm mới:
Điểm mới
Điểm số
Hình thức
Dung lượng
Vấn đề nghị

Năm 2015, 2016
3,0
Bài văn
600 chữ
Độc lập so với các phần trong đề thi

luận
2.2. Thuận lợi và khó khăn

Năm 2017
2,0
Đoạn văn
200 chữ
Lấy từ văn bản Đọc hiểu (tích

nhau, thậm chí có thể ngược nhau, miễn là có lí, có sức thuyết phục. Như vậy người
viết được lựa chọn thao tác lập luận và tự do bày tỏ quan niệm của mình nhưng quan
niệm ấy phải phù hợp với đạo lí, pháp luật và quan trọng là phải thuyết phục.
+ Dạng đề mở khuyến khích được những suy nghĩ đa dạng, phong phú của nhiều
đối tượng học sinh khác nhau, phân hóa được đối tượng học sinh, người viết khó mà
chép được “văn mẫu”, phải tự mình suy nghĩ và viết ra những ý nghĩ của chính mình…
Chất lượng bài không được đo bởi sự ngắn dài. Quan trọng là học sinh phải viết ngắn
gọn, sáng sủa, trình bày những suy nghĩ, cảm xúc của mình một cách trung thực, chân
thành.
+ Dù là đề mở, nhưng không phải ai thích nói gì thì nói mà cách nói đó phải có lí,
có sức thuyết phục. Dù muốn hay không, bài viết cũng phải nêu lên được cách hiểu và
đưa ra được những ý cơ bản đáp ứng được yêu cầu của đề (vẫn phải có một cái khung
sườn cơ bản)
- Câu nghị luận xã hội trong bài thi THPT quốc gia với dung lượng khoảng 200
chữ và viết dưới hình thức một đoạn văn. Người viết cần nắm chắc những yêu cầu đối
với đoạn văn.
8


- Trong đoạn văn nghị luận xã hội, bên cạnh việc cắt nghĩa, lí giải và đánh giá,
khâu chứng minh rất quan trọng. Nó chứng tỏ mức độ hiểu và sự chủ động trong cách
xử lí vấn đề của người viết. Vì vậy, cần có một hệ thống dẫn chứng thích hợp. Đó là
những dẫn chứng chính xác, khách quan, tiêu biểu, chọn lọc. Vì dung lượng hạn chế
nên việc đưa dẫn chứng cũng cần được xem xét. Không kể lể dài dòng mà nên thuật lại
một cách ngắn gọn, nhấn mạnh vào khía cạnh ứng dụng của dẫn chứng đối với ý trình
bày. Đưa dẫn chứng cần đúng lúc, đúng chỗ và có tính mục đích cao.
- Khi liên hệ thực tế, người viết cần có thái độ chân thành và nghiêm túc, tránh
cách nói sáo mòn, gượng ép, giải tạo…
- Câu Nghị luận xã hội thường yêu cầu học sinh ở ba mức độ tư duy:
+ Mức độ thông hiểu: Giải thích được ý kiến, nhận định.

