MỤC LỤC
1.
1.1.
1.2.
1.3.
1.4.
1.5.
2.
2.1.
2.2.
2.3.
2.3.1.
2.3.2.
2.3.2.1
.
2.3.2.2
.
2.3.2.3
.
2.3.2.4
.
2.3.2.5
.
2.3.2.6
.
2.3.2.7
.
2.3.2.8
.
2.3.2.9
5
7
7
Các Phương thức biểu đạt
10
Các phương thức trần thuật và hình thức ngôn ngữ
13
Các phép liên kết
13
Các kiểu câu
14
Các biện pháp tu từ và tác dụng
14
Các hình thức lập luận của đoạn văn
15
Các thao tác lập luận
27
PHẦN PHỤ LỤC MINH HỌA
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài:
Những năm gần đây, đổi mới phương pháp dạy học là yêu cầu quan trọng đối
với ngành giáo dục, nhằm từng bước nâng cao chất lượng giáo dục, phát huy tính
chủ động sáng tạo của học sinh. Phương pháp giảng dạy truyền thống ngày càng
bộc lộ nhiều khiếm khuyết, chính vì vậy, một trong những thách thức đặt ra cho hệ
thống giáo dục quốc dân nói chung là cần phải thay đổi phương pháp giảng dạy, sao
cho có thể tạo ra những con người có phẩm chất, năng lực cần thiết như trung thực,
nhân văn, tự do sáng tạo, có hoài bão và lí tưởng phục vụ Tổ quốc, cộng đồng;
đồng thời phải phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, làm
chủ bản thân, làm chủ đất nước và làm chủ xã hội; có hiểu biết và kĩ năng cơ bản
để sống tốt và làm việc hiệu quả… như Bác Hồ từng mong muốn: "Một nền giáo
dục sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một
nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em" [11].
Việc đổi mới phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá ở các bộ môn nói
chung và môn Ngữ văn nói riêng đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai trong
nhiều năm qua và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Trước đây, việc hình
thành, bồi dưỡng năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh trong học tập môn Ngữ
văn chưa được chú trọng đúng mức. Lối dạy học truyền thụ tri thức một chiều, kéo
dài làm cho học sinh trở thành những người tiếp thu kiến thức thụ động, việc học
của học sinh thiếu sự sáng tạo, chủ động, thiếu các kỹ năng cần thiết để xử lý các
tình huống mới nảy sinh trong quá trình học tập. Trong dạy học văn, việc chú trọng
đến đọc hiểu văn bản được xem là một đề xuất có tính đột phá trong việc đổi mới
dạy học và kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn, là một yêu cầu bức thiết đối với việc
đào tạo nguồn nhân lực và góp phần khắc phục lối học cũ.
2
Ngữ văn.
Đề tài hướng tới việc bổ trợ những kỹ năng cần thiết cho học sinh giúp học
sinh biết đọc hiểu văn bản một cách sáng tạo, từ đó ứng dụng vào giao tiếp thực
3
tiễn và đặc biệt là có thể làm tốt phần Đọc – Hiểu trong đề thi trung học phổ thông
quốc gia môn Ngữ văn.
Đề tài này cũng có thể trở thành tài liệu tham khảo cho đồng nghiệp trong
quá trình giảng dạy.
Mục đích, yêu cầu, phạm vi, cách thức ra đề phần Đọc - hiểu trong đề thi
trung học phổ thông quốc gia.
Cách thức, kỹ năng làm phần Đọc – Hiểu văn bản trong đề thi trung học phổ
thông quốc gia.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Phần Đọc – Hiểu trong đề thi trung học phổ thông quốc gia môn Ngữ văn.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điều tra khảo sát thực tế; thống kê; so sánh; phân loại; tổng
hợp; phương pháp hệ thống
Trao đổi cũng với tổ chuyên môn, lấy ý kiến góp ý, bổ sung từ các đồng
nghiệp để có thể thực hiện tốt hơn đề tài nghiên cứu này.
1.5. Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
Cung cấp cho học sinh hệ thống phương pháp, cách thức làm phần đọc hiểu
trong đề thi trung học phổ thông quốc gia.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận
Đổi mới dạy học và kiểm tra đánh giá là yêu cầu cần thiết của giáo dục Việt
Nam hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra về phẩm chất năng lực cho
người học. Sự đổi mới phải đồng bộ trên tất cả các môn học trong đó có môn Ngữ
triển năng lực.
