1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Hiệu quả của quá trình dạy học môn Ngữ văn không chỉ nằm ở khâu dạy
kiến thức mà còn ở bước rèn kĩ năng. Nếu dạy chỉ cung cấp kiến thức thì việc rèn
kĩ năng là khâu cùng một lúc kiểm tra được nhiều phương diện của quá trình học:
kiểm tra được việc tiếp thu kiến thức, vận dụng tri thức vào thực tế, khả năng giải
quyết linh hoạt, nhạy bén các vấn đề … Ngoài ra, việc rèn kĩ năng cho học sinh
trong quá trình học Ngữ văn phần nào đáp ứng yêu cầu đổi mới kiểm tra đánh giá
học sinh theo 4 mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao.
Đề văn những năm gần đây ra theo lối mở theo tinh thần đổi mới của Bộ giáo
dục nhằm để phát huy tư duy sáng tạo của học sinh. Trong đề thường không có chỉ
dẫn rõ ràng về thao tác lập luận, thế nhưng khi làm bài các em cần thiết phải biết
phối hợp nhuần nhuyễn các thao tác nghị luận. Trong số các thao tác lập luận, thao
tác giải thích vô cùng quan trọng, có tính định hướng, là kim chỉ nam cho toàn bộ
bài văn. Giải thích đúng sẽ hiểu đúng, viết đúng, xây dựng hệ thống luận điểm
tương ứng với luận đề.
Vậy nên, chúng tôi vô cùng trăn trở và đó cũng chính là lí do đưa chúng tôi
đến với đề tài: “Rèn kĩ năng viết phần giải thích cho đề văn nghị luận xã hội
trong bài thi THPT Quốc Gia”
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Trình bày những hiểu biết của mình về khái niệm văn giải thích
- Tầm quan trọng của phần giải thích trong đoạn văn nghị luận xã hội.
- Những kỹ năng cơ bản khi viết phần giải thích trong đoạn văn nghị luận xã
hội với đối tượng là học sinh tham dự kì thi THPT Quốc gia. Đề tài hướng tới hai
mục đích:
+ Với học sinh: đề tài đưa ra một vài cách thức giúp học sinh có thêm kỹ
năng giải thích trong viết văn nghị luận, để học sinh tự tin chủ động sáng tạo khi
làm bài, thể hiện đúng chất của học sinh giỏi văn, đáp ứng tốt yêu cầu của việc thi
cử theo tinh thần đổi mới của những năm gần đây.
+ Với giáo viên: cần có ý thức hơn trong giảng dạy và ôn luyện bên cạnh
việc cung cấp kiến thức cũng cần chú ý tới việc rèn kỹ năng làm bài và trong đó có
Nhìn từ đề tài, đối tượng nghị luận, có thể chia văn nghị luận thành hai loại
lớn: nghị luận xã hội và nghị luận văn học.
Trong cả hai kiểu bài, thao tác lập luận giải thích có vị trí, vai trò quan trọng.
2.1.2. Thao tác lập luận giải thích
a. Khái niệm:
Thao tác lập luận giải thích là một thao tác nghị luận dùng lí lẽ để giảng giải,
cắt nghĩa giúp người đọc, người nghe hiểu rõ một hiện tượng, một vấn đề nào đó.
b. Vị trí, vai trò:
Thao tác lập luận giải thích có vai trò quan trọng trong bài văn nghị luận giúp
người viết đi đúng vấn đề cần nghị luận, định hướng cho quá trình tạo dựng luận
điểm, là một trong các yếu tố quyết định sự thành công của bài văn.
c. Yêu cầu của thao tác lập luận giải thích:
Khi giải thích ngắn gọn, rõ ý, hay, có tính nghệ thuật .
2.1.3. Rèn kĩ năng viết phần giải thích trong đề nghị luận xã hội
a. Kĩ năng nhận diện dạng đề
Đoạn văn nghị luận xã hội theo cấu trúc đề thi THPT Quốc gia hiện
hành thường được chia thành hai dạng gắn với ngữ liệu ở phần đọc hiểu của đề:
+ Nghị luận về một tư tưởng đạo lí.