+ Đoạn quy nạp: Trình bày ý ngược lại với diễn dịch – đi từ cụ thể đến khái
quát. Câu chủ đề nằm ở vị trí cuối đoạn.
+ Đoạn song hành: Mỗi câu trong đoạn nêu một khía cạnh của chủ đề đoạn văn,
các câu triển khái nội dung song song nhau, không bao chứa nhau.
+ Đoạn móc xích: Các ý trong đoạn văn gối đầu, đan xen nhau. Câu sau thường
lặp lại một số từ của câu trước.
+ Đoạn tổng – phân – hợp: Trình bày ý theo trình tự khái quát – cụ thể- tổng hợp
(kết hợp hai cách diễn đạt diễn dịch và quy nạp). câu chủ đề được đặt ở cả hai vị trí mở
đầu và kết thúc. Khi viết đoạn văn tổng – phân – hợp, cần biết cách khái quát, nâng cao
ddeert ránh sự trùng lặp ở hai câu chốt này.
1.2.2. Đoạn văn Nghị luận xã hội
*/ Đoạn văn nghị luận hội là đoạn văn trình bày ý kiến, quan điểm về một vấn
đề xã hội.
*/ Các bước viết đoạn văn nghị luận:
+ Xác định chủ đề: căn cứ yêu cầu của đề bài, xác định rõ chủ đề cần bàn luận
của đoạn văn là gì? Chủ đề cần được giới thiệu trực tiếp, ngắn gọn ở phần mở đoạn
(viết bằng 1-2 câu văn phải nêu được chủ đề của đoạn gồm vấn đề cần nghị luận và
quan điểm của người viết: đồng tình, phản đối hay có ý kiến riêng nào đó).
+ Triển khai ý: chính là triển khai câu chủ đề trong đoạn văn. Nên đặt các câu
hỏi: nghĩa là gì? (dùng thao tác giải thích nếu vấn đề dưới dạng một câu nói; có thể
10


dùng các câu nói, danh ngôn có nội dung tương tự để giải thích) biểu hiện cụ thể của
vấn đề qua hiện tượng đời sống, như thế nào? (nêu dẫn chứng thực tế cuộc sống) mặt
đúng? mặt sai? mặt đáng biểu dương/ phê phán, lí do? Đánh giá gì về hiện tượng/ tư
tưởng đó? Đồng tình ở mặt nào? Vì sao? Phản đối ở khía cạnh nào? Vì sao? Quan điểm
cá nhân là gì? Bài học thấm thía nhất từ vấn đề nghị luận là gì? Khi đã xác định được
chủ đề của đoạn văn, cần vận dụng kiến thức đọc hiểu có liên quan, kĩ năng làm các
dạng nghị luận xã hội để triển khai thành các ý cụ thể, chi tiết. Các ý cần được tổ chức,

=> Viết văn nghị luận là thể hiện sự hiểu biết, nhận thức, khám phá về đối
tượng nghị luận nhằm nâng cao trình độ, năng lực, giúp người khác cùng hiểu và tin
vào vấn đề. Đồng thời người viết cũng thể hiện chính kiến, thái độ, sự đánh giá vấn đề;
đưa ra những điều chỉnh tích cực nhằm nâng cao sự tiến bộ trong lĩnh vực văn học, văn
hóa. Để thực hiện được các mục đích đó, người viết thường vận dụng, kết hợp nhiều
thao tác lập luận.
*/ Các dạng đoạn nghị luận xã hội trong đề thi gồm:
- Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
- Nghị luận về một hiện tượng, đời sống
- Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra từ một văn bản văn học
Tuy nhiên, trong thực tế, có những đề văn nghị luận không hẳn thuộc về một
kiểu nào. Một tư tưởng, đạo lí bất kì nào đó bao giờ cũng được thể hiện soi chiếu sinh
động trong thực tiễn đời sống. Ngược lại, bản thân một hiện tượng đời sống đã chứa
đựng một vấn đề nào đó của tư tưởng, đạo lí. Vì thế, một bài văn nghị luận xã hội chỉ
có sức thuyết phục khi gắn với thực tiễn sinh động của đời sống. Mặt khác, biết suy
nghiệm, khái quát những vấn đề tư tưởng, đạo lí hiện tượng đời sống sẽ giúp đoạn văn
sâu sắc hơn.
1.3. Rèn kĩ năng viết đoạn nghị luận xã hội.
1.3.1. Rèn kĩ năng viết đoạn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
*/ Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc tư tưởng, đạo
đức, lối sống, nhân cách…của con người.
12