2.2. Thực trạng của vấn đề.
Theo yêu cầu của việc đổi mới dạy học và kiểm tra, đánh giá trong môn Ngữ
văn, từ năm học 2014 – 2015, đề thi Tốt nghiệp THPT đã có sự thay đổi so với
trước đây. Trong đề thi, ngoài phần Làm văn có thêm phần Đọc – Hiểu chiếm
khoảng 3 điểm, phạm vi kiến thức khá rộng, bao gồm kiến thức về tiếng Việt, kiến
thức về làm văn. Các câu hỏi trong phần Đọc – Hiểu thường xoay quanh nội dung,
nghệ thuật, chủ đề của văn bản, đồng thời có thể yêu cầu các em trình bày suy nghĩ
của mình về vấn đề đặt ra trong văn bản (với câu hỏi này, các em chỉ trả lời ngắn
gọn theo dung lượng đề bài yêu cầu, khoảng 5 – 7 dòng). Để làm được phần này
đòi hỏi người học phải có năng lực đọc hiểu văn bản nhất định trên một nền tảng
kiến thức cơ bản.
Qua thời gian nghiên cứu tìm hiểu, hướng dẫn, rèn luyện năng lực đọc hiểu
văn bản cho học sinh THPT, tôi nhận thấy năng lực đọc hiểu văn bản của học sinh
còn nhiều hạn chế. Điều đó do nhiều nguyên nhân, một trong nhưng nguyên nhân
5
đó là do áp lực thi cử, hiện nay, tình trạng giáo viên đọc hộ, hiểu hộ, cảm thụ hộ
học sinh diễn ra khá phổ biến; là do những kiến thức cơ bản học sinh tích lũy được
từ tiểu học đến THCS, THPT đã bị mai một nhiều. Vì vậy học sinh cần được bổ
sung lại một cách có hệ thống và bài bản những kiến thức, kĩ năng phục vụ cho đọc
hiểu văn bản.
Việc bổ trợ, trang bị lại các kiến thức cần thiết giúp cho học sinh làm tốt
phần đọc - hiểu trong đề thi THPTQG cũng không phải là dễ dàng, gặp khá nhiều
trở ngại như hạn chế về thời gian, khối lượng kiến thức nhiều. Nhiều giáo viên môn
Ngữ văn đã rất lo lắng, trăn trở về vấn đề này. Hơn nữa, hiện nay, chưa có nhiều tài
liệu thiết thực để phục vụ cho việc dạy học cũng như kiểm tra đánh giá theo định
hướng phát triển năng lực học sinh.
Từ thực tế trên, tôi đã nghiên cứu, tìm tòi để đưa ra các giải pháp nâng cao
báo hoặc một lời nói, lời nhận xét của tác giả nào đó về một sự việc, sự kiện.
- Văn bản văn học (Văn bản nghệ thuật)
+ Văn bản trong chương trình (Nghiêng nhiều về các văn bản đọc thêm)
+ Văn bản ngoài chương trình (Các văn bản cùng loại với các văn bản được
học trong chương trình).
- Văn bản nhật dụng: Loại văn bản có nội dung gần gũi, thời sự đối con
người và cộng đồng trong hiện tại như: Vấn đề về chủ quyền biển đảo, thiên nhiên,
môi trường, năng lượng, dân số, quyền trẻ em, ma túy… Văn bản nhật dụng có thể
dùng tất cả các thể loại cũng như các kiểu văn bản, song có thể nghiêng nhiều về
văn học sử, phong cách tác giả, thủ pháp tu từ… Ở đây việc đọc văn đã tích hợp tự
nhiên với tri thức tiếng Việt và làm văn.
c. Yêu cầu cơ bản của phần Đọc – Hiểu:
Câu hỏi được đưa ra theo ba cấp độ: nhận biết, thông hiểu và vận dụng.
* Với cấp độ nhận biết:
Học sinh chỉ cần nắm được những kiến thức cơ bản là có thể nhận diện đối
tượng. Chẳng hạn nhận biết về kiểu, loại, phương thức biểu đạt, cách sử dụng từ
ngữ, câu văn, hình ảnh, các biện pháp tu từ… trong văn bản.