+ Nghị luận về một hiện tượng đời sống
Tùy vào dạng đề cụ thể để sử dụng cách giải thích phù hợp
b. Kĩ năng tìm ý:
* Để làm được phần này học sinh cần căn cứ vào từ, câu, vế câu, hình ảnh
v.v. Đặt câu hỏi lập ý: là gì? Nghĩa là như thế nào ? Nói như vậy có ý gì ?
- Giải thích từ:
+ Giải thích nghĩa từ theo từ điển tiếng Việt, tìm hiểu nghĩa gốc và nghĩa
chuyển.
+ Giải thích nghĩa từ theo đặc điểm của từ loại: danh từ, động từ, tính từ.
- Giải thích câu, vế câu: căn cứ vào các từ , mối quan hệ các từ: nếu-thì; hãy,
để vừa đảm bảo tính lôgic vừa phù hợp tâm lí tiếp nhận.
- Kĩ năng diễn đạt: Trong diễn đạt cần chuẩn xác và truyền cảm. Chuẩn xác
trong việc dùng từ, đặt câu. Muốn sử dụng các từ biểu thị những khái niệm trừu
tượng, các thuật ngữ chuyên môn, học sinh cần thường xuyên đọc sách báo, xây
dựng thói quen tra từ điển, để hiểu nghĩa của chúng đến nơi, đến chốn. Không nắm
chắc nghĩa của từ không nên dùng. Về câu, khi mở rộng các thành phần câu, người
viết cần lưu ý sắp xếp trật tự các từ trong câu cho đúng quy tắc và không bỏ sót các
thành phần chính.
2.3. Kinh nghiệm và giải pháp rèn luyện kĩ năng viết phần giải thích cho dạng
đề nghị luận xã hội trong bài thi THPT Quốc Gia
Ý thức sâu sắc tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng giải thích trong đoạn văn nghị
luận xã hội, trong quá trình dạy học, đặc biệt là ôn luyện thi THPT Quốc Gia,
chúng tôi đã dành cho việc hình thành và phát triển kỹ năng này một thời lượng
xứng đáng. Tùy vào đặc điểm của mỗi đối tượng học sinh, mỗi dạng riêng của đoạn
văn nghị luận xã hội mà việc rèn thao tác này có thể linh hoạt (đẩy bước này lên
trước hay bỏ qua bước kia) nhưng nhìn chung, chúng tôi tiến hành theo trình tự như
sau:
Bước 1: Nâng cao nhận thức cho học sinh về tầm quan trọng của thao tác lập
luận giải thích trong đoạn văn nghị luận qua việc tham khảo ngữ liệu:
Bước 2: Rèn kĩ năng giải thích cho đề văn nghị luận xã hội trong kì thi THPT
Quốc Gia
Bước 3: Thực hành sửa lỗi.
Sau đây, chúng tôi xin trình bày cụ thể từng bước mà trong thực tế dạy học
chúng tôi đã tiến hành.
2.3.1. Nâng cao nhận thức cho học sinh về tầm quan trọng của thao tác lập luận
giải thích trong đoạn văn nghị luận qua việc tham khảo ngữ liệu:
Có lẽ đối với nhiều bạn đồng nghiệp thì việc cho học sinh tham khảo tư liệu
không phải là bước đầu tiên, thậm chí đây có thể là bước sau cùng trong việc rèn kỹ
ích. Sống với những “điều ta có thể” tức là bạn đã tự ý thức được giá trị của mình
và đang đi những bước an toàn trong cuộc đời. Đây có lẽ chính là khởi nguồn cho
sự thành công vững chắc và hạnh phúc sau này. Từ đó, giúp bạn khẳng định được
mình, phát huy năng lực và khai thác mọi điều kiện cần và đủ của bản thân, của
môi trường để thành công. Tuy nhiên, trên phương diện khác, sống theo ước muốn
có thể giúp bạn khai thác tới hạn giá trị nội lực của cá nhân mình. Galile, Ampe,
Anhxtanh, Newton công bố những thành tựu khoa học của mình là thuyết Nhật
tâm, thuyết Lượng tử ánh sáng, thuyết Tương đối hay định luật Vạn vật hấp dẫn.