- Dạng đề này thường lấy một câu danh ngôn , một nhận định, một đáng giá nào
đó trong văn bản đọc – hiểu để yêu cầu người viết bàn luận.
*/ Cách làm bài:
- Mở đoạn: Giới thiệu khái quát vấn đề cần nghị luận, tóm tắt được sự việc hoặc
trích dẫn được ý kiến nhận định…
- Thân đoạn:

thuộc hàng ngày… Những thứ nhỏ bé này có thể đem đến cho bạn nhiều nguồn cảm
hứng để bắt đầu những trải nghiệm khác to lớn hơn, bắt đầu hành trình lắp ghép cuộc
đời mình bằng những điều mới mẻ và thú vị.
(Không có trải nghiệm, tuổi trẻ không đáng một xu- Phi Tuyết, đăng trên
Facebook của tổ chức cộng đồng Volunteer For Educaition, 07/01/2015)
Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh (chị) về vai
trò của trải nghiệm đối với tuổi trẻ.
Gợi ý làm bài:
*/ Mở đoạn: Nêu vấn đề cần nghị luận: vài trò của trải nghiệm đối với tuổi trẻ.
*/ Thân đoạn
- Giải thích:
Trải nghiệm là tự mình trải qua để có được hiểu biết, kinh nghiệm.
- Bày tỏ ý kiến: Trải nghiệm có vai đặc biệt quan trọng đối với con người, đặc
biệt là tuổi trẻ, vì:
+ Trải nghiệm đem lại hiểu biết và kinh nghiệm thực tế; giúp người trẻ mau
chóng trưởng thành về cách nghĩ, cách sống, bồi đắp tình cảm, tâm hồn, giúp tuổi
trẻ gắn bó và góp phần cống hiến cho cuộc đời.
+ Trải nghiệm giúp tuổi trẻ khám phám phá chính mình để có lựa chọn đường
đời đúng đắn.
+ Trải nghiệm giúp người trẻ dấn thân, thử nghiệm để sáng tạo; biết cách vượt
qua những trở ngại khó khăn, tôi luyện bản lĩnh, ý chí để thành công.
+ Thiếu trải nghiệm cuộc sống của tuổi trẻ sẽ nghèo nàn, thụ động, nhàm chán,
vô ích…
14


+ Lấy dẫn chứng về những người trải nghiệm để chứng minh.
- Bàn mở rộng:
+ Khuyên con người, đặc biệt là những người trẻ cần trải nghiệm để khám phá
cuộc sống và chính mình. Cần tạo điều kiện để tuổi trẻ được trải nghiệm cuộc sống

năm nay vẫn là một chăng? Hóa ra bộ máy người còn bền hơn bộ máy cơ khí ư? Dẫu
mỡ thường xuyên nhỏ vào chiếc máy người là niềm khao khát biết thêm, biết hơn, hoàn
toàn phi vật chất và những tế bào não bộ sẵn lòng bổ sung cho nhau trong một trường
luân vũ thường xuân. Giá như, do một trớ trêu nào đó của hoàn cảnh, tôi đam mê cờ
bạc trong suốt thời gian ấy thì giờ đây ra sao? Rất có thể tôi đang mặc một chiếc áo
ren vàng, rua bạc, rủng rẻng dây kim khí hoặc có thể bây giờ tôi đang co ro vì gió lừa
qua lỗ rách.
May quá, tôi chỉ đam mê nghề dạy học. Tài sản mà tôi để lại gồm toàn giấy
trắng mực đen và những nét chữ.
Đam mê là một ngọn lửa mà các thế hệ nối tiếp truyền cho nhau. Khổ nỗi, phần
phật bốc cao cùng một lúc là ngọn lửa sinh tồn và ngọn lửa hủy diệt. Cả hai quấn quýt
lấy nhau bao nhiêu là để sớm loại trừ nhau bấy nhiêu. Sống chết đều bằng một ngọn
lửa do ta đốt lên mà thôi”.
(Theo Bửu Ý, Tạp chí Tia sáng, tháng 9-1999)
Hãy viết 01 đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) trình bày ý kiến của anh/ chị về
chủ đề: “Đam mê học hỏi là niềm đam mê không bao giờ phản bội con người”
Gợi ý làm bài:
*/ Mở đoạn: Nêu vấn đề cần nghị luận: Tác dụng của đam mê học hỏi.
*/ Thân đoạn
- Giải thích:
+ Đam mê: Sự ham thích một thứ/một việc gì đó mà quên hết những thứ khác.
+ Đam mê học hỏi: Sự ham thích học hỏi
16