* Với cấp độ thông hiểu: Yêu cầu học sinh phải trả lời các câu hỏi sau:
- Nội dung chính của văn bản? Tóm tắt nội dung của văn bản? Với câu hỏi
này, cần đọc kĩ văn bản, có thể dựa vào nhan đề và những câu văn mở đầu và kết
thức của bản để xác định nội dung chính.
- Nếu một văn bản không có nhan đề, đề bài có thể yêu cầu đặt cho nó một
nhan đề.
- Trả lời được các câu hỏi vì sao?
- Phân tích được ý nghĩa và tác dụng của việc ngắt nhịp (nếu ngữ liệu là văn
bản thơ, tùy bút, văn chính luận).
7
văn xuôi và phân tích tốt giá trị của việc sử dụng phép tu từ ấy trong văn bản.
- Kiến thức về văn bản:
8
Kiến thức về các loại phong cách ngôn ngữ (sinh hoạt, nghệ thuật, chính
luận, báo chí, khoa học, hành chính công vụ)
Kiến thức về phương thức biểu đạt (tự sự, biểu cảm, miêu tả, thuyết minh,
nghị luận và hành chính công vụ).
Kiến thức về các phương thức biểu đạt (tự sự, biểu cảm, miêu tả, thuyết
minh, nghị luận và hành chính công vụ).
2.3.2.1. Nhận diện các phong cách ngôn ngữ
a. Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt.
- Là ngôn ngữ dùng trong giáo tiếp sinh hoạt hằng ngày, hoàn cảnh giao tiếp
không mang tính nghi thức; giàu cảm xúc, ít trau chuốt, dùng để thông tin, trao đổi
ý nghĩ, tình cảm… trong cuộc sống. Tồn tại ở dạng nói và dạng viết (chuyện trò,
nhật kí, thư từ, tin nhắn). Ngôn ngữ khẩu ngữ, bình dị, tự nhiên.
- Đặc trưng: Tính cụ thể, tính cảm xúc, tính cá thể.
- Cách nhận biết: Nếu văn bản trích đoạn hội thoại, có lời đối đáp của nhân
vật, hoặc trích đoạn một bức thư, nhật kí thì văn bản đó thuộc phong cách ngôn ngữ
sinh hoạt.
b. Phong cách ngôn ngữ khoa học
- Là ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp thuộc lĩnh vực nghiên cứu, học tập
nghiên cứu và phổ biến khoa học. Tồn tại ở hai dạng: dạng nói (bài giảng, phát
biểu, nói chuyện khoa học…) và viết (giáo án, sách, vở…).
- Đặc trưng cơ bản: Tính khái quát, trừu trượng; tính lí trí, lô gích; tính khách
quan, phi cá thể.
- Cách nhận biết: Văn bản có nội dung khoa học, nhiều thuật ngữ thuộc các
ngành khoa học, câu đủ thành phần, trình bày theo phần, chương, mục, không sử
Có phần quốc hiệu, tiêu ngữ ở đầu văn bản. Có cơ quan chức năng ở cuối văn bản.
Có lớp từ hành chính được sử dụng với tần số cao.
e. Phong cách ngôn ngữ chính luận
- Là ngôn ngữ dùng trong các văn bản chính luận hoặc là lời nói miệng trong
các buổi hội nghị, hội thảo, nói chuyện thời sự,... nhằm trình bày, bình luận, đánh
giá, bày tỏ tư tưởng, lập trường, thái độ về những sự kiện, vấn đề chính trị, xã hội,
văn hóa, tư tưởng,… theo một quan điểm chính trị nhất định; với mục đích tuyên
truyền, cổ động, giáo dục thuyết phục người đọc, người nghe để có nhận thức, hành
động đúng, tồn tại ở cả dạng nói và dạng viết.
- Đặc điểm phương tiện diễn đạt: Sử dụng ngôn ngữ thông thường, lớp từ
ngữ chính trị; câu có kết cấu chuẩn mực, gần với những phan đoán lô gich trong
một hệ thống lập luận; sử dụng nhiều biện pháp tu từ để tăng sức hấp dẫn cho lí lẽ,
lập luận.
10
- Đặc trưng: Tính công khai về quan điểm chính trị. Tính chặt chẽ trong diễn
đạt và suy luận: Luận điểm, luận cứ, ý lớn, ý nhỏ, câu đoạn phải rõ ràng, rành
mạch. Tính truyền cảm, thuyết phục.