Trước đó thì mọi người liệu ai có thể nói rằng đây là những điều có thể? Ở một lĩnh
vực khác, nếu không bằng ước muốn và đam mê thì liệu giờ nhân loại có được
những kiệt tác ghi danh của Van Gogh? Rõ ràng là cả trước, trong và sau khi vẽ
tranh, Van Gogh đã không làm cái điều mà mình “có thể” là từ bỏ vẽ tranh và kiếm
việc khác nuôi sống bản thân. Khi ông còn sống, chỉ duy nhất một bức tranh của
ông bán được. Ai sống ở thời ấy cũng bảo ông mù quáng và phi thực tế, còn thời
nay người ta nói gì? Chắc bạn đã rõ! Khi sống với ước muốn cũng là khi người ta
xây dựng cho mình một điểm tựa vững chắc để vươn tới những chân trời mới. Chỉ
khi ấy người ta mới đủ can đảm đối mặt với khó khăn và theo đuổi đam mê. Nếu
không nhờ mong muốn “điên loạn”, “dở hơi” của Mark Zuckerberg, Steve Jobs
thì có lẽ giờ người ta sẽ thấy những cậu sinh viên ngoan của Harvard thay vì những
anh hùng trong giới công nghệ với Facebook, Apple… Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở
đây là phải sống ra sao với ước muốn ấy. Theo tôi, phải luôn tỉnh táo và thực tế dù
cho đó là ước muốn đi nữa, bởi bạn không thể đặt ra một loạt những ước muốn và
ngồi viển vông, mơ mộng chứ không hề hành động. Thế thì hãy sống để làm những
điều bình thường, có thể sẽ có ích hơn. Và đây cũng là điều tôi muốn nói: Phải biết
phân biệt giữa ước muốn đẹp đẽ cao cả và mơ mộng tầm thường, giả tạo. Bởi khi
đã chọn đi theo ước muốn của mình, tức là bạn đã chọn đi con đường đầy gai nhọn
trước khi đến được với hoa hồng rồi đấy. Hãy tỉnh táo và thực tế cho dù là sống
theo “ước muốn” hay “những điều có thể”.
phát hiện ra những điểm cần giải thích cũng như biết cắt nghĩa các từ ngữ quan
trọng. Từ đó, học sinh mới có thể xác định trúng vấn đề cần nghị luận – luận đề của
bài văn nghị luận. Để có thể tích lũy vốn từ, học sinh có thể thực hiện các yêu cầu
sau:
- Rèn thói quen đọc nhiều, học hỏi từ các sách nghiên cứu về văn hóa, văn
học, mĩ học, triết học, sử học…
- Tích lũy các nội dung định nghĩa từ những cuốn từ điển đáng tin cậy
- Rèn thói quen ghi chép các cách dùng từ hay, đắc địa, độc đáo của các nhà
nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ…
- Tham khảo các đoạn văn, bài văn nghị luận xã hội mẫu mực
Với kiến thức phong phú tích lũy được, các em sẽ có cái nhìn đa chiều, toàn
diện, sâu sắc hơn về những vấn đề cần cắt nghĩa, lí giải.
Ví dụ 1: “Thấy người thống khổ khóc than mà bạn có thể làm cho họ khô
nước mắt thì đừng để cho mặt trời có đủ thời gian làm khô nước mắt của họ”.
Để giải thích ý kiến nêu trên, học sinh không chỉ cần huy động các vốn từ đã
tích lũy được trong từ điển mà còn cần huy động vốn từ thuộc chuyên ngành địa lí,
vật lí…Trên cơ sở đó mà khái quát lên ý nghĩa của cả câu.