=> Tác dung của sự ham thích học hỏi
- Bày tỏ ý kiến: Ý kiến là một lời khuyên quý báu, vì
+ Một người có thể có nhiều đam mê, trong đó có đam mê hữu ích nhưng cũng
có những đam mê hủy hoại con người…
+ Đam mê học hỏi là niềm đam mê cần thiết và rất hữu ích vì:

mình nhưng không cô đơn. Triết gia thế kỷ 19 Henry David Thoreau viết: “Tôi không
cô đơn hơn một cây mao nhị hay bồ công anh trên một đồng cỏ, hay một lá đậu, hay
một cây chua me đất, hay một con mòng, hay một con ong nghệ. Tôi không cô đơn hơn
ngôi sao Bắc Đẩu, hay một ngọn gió nam, hay một cơn mưa tháng tư, hay băng tan
tháng giêng”.
Cuối cùng, một mình không có nghĩa là tách khỏi người khác một cách vật lí.
Một mình là một quan điểm sống, một trạng thái tinh thần độc lập, nó không được đo
bởi khoảng cách vật lí giữa một cá nhân với những người xung quanh. Các ẩn sĩ hiện
đại không cần thiết phải lên núi. Họ vẫn ở trong xã hội, yên lặng, quan sát và tìm hiểu
thế giới. Họ tự do trước những con song của đám đông để có thể quan tâm đến cộng
đồng một cách sâu sắc hơn, đóng góp cho cộng đồng một cách hiểu biết hơn. Vẻ đẹp
của người đứng một mình là vẻ đẹp tự tại, với một niềm vui tự thân. Niềm vui mà như
nhà tu hành David Steindl – Rast diễn tả, không phụ thuộc vào những điều đang xảy
ra.
(Đặng Hoàng Giang, Bức xúc không làm ta vô can, NXB Hội Nhà văn, 2016, tr
79-80)
“Đứng một mình” – nên hay không nên?
Trả lời câu hỏi trên trong một đoạn văn khoảng 200 chữ.
Gợi ý làm bài:
*/ Mở đoạn: Nêu vấn đề cần nghị luận: Sự lựa chọn lối sống – Đứng một mình.
*/ Thân đoạn
18


- Giải thích: “Đứng một mình” là trạng thái tinh thần độc lập, nó không được đo
bởi khoảng cách vật lí giữa một cá nhân với những người xung quanh. Đứng một mình
cũng không phải là tách biệt với xã hội hoặc cố tình tạo ra sự khác biệt nhằm khẳng
định cá nhân một cách cực đoan
- Bày tỏ suy nghĩ:
+ “Đứng một mình” có nhiều ưu điểm song cũng có nhiều hạn chế. Ưu điểm là,