- Cách nhận biết: Nội dung văn bản liên quan đến những sự kiện, vấn đề
chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng; có thể hiện quan điểm của người nói, người
viết; dùng nhiều từ ngữ chính trị (như dân tộc, dân chủ, chính quyền, chủ quyền, tự
do…); được trích dẫn trong các văn bản chính luận ở sách giáo khoa hoặc lời phát
biểu của các nguyên thủ quốc gia trong hội nghị, hội thảo, nói chuyện thời sự,
chính trị…
h. Phong cách ngôn ngữ báo chí
- Là ngôn ngữ dùng để thông báo tin tức thời sự trong nước và quốc tế, phản
ánh chính kiến của tờ báo và dư luận quần chung, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của xã
hội. Tồn tại ở hai dạng: nói (thuyết minh, phỏng vấn trong các buổi phát thanh,
(Trích Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài)
Đoạn văn trên được viết chủ yếu theo phương thức biểu đạt tự sự.
b. Phương thức biểu đạt miêu tả
Là dùng ngôn ngữ tái hiện trạng thái sự vật, hiện tượng, con người, làm cho
người nghe, người đọc có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc nhận biết
được thế giới nội tâm của con người như đang hiện ra trước mắt.
Cách nhận biết: Có các câu văn, câu thơ tái hiện lại hình dáng, diện mạo,
màu sắc,.. của người và sự vật (tả người, tả cảnh, tả tình…)
Ví dụ: “Trăng đang lên. Mặt sông lấp lóng ánh vàng, Núi Trùm cát đứng
sừng sững bên bờ sông thành một khối tim sẫm uy nghi, trầm mặc. Dưới ánh trăng,
dòng sông sáng rực lên, những con sóng nhỏ lăn tăn gợn đều mơm man vỗ nhẹ vào
hai bên bờ cát”.
(Trích Trong cơn gió lốc - Khuất Quang Thụy).
Đoạn văn trên tả cảnh dòng sông trong một đêm trăng sáng.
c. Phương thức biểu đạt biểu cảm
Là dùng ngôn ngữ để bộc lộ tình cảm, cảm xúc của mình về thế giới xung
quanh.
Cách nhận biết: Có các câu văn, câu thơ miêu tả cảm xúc, thái độ của người
viết hoặc của nhân vật trữ tình. (Cảm xúc của người viết, chứ không hẳn là cảm xúc
của nhân vật trong truyện).
Ví dụ: Đọc đoạn thơ và chỉ ra phương thức biểu đạt.
Hùng vĩ thay, toàn thân đất nước
Tựa Trường Sơn, vươn tới Trường Sa
Trà Cổ rừng dương đến Cà Mau rừng đước
Đỏ bình minh mặt sóng khơi xa.
12
Đã qua, thuở âm u bóng tang, tàn lụi cỏ cây
13
Là phương thức chủ yếu được dùng để bàn bạc phải trái, đúng sai nhằm bộc
lộ rõ chủ kiến, thái độ của người nói, người viết rồi dẫn dắt, thuyết phục người khác
đồng tình với ý kiến của mình. (Nêu ý kiến, đánh giá, bàn luận).
Cách nhận biết: Có vấn đề bàn luận, có quan điểm của người viết. Nghị luận
thường đi liền với thao tác phân tích, giải thích, chứng minh, bình luận.
Ví dụ: Đọc đoạn trích và chỉ ra phương thức biểu đạt
Sự thông cảm cùng một lúc là phương tiện và mục đích của sự trao đổi giữa
con người với nhau. Thế mà giáo dục nhằm mục đích làm cho con người cảm
thông nhau lại hoàn toàn vắng bóng trong các giáo trình của chúng ta. Hành tinh
này cần những thông cảm lẫn nhau từ mọi phía. Bởi tầm quan trọng của nó, cần có
một đổi mới về tâm thức ở mọi cách giáo dục và ở mọi giới tuổi nhằm phát triển sự
thông cảm. Đó phải là công việc của nền giáo dục trong tương lai.
Sự thông cảm lẫm nhau giữa những con người, gần gũi như xa, từ nay phải
trở thành cốt tử thì các liên hệ loài người mới có thể thoát ra khỏi tình bạn man dã
của sự bất thông cảm.