Trên cơ sở đã nêu, chúng tôi sẽ tiến hành cho học sinh huy động vốn từ để
thực hành giải thích từ khóa thông qua các bước sau:
a. Phát hiện từ khóa:
Luận đề thường được ẩn trong các từ ngữ then chốt, các hình ảnh biểu tượng.
Vì thế, điều đầu tiên cần làm trong khi rèn kỹ năng giải thích chính là phát hiện
chính xác những điểm cần làm rõ trong đề bài. Xác định sai hoặc cắt nghĩa sai đều
có thể khiến cả bài nghị luận thất bại.
Để tìm đúng những từ khóa, học sinh cần đọc thật kĩ đề. Có trường hợp phải
đọc đi đọc lại nhiều lần, cân nhắc thật kĩ mới không sai lệch. Đây là thao tác nhiều
học sinh cho rằng đơn giản nên hay làm sơ sài, qua quýt; thậm chí có những bạn đã
rèn để luôn phát hiện chính xác ngay khi tiếp cận đề bài, nhưng rồi chủ quan vẫn có
Đây là bước tiếp theo định hướng để tìm đúng luận đề.
b. Giải thích từ khóa và rút ra luận đề:
Một từ đôi khi có nhiều lớp nghĩa nên khi đã chọn được từ khóa rồi cũng
không hề đơn giản. Cần phải giải mã chính xác ý nghĩa của từ đó trong đề bài mới
có thể đi tới luận đề.
Nhiều khi học sinh suy nghĩ không thấu đáo nên đã cắt nghĩa lệch hướng, dù
nghĩa được chỉ ra vẫn nằm trong vùng nghĩa của từ, nhưng đó không phải là nghĩa
đích đáng mà đề bài muốn đề cập. Muốn hạn chế sai lệch ở khâu này cần nắm được
đề tài chung mà đề đang đề cập. Đó chính là ánh sáng bao trùm lên mọi từ ngữ
được sử dụng trong đề bài, cũng là ánh sáng dẫn đường khi chọn hướng giải thích.
Khi đã xác định được ý nghĩa chính của từ khóa trong đề bài, luận đề sẽ trở
nên rõ ràng hơn. Bên cạnh đó cũng tránh được sự rườm rà, dài dòng trong lối viết.
Trong tư duy, khâu này diễn ra gần như đồng thời với khâu phát hiện ra từ
khóa. Bởi vì phát hiện từ khóa chính là sự lóe sáng của tư duy khi nhận ra ý nghĩa
mà từ đó chuyên chở. Khoanh chính xác lớp nghĩa đang lấp lánh trong vùng nghĩa
của từ cũng chính là khẳng định được vị trí của từ đó trong đề bài. Tuy nhiên đó là
những gì diễn ra trong tư duy, còn trong thực tế thì học sinh cần tiến hành tuần tự:
phát hiện từ khóa trước rồi mới phát hiện ý nghĩa và xác định luận đề
Khi luyện tập trên lớp, học sinh chỉ cần gạch chân từ khóa như một cách định
vị. Gạch ở ngay trong đề hay viết ra trên giấy nháp tùy theo thói quen. Còn giải mã
từ thì nên viết ra giấy nháp, bởi vì khi những nét chữ hiển hiện trên giấy có thể
khiến cho học sinh nhìn nhận lại, cân nhắc một lần nữa trước khi quyết định. Cuối
cùng là diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng luận đề.
Thời lượng cho khâu này cũng chỉ gói gọn trong 1-2 phút, vì vậy học sinh
cần thực hiện nhanh. Muốn vừa nhanh, vừa chính xác, việc cần làm vẫn là nỗ lực
làm bài tập. Giáo viên có thể giao cho học sinh bài tập hàng ngày và sát sao chữa
tay đôi để học sinh kịp thời sửa. Nếu để học sinh tự làm rồi không có hiệu quả dễ
khiến các em nản.
trong tư duy và bản lĩnh của người viết.