+ Đề xuất những giải pháp khắc phục hiện tượng hoặc nhân rộng hiện tượng
- Kết đoạn: Nêu bài học nhận thức và hành động cho bản thân
*/ Một số đề minh họa:
Đề 1
(1) Chứng ái kỷ, hay còn gọi là bệnh tự yêu mình (tên tiếng Anh: narcissistic
personality disorder) được xem là một dạng rối loạn nhân cách khi một người có biểu
hiện tự cao, ảo tưởng, thiếu đồng cảm với người khác. Các chuyên gia đang cảnh báo
về “đại dịch ái kỷ” sẽ bùng phát nhất là khi công nghệ thông tin bùng nố như hiện nay.
(2) Danny Bowman, 19 tuổi, sống ở Anh, bị nghiện chụp ảnh selfie và có hôm
cậu dành đến 10 tiếng trong ngày để chụp được 200 tấm ảnh của mình trên
iPhone.Cậu luôn giữ điện thoại trong tay để có thể chụp ảnh mình bất cứ lúc nào và
đăng lên Facebook, mong muốn nhận được lời khen từ bạn bè.Tuy nhiên, dù đã thử ở
mọi góc cạnh, Danny nhận ra mình vẫn không có được gương mặt hoàn hảo cho tấm
ảnh hoàn hảo. Thậm chí một số phản hồi còn chê bai cậu.Trong một phút tuyệt vọng,
Danny đã tự tử, nhưng may mắn được mẹ cứu kịp.Tiến sĩ David Veal, một nhà tâm
thần học phụ trách chữa trị cho Danny, cho biết trường hợp của Danny khiến ta không
thể phủ nhận tính nghiêm trọng của vấn đề.“Đây không đơn thuần là sự phù phiếm
nữa. Nó là một căn bệnh tâm lý dẫn tới tỉ lệ tự tử rất cao”.
(3) Việc gắn liền đời sống mình với mạng xã hội không còn xa lạ với giới trẻ
Việt ngày nay. Điều này liệu có góp phần tạo nên một thế hệ trẻ tự yêu mình, ít hòa
nhập với xã hội…?
(Bệnh ái kỉ, nguy cơ tiềm ẩn từ mạng xã hội – Báo điện tử Tinhta.net,24/12/2015)
20


Hãy viết 01 đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về
Chứng ái kỉ của con người trong xã hội hiện đại.
Gợi ý làm bài:
*/ Mở đoạn: Giới thiệu ngắn gọn hiện tượng đời sống cần nghị luận: chứng ái kỉ
*/ Thân đoạn

*/ Kết đoạn: Nêu bài học nhận thức và hành động cho bản thân: Sử dụng trang
mạng xã hội hợp lí. Suy nghĩ chín chắn trước khi Like hay Share những bài viết trên
mạng xã hội...
Đề 3
Đọc bản tin sau:
Cuộc khảo sát bất ngờ của thầy giáo dạy Toán
Trước thực trạng học sinh, sinh viên không đủ kỹ năng sống để ứng phó với
những áp lực xã hội, thầy Trần Đình Trợ, giáo viên Toán trường THPT Hương Sơn
(Hà Tĩnh) đã làm một khảo sát vui với học sinh trong lớp mình chủ nhiệm.
Khảo sát này được thực hiện ở lớp 12A1 trường THPT Hương Sơn, kết quả gồm
6 ý được thầy Trần Đình Trợ chia sẻ trên mạng xã hội như sau:
1. Có 45/45 em đi học bằng xe đạp. Trong đó 3 em phân biệt được líp và đĩa, có 10 em
phân biệt được săm và lốp. Và không có em nào biết sửa xe.
2. Có 41/45 em thường đi qua sông suối. Trong đó chỉ 4 em biết bơi. Số còn lại chỉ biết
lặn, kiểu lặn "xuống nước, ba ngày sau mới nổi".
3. Có 45/45 em thường xuyên ăn cơm. Trong đó chỉ 15 em biết nấu cơm, nhưng trong
15 em biết nấu thì chỉ 5 em thường xuyên nấu cơm cho gia đình. Có 17/45 em thỉnh
thoảng rửa bát.
4. Có 45/45 em nhớ sinh nhật của 3 người bạn thân trở lên. Trong đó, chỉ 4 em là nhớ
ngày sinh của bố mẹ mình.
5. Có 45/45 em đọc sách (nhưng là đọc các sách giáo khoa). Trong đó 5 em có đọc
sách truyện, nhưng lại bị bố mẹ cấm đoán, phải đọc lén. Có 2 em đã đăng ký mượn
sách thường xuyên tại tủ sách miễn phí của thầy Trợ, nhưng sau khi bị bố mẹ phát
hiện, lại xin thôi.
24


6. Có 45/45 em thường xuyên đi học thêm. Có 45/45 em có khả năng vào ĐH và 45/45
em mong muốn trở thành cán bộ nhà nước.
(Dẫn theo Vn Express, 12/11/2014)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status