Từ đó nảy ra một nhu cầu tìm hiểu về sự bất thông cảm, đến tận gốc rễ,
phương thức và tác dụng của nó. một nghiên cứu như vậy càng trở nên cần thiết
khi nó liên quan đến, không phải cách biểu hiện mà là những gốc rễ của kỳ thị
chủng tộc, của bài hoại, của khinh miệt. Cùng lúc, nó sẽ tạo ra một trong những cơ
sở chắc chắn nhất của nền giáo dục phụng sự hòa bình.
(Edgar morin, Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai, NXB Tri thức)
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên là nghị luận
h. Phương thức biểu đạt hành chính – công vụ:
Dùng để trình bày ý muốn, quyết định nào đó, thể hiện quyền hạn, trách
nhiệm giữa người với người trên cơ sở pháp lý.
Cách nhận biết: Bố cục của văn bản theo khuôn mẫu (Đầu tiên là quốc hiệu,
tiêu ngữ, tên cơ quan ban hành văn bản…; lớp từ hành chính dùng với tần số cao;
Phép thế
các từ ngữ đã có ở câu trước (Đó là, Họ, Nàng…)
Sử dụng ở câu sau các từ ngữ biểu thị quan hệ (nối kết) với
Phép nối
câu trước (và, với,..)
Ví dụ: “Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân
dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ
tương lai của nước nhà. Về mọi mặt, trường của chúng ta phải hơn hẳn trường học
của thực dân phong kiến.
Muốn được như thế thì thầy giáo, học trò và cán bộ phải cố gắng hơn nữa để
tiến bộ hơn nữa”.
(Về vấn đề giáo dục - Hồ Chí Minh )
Các phép liên kết sử dụng là: Phép lặp: “Trường học của chúng ta”. Phép thế:
“Muốn được như thế”… thay thế cho toàn bộ nội dung của đoạn trước đó.
2.3.2.5. Các kiÓu câu:
- Câu chia theo mục nói (Câu tường thuật, câu nghi vấn, câu cảm thán, câu
cầu khiến).
- Câu chia theo cấu trúc, chức năng ngữ pháp: Câu chủ động, câu bị động;
câu bình thường, câu đặc biệt; câu đơn, câu ghép.
15
2.3.2.6. Các biện pháp tu từ và tác dụng:
Bao gồm các phép: So sánh, ẩn dụ, nhân hóa, hoán dụ, nói quá (phóng đại,
thậm xưng), nói giảm (khinh ngữ), điệp từ, điệp ngữ, đối, tương phản – đối lập,
phép liệt kê, phép điệp câu trúc, câu hỏi tu từ, cách sử dụng từ láy…
Ví dụ: Đọc văn bản sau và chỉ ra biện pháp nghệ thuật tu từ từ vựng được sử
dụng và tác dụng của biện pháp tu từ ấy?
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Ví dụ: “Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo. Ta không háo hức cái tráng lệ, huy
hoàng, không say mê cái huyền ảo, kì vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng, thanh nhã,
ghét sặc sỡ. Quy mô chuộng sự khéo, vừa xinh, phải khoảng. Giao tiếp ứng xử
chuộng hợp tình, hợp lí, áo quần, trang sức, món ăn đều không chuộng sự cầu kì.
Tất cả đều hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng và có quy mô vừa
phải”. (Trích Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Trần Đình Hượu)
b. Thao tác lập luận chứng minh:
Là đưa ra những cứ liệu, dẫn chứng xác đáng để làm sáng tỏ một lí lẽ, một ý
kiến để thuyết phục người đọc, nghe và tin tưởng vào vấn đề. Dùng những bằng
chứng chân thực, đã được thừa nhận để chứng tỏ đối tượng,.
Cách chứng minh: xác định vấn đề chứng minh để tìm nguồn dẫn chứng phù
hợp (số liệu, lý lẽ,…). Dẫn chứng phải phong phú, tiêu biểu, toàn diện sát hợp với
vấn đề cách chứng minh, sắp xếp dẫn chứng phải lô gích, chặt chẽ và hợp lý.