Một điều cần lưu ý là khâu này tưởng như đơn giản nhưng cũng là một thử
thách với học sinh, do đó cần thận trọng lựa chọn từ ngữ, đặt câu để đoạn giải thích
có sức thuyết phục.
Thời lượng cho phần này tầm 10-15 phút nhưng dung lượng phải đảm bảo.
Học sinh có thể viết nhanh là vì ý tưởng đã rõ ràng, tư duy đã được khai mở thì có
thể thăng hoa thành những từ ngữ lấp lánh. Ban đầu học sinh có thể viết chậm, diễn
đạt chưa tốt nhưng sau một thời gian luyện tập sẽ thực sự hiệu quả.
Điều quan trọng ở phần này là cần tạo được hứng thú cho học sinh, vì lặp đi
lặp lại một thao tác dễ mất hứng thú. Vì vậy, bên cạnh việc chọn được nhiều dạng
đề phong phú, hấp dẫn, người thầy còn phải sát sao và tạo được sự lôi cuốn, khiến
cho học sinh nhận thấy được sự tiến bộ rõ rệt của mình.
Chúng tôi đã cho học sinh luyện thao tác này qua các bài tập, xin trích đề bài
và phần làm việc của học sinh.
Bài tập 1: Viết phần giải thích cho đề bài sau:
Anatole France cho rằng: "Để làm được những điều vĩ đại, không những
phải hành động mà còn phải ước mơ, không những phải lập kế hoạch mà còn phải
tin tưởng"
Suy nghĩ của anh/chị về quan niệm trên.
Học sinh đã viết đoạn như sau.
"Nhắc tới hai tiếng vĩ đại, ta liên tưởng ngay đến những điều thật lớn lao và
khó có thể thực hiện được. Anatole France đã chỉ ra những yếu tố song hành cùng
nhau trên con đường hiện thực hóa “điều vĩ đại”: “hành động” và “ước mơ”, “lên
kế hoạch” và “tin tưởng”. Nhưng các cặp phạm trù này lại được đặt trong mối quan
hệ không cân bằng, mà có xu hướng tăng cấp (“không chỉ” – “mà còn”) để nhấn
mạnh hơn “mơ ước”, “tin tưởng” – đều thuộc về tinh thần con người. Nhà văn
Pháp đã cho chúng ta thức nhận đúng đắn hơn về tầm quan trọng của “ước mơ” và
sự “tin tưởng” – những nhân tố tinh thần so với “hành động”, “kế hoạch” – nhân tố
tiết, hoặc quá mơ mộng viển vông. Nói cách khác, đây cũng chính là mối quan hệ
tưởng như đối lập nhưng thực chất là bao chứa, chi phối lẫn nhau của những điều
nhỏ bé và những điều lớn lao trong cuộc sống." Cả hai điều nàyđều có ở trong
nhau. Vì thế, hãy biết sống dung hòa, đừng vì điều còn lại mà lãng quên mất điều
kia.
(Bài làm của học sinh)
Bài tập 3: Viết phần giải thích cho đề bài sau
“ Bàn tay tặng hoa hồng bao giờ cũng phảng phất hương thơm”
Suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến trên.
“ Cho” và “ nhận” – đó là quy luật muôn đời của cuộc sống, là sợi dây gắn
kết yêu thương giữa con người với con người trong xã hội. Hạnh phúc biết bao khi
được nhận tình yêu thương giữa con người với nhau. Chúng ta tìm thấy ý nghĩa đó
trong câu nói giản dị:“ Bàn tay tặng hoa hồng bao giờ cũng phảng phất hương
thơm”.“ Bàn tay” chính là một hình ảnh hoán dụ chỉ người có “hoa hồng”, người có
lòng nhân ái biết sống vì người khác, “ hoa hồng” là hình ảnh ẩn dụ, biểu trưng cho
tình yêu thương chân thành, vẻ đẹp của sự giúp đỡ. Tình yêu thương càng đẹp hơn,
đáng trân trọng hơn khi xuất phát từ sự tự nguyện , vui vẻ. Câu nói đưa chúng ta
đến một triết lí nhân sinh, một quan niệm sống đúng đắn : mỗi con người khi cho đi
dù là chỉ một nụ cười, một lời yêu thương một cách chân thành, vui vẻ là chúng ta
đang làm đẹp cho tâm hồn mình và cho cuộc sống. Biết cho thì sẽ được nhận.