Ví dụ: “Câu tục ngữ “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” mang một triết lí nhân văn
sâu sắc. Đó là lòng biết ơn với những người đã mang lại cuộc sống ấm no, hạnh
phúc cho chúng ta. (…) Quan điểm đó đã thể hiện một tư tưởng cao đẹp, một lối
ứng xử đúng đắn. Lòng biết ơn đối với người khác đó chính là một truyền thống tốt
đẹp của ông cha ta từ xưa tới nay. Đó cũng chính là biết sống ân nghĩa mặn mà,
thuỷ chung sâu sắc giữa con người với con người. Tất cả những gì chúng ta đang
hưởng thụ hiện tại không phải tự dưng mà có. Đó chính là công sức của biết bao
lớp người. Từ những bát cơm dẻo tinh trên tay cũng do bàn tay người nông dân
làm ra, một hạt lúa vàng chín giọt mồ hôi mà. Rồi đến tấm áo ta mặc, chiếc giày ta
đi cũng đều bởi những bàn tay khéo léo của người thợ cùng với sự miệt mài, cần cù
trong đó. Những di sản văn hoá nghệ thuật, những thành tựu độc đáo sáng tạo để
lại cho con cháu. Còn nhiều, rất nhiều những công trình vĩ đại nữa mà thế hệ trước
đã làm nên nhằm mục đích phục vụ thế hệ sau. Tất cả, tất cả cũng đều là những
công sức lớn lao, sự tâm huyết của mỗi người dồn lại đã tạo nên một thành quả
thật đáng khâm phục để ngày nay chúng ta cần biết ơn, phục hồi, tu dưỡng, phát
triển những di sản đó”.
c. Thao tác lập luận so sánh:
người An Nam nào vứt bỏ tiếng nói của mình, thì cũng đương nhiên khước từ niềm
hy vọng gải phóng giống nòi (…) Vì thế, đối với người An Nam chúng ta, chối từ
tiếng mẹ đẻ đồng nghĩa với chối từ sự tự do của chính mình (…)”.
(Nguyễn An Ninh, Tiếng mẻ đẻ - nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức – Ngữ
văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục, 2011, tr. 90)
e. Thao tác lập luận phân tích.
18
Là cách chia tách đối tượng, sự vật hiện tượng thành nhiều yếu tố nhỏ thành
nhiều bộ phận theo những tiêu chí, quan hệ nhất định để xem xét kĩ lượng nội dung
và những mối liên hệ bên trong (nội dung), bên ngoài (hình thức) của đối tượng.
Ví dụ: “Nỗi riêng riêng những bàn hoàn trong lòng Thúy Kiều hôm nay là
vậy. Nàng chỉ có thức với ngọn đèn cho đến khi dầu khô trong đĩa mà dòng lệ vẫn
không dứt đầm khăn. “Dầu chong… khăn” bởi nàng chỉ xót đau rồi đau xót chứ
chưa tìm được phương kế nào. Bàng hoàn mang ý quang quẩn quẩn quanh lại
thêm những bàn hoàn nên càng thêm rối rắm (…)
(Đến với thơ hay – Lê Trí Viễn – NXB Giáo dục 2001
h. Thao tác lập luận bác bỏ:
Là cách trao đổi, tranh luận để bác bỏ ý kiến được cho là sai, trên cơ sở đó
đưa ra nhận định đúng đắn của mình.
- Cách bác bỏ: Nếu ý kiến sai trái, sau đó phân tích, bác bỏ, khẳng định ý
kiến đúng; nêu từng phần ý kiến sai rồi bác bỏ theo cách cuốn chiếu. Ý nhỏ phải
nằm hoàn toàn trong phạm vị của ý lớn. Mặt khác, các ý nhỏ được chia ra từ một ý
lớn, khi hợp lại, phải cho ta một ý niệm tương đối đầy đủ về ý lớn, gần như các số
hạng, khi cộng lại phải cho ta tổng số, hay vòng tròn lớn phải được lấp đầy bởi
những những vòng tròn nhỏ. Mỗi quan hệ giữa những ý nhỏ được chia ra từ cùng
một ý lớn hơn phải ngang hàng nhau, không trùng lặp nhau.
Ví dụ: “Nhiều đồng bào chúng ta, để biện minh cho việc từ bỏ tiếng mẻ đẻ,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
(Ca dao)
Trên cơ sở bài ca dao em hãy viết đoạn văn khoảng 200 từ về công lao của
cha mẹ:
Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo nhiều cách khác nhau, nhưng cần
nêu được những ý cơ bản sau:
- Khẳng định công lao to lớn của cha mẹ với con cái: công sinh thành, công
dưỡng dục.
- Nêu rõ trách nhiệm của con cái với cha mẹ: hiếu với cha mẹ.
- Phê phán những cách cư xử không đúng đạo con.
- Nêu nhận thức và hành động của bản thân.
* Viết đoạn văn theo yêu cầu của đề:
- Sau khi tìm được ý chính của đoạn văn, tiến hành viết câu mở đầu. Với
nhiệm vụ dẫn dắt vấn đề, câu mở đầu nên dẫn dắt từ nội dung của văn bản được
trích. Đoạn văn có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng đơn giản nhất là
trình bày theo kiểu diễn dịch (câu chủ đề nằm ở đầu đoạn, các câu sau triển khai ý
cho câu mở đầu). Ngoài ra, học sinh có thể viết bằng nhiều cách khác nhau miễn là
đáp ứng đúng yêu cầu của đề thi.
20
- Viết các câu nối tiếp câu mở đầu: Dựa vào các ý chính vừa ghi trên giấy
nháp, chúng ta tiến hành viết đoạn văn. Lưu ý cách diễn đạt và lỗi chính tả.
- Viết câu kết: Với nhiệm vụ kết thức vấn đề dù đoạn dài hay ngắn thi câu
kết cũng giữ vai trò quan trọng, để lại ấn tượng cho người đọc. Câu kết có thể nêu
cảm xúc cá nhân, mở rộng vấn đề hoặc tóm lược vấn đề vừa trình bày.
* Kiểm tra chỉnh sửa hoàn thiện bài làm.
Trong quá trình làm bài luôn phải kiểm tra và hoàn thiện bài làm một cách
tốt nhất. Nếu bài viết yêu cầu nêu quan điểm, cảm nhận của cá nhân, có thể trình
biến sự việc đã xẩy ra thì đó là phương thức tự sự.
Một văn bản có khi kết hợp nhiều phương thức biểu đạt khác nhau nhưng
bao giờ cũng có một phương thức chính. Trong thơ chủ yếu sử dụng hai phương
thức biểu cảm và miêu tả, phương thức tự sự có sử dụng nhưng không nhiều. Trong
văn xuôi chủ yếu sử dụng các phương thức tự sự, miêu tả, biểu cảm…
- Nếu đề bài yêu cầu: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản, thì
chỉ cần nêu một phương thức chính. Nếu câu hỏi là xác định phương thức hoặc
những phương thức biểu đạt thì có thể trả lời nhiều phương thức. Không phải mỗi
văn bản chỉ có một phương thức biểu đạt duy nhất, mà thường kết hợp các hình
thức khác nhau nhưng bao giờ cũng có một phương thức biểu đạt chủ đạo.
Thứ hai: Nhận biết phong cách ngôn ngữ bằng cách dựa vào xuất xứ ghi
dưới phần trích của đề bài, các từ ngữ, kiểu câu được sử dụng để chọn: phong cách
báo chí (văn bản trích từ báo nào; có tin tức sự kiện gì mới), khoa học (vănn bản
giáo khoa, đề tài nghiên cứu, có nhiều thuật ngữ chuyên ngành khoa học); nghệ
thuật (các tác phẩm thơ, văn xuôi, truyện, kịch; có hình tượng…). sinh hoạt (nếu là
nhật kí, thư từ, tin nhắn, hội thoại), chính luận (vấn đề được bàn là vấn đề chính trị
xã hội, văn hóa), hay hành chính công vụ (khuôn mẫu, lớp từ hành chính). Ngữ liệu
để dùng đọc hiểu không chỉ được trình bày theo một phong cách ngôn ngữ duy nhất
mà thường kết hợp nhiều phong cách khác nhau. Ví dụ phong cách ngôn ngữ chính
luận và báo chí thường đi kèm với nhau; phong cách nghệ thuật và sinh hoạt cũng
có thể đi kèm với nhau. Vì vậy khi gặp những văn bản loại này học sinh phải chú ý
nếu không sẽ không được điểm tối đa.
Ví dụ: Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn văn sau:
Sáng ngày 16/5, hơn 1.300 học sinh trường THPT Phan Huy Chú, Hà Nội
tham gia buổi học ngoại khóa mang tên “Chủ quyền biển đảo, khát vọng hòa
bình”. Buổi học được tổ chức với ý nghĩa thể hiện tình yêu đất nước, một lòng
hướng về biển Đông.
Nhà trường cho rằng buổi ngoại khoá như thế này rất cần thiết, giúp nuôi
dưỡng lòng tự hào dân tộc cho các em học sinh, đồng thời nâng cao hiểu biết về
chủ quyền lãnh thổ và ý thức trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương, đất nước.