(Bài làm của học sinh)
Bước 3: Thực hành sửa lỗi:
Sau khi đã viết trọn vẹn phần giải thích, còn một bước cuối cùng vô cùng
quan trọng, đó là cần đọc lại và sửa những gì đã viết để bổ sung, hoàn thiện hơn.
Trong thực tế, khi làm bài kiểm tra hoặc bài thi, học sinh không có điều kiện
để sửa lại, bổ sung, lược bớt những gì đã viết. Điều đó dễ khiến cho tư duy đứt
đoạn, trình bày không sạch đẹp. Tuy nhiên, trong bước đầu rèn kỹ năng giải thích
cho học sinh, cần có bước này để học sinh có ý thức hướng tới sự hoàn thiện.
chỉ run rẩy thở dài rơi xuống”
Anh (chị) suy nghĩ gì về thông điệp nêu trên?
Phần viết ban đầu của học sinh:
"Hãy hình dung, nhà thơ đang đứng bên cửa sổ vào một ngày trời thu mát
mẻ. Bỗng dưng lại thấy một chú chim mùa hè bay lạc vào đây, đậu bên cửa sổ, hót
vang một tiếng rồi lại bay đi. Dù chỉ là một tiếng hót trong vài giây ngắn ngủi thôi
nhưng nó đã mang đến cho nhà thơ một niềm vui lớn, một hạnh phúc lớn giữa mùa
thu buồn.
“Những con chim mùa hè bay lạc
đến cửa sổ tôi
để hót lên rồi lại bay đi”
Đó là niềm vui thầm kín trong lòng nhà thơ, niểm vui được lan truyền từ
cái vui trong tiếng hót thoáng qua của một loài động vật “trái mùa”. Ấy là tinh thần
sống lạc quan luôn vui vẻ, sôi nổi, luôn làm đẹp cho đời. Còn những chiếc lá thu
vàng, tuy ở ngay trước mặt nhà thơ nhưng im lặng, không lời ca tiếng hát, lại “run
rẩy thở dài” yếu ớt. Chiếc lá thu vàng tuy tồn tại trước mặt con người nhiều hơn
nhưng chỉ khiến người ta nghĩ đến chết chóc, buồn thương, không có nghị lực.
Đoạn thơ là một nhận thức đúng đắn về lẽ sống: con chim, chiếc lá cũng biểu trưng
cho loài người chúng ta. Ta sống ngắn hay sống dài, điều đó không quan trọng.
Quan trọng hơn cả là cách sống của chúng ta – sống bằng cả niềm nhiệt huyết và
tình yêu cuộc sống, là ta đã mang lại cho cuộc sống những gì, làm đẹp cho nó như
thế nào"
Học sinh tự chấm đã chỉ ra được những lỗi sau: lỗi diễn đạt trong từ "cái
vui", lặp ý và lặp từ trong hai cụm "tuy ở ngay trước mặt nhà thơ" và "tuy tồn tại
trước mặt con người" trong hai câu sát nhau.
Bài tập 2: Viết đoạn giải thích cho đề bài sau:
“ Biết lắng nghe - điều kì diệu của cuộc sống”
Quan điểm của anh/ chị?
bài làm của học sinh làm bài đạt điểm khá giỏi. Trong đó 5% bài thi đạt loại giỏi.
Có trên 40% học sinh đạt điểm tổng kết ở loại khá giỏi môn Ngữ Văn.