Đoàn ngồi nhớ thôn Đông. Nghĩa là người thôn Đoàn nhớ người thôn Đông;
Điệp từ ngữ (Lặp lại có chủ đích từ hoặc cụm từ); nói quá, nói giảm (Phóng
đại hoặc thu hẹp vấn đề hơn mức bình thường); chơi chữ…; tu từ cú pháp (lặp cấu
trúc câu, đảo ngữ, câu hỏi tu từ, liệt kê, chêm xen, im lặng…)
Các biện pháp tu từ có tác dụng làm rõ đối tượng được nói đến, tăng thêm
sức gợi cảm, gợi hình, âm thanh, màu sắc, làm đối tượng trở nên hấp dẫn, sâu sắc.
23
Thứ tư: Đọc kỹ đoạn văn trong đề bài, nắm được nội dung, ý nghĩa. Để đặt
nhan đề cho văn bản nên chọn từ khóa trong câu chủ đề (Câu chủ đề đa số nằm ở
đầu đoạn, các trường hợp nằm cuối hoặc giữa đoạn không nhiều) để đảm bảo tính
ngắn gọn, súc tích. Để nêu đại ý hay cảm xúc bằng đoạn văn ngắn 7 đến 10 dòng về
đoạn trích, cần trả lời các câu hỏi: Đoạn trích viết về ai? Vấn đề gì? Biểu hiện như
thế nào? Đặt trong tình huống bản thân để nêu hành động cần thiết.
Thứ năm: Nếu văn bản trong đề thi là một ngữ liệu mới, học sinh cần bình
tĩnh và tiến hành đọc nhiều lần để hiểu từng câu, từng từ, hiểu nghĩa và biểu tượng
qua nhan đề (nếu có), cách trình bày văn bản, liên kết câu, cách ngắt dòng, từ đó
hiểu nội dung, ý nghĩa của văn bản.
2.3.5. Những điều cần lưu ý khi làm phần Đọc – Hiểu:
Thứ nhất: Học sinh cần nắm được phương pháp và kĩ năng đọc hiểu một
văn bản; các yêu cầu cụ thể của phần đọc - hiểu trong đề thi; nắm vững các kiến
thức cơ bản như: các phương thức biểu đạt; các thao tác lập luận; các biện pháp tu
từ từ vựng và tu từ cú pháp; các phong cách ngôn ngữ; cách xác định chủ đề, câu
chủ đề hoặc nội dung của một văn bản… híng dÉn, cñng cè kiÕn thøc cho
häc sinh b»ng së ®å t duy
Thứ hai: Trước khi đặt bút làm bài, học sinh cần đọc kỹ các câu hỏi, gạch
chân những từ quan trọng để xác định chính xác nội dung cần trả lời. Ví dụ như:
Nêu phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích sẽ khác với nêu các phương thức
câu văn bằng các thao tác của tư duy, rồi tìm ra các lớp nghĩa tường mình, hàm ẩn,
biểu trưng… Với văn bản nghệ thuật cần cảm thụ và lý giải các giá trị nghệ thuật
như: ngôn ngữ, hình ảnh, chi tiết… đến các giá trị nội dung.
Thứ bảy: Chú ý nguồn dẫn để xác định phong cách ngôn ngữ và phương
thức biểu đạt. Nếu gặp nguồn dẫn lấy trên mạng thì phần lớn là phong cách báo chí,
phương thức biểu đạt nghị luận. Ví dụ: theo [email protected]. Hoặc
[email protected]. Nếu văn bản là 1 bài thơ thì thường là phong cách nghệ
thuật và phương thức biểu cảm.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Quá quá trình áp dụng sáng kiến kinh nghiệm vào thực tiễn, bản thân tôi thấy
đạt nhiều kết quả. Học sinh tiếp thu và làm bài tốt hơn ở phần đọc – hiểu trong đề
thi THPT quốc gia. Trước đây khi làm bài học sinh thường trả lời lan man, dài
dòng, không đúng trọng tâm, khiến cho phần đọc – hiểu không đạt điểm cao. Từ
khi tôi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt
phần Đọc – Hiểu đề thi THPT quốc gia, cung cấp những kiến thức, kỹ năng cần
thiết cho học sinh, các em đã có thể đọc - hiểu các loại văn bản và làm tốt phần đọc
– hiểu trong đề thi.
25