- Có 1 học sinh đạt giải 3 trong kì thi học sinh giỏi cấp Tỉnh.
Những thành tích đạt được có thể chưa như mong muốn, nhưng đó là kết
quả của nỗ lực cố gắng nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân, trong đó có
một phần sự đầu tư cho việc rèn luyện kĩ năng viết phần giải thích cho dạng đề nghị
luận xã hội
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Thực hiện đổi mới dạy học nói chung, đổi mới kiểm tra đánh giá nói riêng và
việc đổi mới kiểm tra đánh giá gắn với đổi mới dạy học môn Ngữ Văn trong nhà
trường phổ thông đã có những kết quả đáng ghi nhận bước đầu. Trong đó, việc
đánh giá kiểm tra bằng hình thức viết đoạn văn nghị luận xã hội có sự đóng góp
không nhỏ. Quan tâm rèn luyện kĩ năng giải thích cho dạng đề văn này bởi vậy là
việc cần thiết.
Rèn luyện kĩ năng làm văn cho học sinh là một phần không thể thiếu của bộ
môn Ngữ văn ở trường THPT. Đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng và khó khăn
của giáo viên. Tùy thuộc vào từng kiểu bài, từng đối tượng học sinh, giáo viên cần
có mục tiêu, phương pháp và mức độ kiến thức phù hợp. Chuyên đề này của chúng
tôi đóng góp một hướng đi trong việc rèn luyện kĩ năng viết phần giải thích trong
đề văn nghị luận xã hội. Trên cơ sở lí thuyết về văn nghị luận, văn nghị luận xã hội,
chúng tôi xây dựng các bước rèn luyện kĩ năng từ nhận diện vấn đề nghị luận, tìm
ý, sắp xếp ý, kĩ năng viết đoạn v.v. Sáng kiến kinh nghiệm này đã có sự cụ thể hóa
lí thuyết trong các dạng bài tập thực hành ở dạng đề nghị luận xã hội.
2. Kiến nghị - đề xuất:
Trên cơ sở rèn luyện kĩ năng giải thích cho đề văn nghị luận xã hội trong kì
thi THPT Quốc Gia, chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số kiến nghị sau:
Các thao tác lập luận trong bài văn nghị luận không riêng rẽ, tách rời mà
3. Ngữ Văn 10, 11,12 – NXB Giáo dục, 2012
4. Hướng dẫn ôn tập và làm bài thi môn văn nghị luận xã hội. Nguyễn Tấn Huy, NXB Đại
học Sư phạm.
5. Rèn kĩ năng làm văn nghị luận. Bảo Quyến. NXB Giáo dục, 2001.
6. Chuyên đề văn nghị luận xã hội. Nguyễn Văn Quốc, Nguyễn Thị Quỳnh Nga.
NXB Đại học Sư phạm, 2012.
7. Bài tập rèn luyện kĩ năng dựng đoạn văn. Nguyễn Quang Ninh. NXB Giáo dục,
1998.
8. Từ điển thuật ngữ văn học - (Theo Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
- NXB Đại học quốc gia, 4- 1999).
MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1
1.1. Lý do chọn đề tài
1
1.2. Mục đích nghiên cứu
1
1.3 Đối tượng nghiên cứu
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
3
2.2.1. Thực tế giảng daỵ và chấm thi
3
2.22. Một số kĩ năng học sinh đã được trang bị
3
2.3. Kinh nghiệm và giải pháp rèn luyện kĩ năng viết phần giải thích
cho dạng đề nghị luận xã hội trong bài thi THPT Quốc Gia
4
2.3.1. Nâng cao nhận thức cho học sinh về tầm quan trọng của thao tác
lập luận giải thích trong đoạn văn nghị luận qua việc tham khảo ngữ
liệu:
4
2.3.2. Rèn kĩ năng giải thích cho đề văn nghị luận xã hội trong kì thi
THPT Quốc gia
6
2.4. Kết quả thực nghiệm: