SKKN giáo dục đạo đức cho học sinh hệ GDTX qua các đề văn nghị luận xã hội copy copy copy - Pdf 37

BM 01-Bia SKKN

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRUNG TÂM GDTX TP BIÊN HÒA
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH HỆ GDTX QUA
CÁC ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

Người thực hiện: NGUYỄN THỊ HÀ
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục



- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn



(Ghi rõ tên bộ môn)

- Lĩnh vực khác: ....................................................... 
(Ghi rõ tên lĩnh vực)

Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
 Mô hình
 Phần mềm
 Phim ảnh
 Hiện vật khác

Số năm có kinh nghiệm: 12
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây: 3

2


BM03-TMSKKN

Tên đề tài:
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH HỆ GDTX QUA CÁC ĐỀ
VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong các nhà trường của nước ta hiện nay luôn coi trọng và quán triệt sâu
sắc, toàn diện việc giáo dục tố chất, lấy giáo dục con người làm gốc, giáo dục đạo
đức là ưu tiên, coi sự nghiệp trồng người là nhiệm vụ cơ bản của giáo dục. Chúng
ta phải nỗ lực bồi dưỡng con người phát triển toàn diện đức – trí – thể – mỹ với
phương châm dạy chữ, dạy nghề, dạy làm người.
Nghị quyết của Bộ chính trị về cải cách giáo dục đã chỉ rõ:“ Giáo dục thế hệ
trẻ yêu quê hương, Tổ quốc XHCN và tinh thần quốc tế vô sản, ý thức làm chủ tập
thể, tinh thần đoàn kết, thân ái, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, có ý
thức kỷ luật, tôn trọng và bảo vệ của công, đức tính thật thà, khiêm tốn, dũng
cảm…”
Do đó, việc giáo dục đạo đức cho học sinh là một quá trình lâu dài, xuyên
suốt trong quá trình giáo dục. Nó đòi hỏi phải có sự chung tay, góp sức của gia
đình, nhà trường và toàn xã hội. Muốn đưa nước ta trở nên giàu mạnh, văn minh
thì trước tiên phải xây dựng được những lớp người có đủ trí và đức. Những lớp
người đó không ai khác chính là thế hệ trẻ hôm nay, những người đang còn ngồi
trên ghế nhà trường, họ phải được trang bị đầy đủ đức và tài để trở thành chủ nhân
tương lai của đất nước; phải lấy đạo đức làm gốc, bởi vì“Có tài mà không có đức
là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó khăn”(Bác Hồ).

sưu tầm với các đề văn cụ thể.
* Phương pháp nghiên cứu:
Để hoàn thành đề tài này tôi đã sử dụng phương pháp thử nghiệm, phân loại,
thống kê kết hợp với việc sưu tầm, khảo sát của bản thân trong quá trình giảng dạy
trong ba năm học gần đây tại trung tâm GDTX huyện Trảng Bom và thành phố
Biên Hòa.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
a. Khái niệm và vai trò của giáo dục đạo đức:
* Khái niệm:
4


Giáo dục là khái niệm cơ bản quan trọng trong các khoa học nghiên cứu về
con người. Theo Từ điển Tiếng Việt (Trang 345 NXB Đà Nẵng- Viện Ngôn ngữ
học) thì: "Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát
triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó làm cho đối tượng đó dần dần
có được những phẩm chất, năng lực theo yêu cầu".
Giáo dục đạo đức là một bộ phận của Giáo dục và là sự tác động đến đối
tượng giáo dục để họ dần dần có được những quan điểm, quan niệm chung về
công bằng, bất công, về cái thiện, cái ác, về lương tâm, danh dự và những phạm trù
khác thuộc lĩnh vực đạo đức tinh thần của xã hội. Các tiêu chuẩn về đạo đức xã hội
tồn tại bất thành văn nhưng được xã hội thừa nhận và mỗi cá nhân buộc phải tuân
theo thì mới có thể trở thành người có phẩm chất đạo đức tốt đẹp. Đó là các chuẩn
mực đạo đức như: "Yêu quê hương đất nước"; "Kính trọng ông bà, cha mẹ"; Kính
trên, nhường dưới"; "Tôn sư, trọng đạo"…
* Vai trò của giáo dục đạo đức
Sản phẩm của giáo dục là con người. Vậy nên việc hình thành nên những
phẩm chất đạo đức tốt đẹp cho con người là một phần rất quan trọng trong quá
trình giáo dục. Khi nói về vai trò của Giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:

Dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì.
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Từ quan niệm của Nguyễn Du về đồng tiền trong Truyện Kiều, anh/ chị
hãy trình bày quan niệm của mình về đồng tiền trong cuộc sống hôm nay.
Gợi ý cách làm
* Mở bài:
- Nguyễn Du là đại thi hào của dân tộc. Tên tuổi của ông gắn với kiệt tác
Truyện Kiều.
- Ở tác phẩm này, bên cạnh giá trị nhân đạo lớn lao, Nguyễn Du còn cho
người đọc một cái nhìn hiện thực sắc lạnh về ma lực của đồng tiền trong xã hội
phong kiến đương thời. Từ đó gợi cho ta suy nghĩ về đồng tiền trong xã hội hôm
nay.
* Thân bài:
- Giải thích “tiền” và vai trò của đồng tiền:
+ Tiền là vật đúc bằng kim loại hay in bằng giấy do ngân hàng phát hành,
dùng làm vật trung gian để trao đổi hàng hoá, vật phẩm.
+ Tiền ra đời đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử phát triển của loài người.
Nó thúc đẩy sản xuất, là phương tiện trao đổi hàng hoá. Bản chất đồng tiền là hữu
ích đối với con người.
- Cái nhìn của Nguyễn Du đối với đồng tiền trong Truyện Kiều:
Nguyễn Du có một cái nhìn toàn diện về tính hai mặt của đồng tiền.
+ Về mặt hữu ích: Kiều bán mình chuộc cha và em, Từ Hải chuộc Kiều ra
khỏi lầu xanh.
+ Về mặt trái của đồng tiền: “Đổi trắng thay đen khó gì”. Tiền làm nhiều kẻ
trở nên tham tàn, độc ác, nhẫn tâm.
-> Có thể nói, Nguyễn Du đã có một cái nhìn đúng đắn về đồng tiền.
Ông đã chỉ rõ khi đồng tiền sử dụng nhằm mục đích xấu, bị kẻ xấu thao túng thì
đồng tiền trở nên có sức mạnh ghê ghớm làm biến dạng sự việc, con người.
10



11


nhận thức và cũng rất khó khăn đối với mục đích giáo dục của giáo viên là có thể
sát hơn trong việc uốn nắn học sinh.
Vì vậy trước vấn đề này tôi mạnh dạn đề xuất một số yêu cầu trong việc ra
đề và định hướng học sinh tìm hiểu đề.
a. Yêu cầu của việc ra đề
Các vấn đề đặt ra trong nghị luận xã hội thường rất rộng nên chúng ta có thể
vận dụng tục ngữ, ca dao, danh ngôn, những sự kiên nổi bật trong đời sống chính
trị xã hội để ra đề. Và theo tôi, ta có thể ra đề kiểm tra nghị luận xã hội thường
xuyên theo yêu cầu của môn học cho cả cấp học. Hoặc có thể ra đề với hình thức
bài tập về nhà để HS suy nghĩ và làm bài ở nhà, và GV có thể trao đổi lại trong tiết
trả bài…
Chẳng hạn, gần đây tình trạng nữ sinh đánh nhau bỗng trở nên khá phổ biến,
nó trở thành nỗi nhức nhối cho biết bao bậc phụ huynh và dư luận. Vậy thì với tư
cách là một người học sinh cùng trang lứa, em nghĩ gì về tình trạng trên?
Với yêu cầu của đề bài đó, chắc chắn chúng ta sẽ có những cách nhìn sâu sắc
hơn về giới trẻ hiện nay và giúp HS của mình định hướng tốt hơn trên con đường
đầy chông gai phía trước.
Như vậy có thể nhận thấy yêu cầu đối với việc ra đề Nghị luận xã hội là:
Thứ nhất: Đề văn cần phải thể hiện tính đúng đắn chính xác và phù hợp.
Điều này có nghĩa là đề ra phải trích dẫn đúng câu chữ và đúng quy cách. Nếu
không sẽ khiến cho học sinh khó hiểu hoặc hiểu sai lệch vấn đề. Hơn nữa là đề văn
phải phù hợp với trình độ, năng lực học sinh. Không ra những đề văn vượt khó tầm
hiểu biết của các em.
Thứ hai: Đề văn nghị luận xã hội phải đánh trúng đối tượng, tức là khi ra đề
giáo viên phải nắm bắt trước tình hình học sinh để hướng vào những vấn đề thuộc
phạm trù đạo đức mà ở tập thể hoặc cá nhân học sinh đang có những biểu hiện tiêu

văn phù hợp vừa phát huy tính tích cực lại cũng có thể ngăn chặn đẩy lùi những
tiêu cực.
* Phân loại đối tượng:
- Đối với tập thể học viên:
Ta nên chọn những vấn đề cập nhật, nóng hổi bức thiết nhất của đời sống xã
hội. Đặc biệt có liên quan đến đạo đức, lối sống, niềm tin, lý tưởng… của học viên
để ra đề. Nhưng cũng cần quan tâm đến những vấn đề chung cho nhận thức của tất
13


cả các em. Theo quan điểm cá nhân thì qua việc ra đề phải làm thế nào giúp học
sinh tái hiện lại được những gì mà các em đã thấy về đời sống xã hội. Từ đó giúp
các em tự nhận thức. Vấn đề tái hiện lại rất quan trọng, nó giúp cho con người ta
lâu nay có thể là thờ ơ, không hiểu… sẽ đi đến nhận thức được nhiều điều từ
những vấn đề tưởng chừng như là rất cũ. Và từ đó mà có sự vận động thay đổi
trong chính bản thân mình. Chẳng hạn:
Đề 1: Có người đã cho rằng: "Tất cả những gì trong phim, truyện và trên sân
khấu đều đáng để cho chúng ta học tập".
Em có suy nghĩ như thế nào về vấn đề này?
=> Tác dụng của đề giáo dục cho học sinh cách nhìn nhận, đánh giá
và cách thức học hỏi khi tiếp cận những vấn đề xã hội.
Đề 2: Em có suy nghĩ gì về nghề nghiệp tương lai của mình?
=> Đề văn giúp cho việc giáo dục định hướng nghề nghiệp.
Đề 3: Ông cha ta có câu: "Tiên học lễ hậu học văn"
Em hãy giải thích và bình luận câu nói trên.
=> Tác dụng của đề giáo dục cho học sinh về đạo đức lễ nghĩa.
- Đối với học sinh cá biệt:
Những biểu hiện ở đối tượng học sinh này đang là một vấn đề nhức nhối
hiện nay. Các em thường vi phạm đạo đức, bê trễ việc học hành, sa vào những tệ
nạn xã hội… vì vậy với bộ môn văn (và cả ở những bộ môn khác) việc các em làm

xã hội, gia đình, con người và chính bản thân mình để từ đó mà sống, học tập và
làm việc một cách có ích.
Đề 4: “Người chiến thắng thực sự không phải chiến thắng người khác
mà chinh là chiến thắng bản thân mình”. Hãy bình luận câu nói trên.
Đề 5: Nghị luận về câu: “Học vấn có những chùm rễ đắng cay nhưng hoa
quả lại ngọt ngào”
Đề 6: “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi không có tình
thương”
Đề 7: Anh(Chị) hãy trả lời câu hỏi sau của nhà thơ Tố Hữu “Ôi! Sống đẹp
là thế nào hỡi bạn?”
Đề 8: Hãy phát biểu ý kiến của mình về mục đích học tập do UNESCO đề
xướng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”.
* Phân loại đề để phù hợp với đối tượng và mục đích của việc ra đề (kể cả
mục đích rèn luyện kỹ năng thao tác như giải thích, chứng minh, bình luận…).
15


Khi phân loại đề, giáo viên phải căn cứ vào tình trạng đạo đức của học sinh
hiện nay để có thể phân ra thành những nhóm đề phù hợp. Qua khảo sát thực tế tôi
nhận thấy học sinh THPT hiện nay có nhiều biểu hiện sa sút về mặt đạo đức lối
sống như: không vâng lời ông bà, cha mẹ, nói dối gia đình lấy tiền la cà quán xá,
vô lễ với thầy cô… Không coi trọng việc học hành, tu dưỡng đạo đức, có tư tưởng
cá nhân, ích kỷ. Có một bộ phận học sinh hiểu rất mơ hồ về lĩnh vực chính trị- xã
hội. Chẳng hạn như về chiến tranh, về lịch sử dân tộc. Có em còn cho rằng: "Đó là
bịa thêm chứ không hoàn toàn là sự thật". Về nghề nghiệp các em không biết cách
định hướng. Điều đáng buồn là có những học sinh sống, học tập mà không hề biết
đến mục đích sống, lý tưởng sống là gì? Khi được hỏi mục đích đi học của em là
gì thì nhiều em trả lời một cách rất tự nhiên rằng: "Đi học để lấy cái bằng lớp 12 ";
"Đi học để sau này khỏi phải làm ruộng". Một thực tế nữa là có những học sinh
không may vấp ngã thì lâm vào tình trạng bi quan chán nản, không tự mình đứng

Như vậy việc phân loại bài làm nhất là về phương diện nội dung có thể nói
là việc làm hữu ích vì thực chất cũng chính là sư phân loại đối tượng học sinh để
tìm ra các đối tượng cần quan tâm giúp đỡ, giáo dục.
Một vấn đề nữa là khi chấm bài làm văn Nghị luận xã hội, Giáo viên nên
chú ý đánh giá những bài làm thể hiện quan điểm, tư tưởng, tình cảm đúng đắn,
chân thật. Có thể bài làm đó có những điểm chưa đạt về hình thức nhưng rất cần
trân trọng những nhận thức đúng đắn và tình cảm chân thật của các em. Nếu vì lỗi
hình thức mà cho điểm kém thì chưa chắc đã là một biện pháp giáo dục hay. Mặc
dù việc cho điểm bài làm văn của học sinh hiện nay còn nhiều điều đáng bàn
nhưng theo tôi khi chấm điểm ta nên đặt ra những yêu cầu nhất định cả về nội dung
và hình thức đối với bài làm của học sinh. Thực hiện đúng yêu cầu đó thì cho điểm
10. Không thực hiện được bao nhiêu % thì trừ đi. Như nhà giáo Đỗ Kim Hồi đã
nói: “Nên xuất phát từ điểm 10 để suy ra điểm 5, chứ không nên từ điểm 5 để suy
ngược mãi lên điểm 10”. Việc cho điểm không phải là cách để cải thiện chất lượng
học văn cũng như đạo đức học sinh. Nhưng chúng ta phải cho điểm để làm sao lần
sau học sinh vẫn mạnh dạn viết ra được những điều các em đã nghĩ, đã nhận thức.
b. Trả bài
Giờ trả bài là khâu cuối cùng hoàn chỉnh mục đích của việc ra đề văn. Vì
vậy, ở bước thứ nhất giáo viên có thể yêu cầu học sinh thực hiện việc tìm hiểu đề
lại. Sau đó giáo viên nhấn mạnh vấn đề mà đề bài yêu cầu, chỉ ra những dẫn chứng
17


thực tế trong đó có những biểu hiện mang tính tính cực lẫn tiêu cực có liên quan
đến đề.
Sau khi nhận xét chung và chữa một số lỗi về hình thức và nội dung trong
bài làm của học sinh, giáo viên có thể đọc một số bài văn tiêu biểu đã được phân
loại khi chấm bài và cho các học sinh khác nhận xét. Đó cũng là một lần giáo dục
các em.
Riêng đối với những học sinh có nhận thức sai lầm, lệch lạc hoặc có tâm sự

thôi. Cuộc sống vẫn chào đón họ với NV2, NV3. Quan trọng là họ đã nỗ lực hết
18


sức để khẳng định mình. Đó là ý nghĩa vẹn nguyên của các kỳ thi, và cũng là bản
chất của thành công.
Ngày còn nhỏ, tôi đã được đọc một câu chuyện rất xúc động. Truyện kể về
một cậu bé nghèo với bài văn tả lại mẹ – người phụ nữ đã che chở cuộc đời em.
Cậu bé viết về một người mẹ với mái tóc pha sương, với đôi bàn tay ram ráp nhăn
nheo nhưng dịu hiền và ấm áp. Cậu kết luận rằng: bà ngoại là người mẹ – người
phụ nữ đã nâng đỡ em trong suốt hành trình của cuộc đời. Bài văn lạc đề, phải về
nhà viết lại. Nhưng đó mới chính là một tác phẩm thành công, bởi ở đó chất chứa
tình yêu thương của đứa cháu mồ côi dành cho bà ngoại. Liệu có thành công nào,
tình cảm nào thiêng liêng hơn thế?
Nhiều năm trước, báo chí từng vinh danh một cậu học trò nghèo thi đậu đại
học với vị trí thủ khoa. Đối với cậu, đó là một thành công lớn. Nhưng có một thành
công khác, lặng thầm mà lớn lao, đó là chiến thắng của một người cha gần 20 năm
trời đạp xích lô nuôi con ăn học. Bao niềm tin và hi vọng hiện lên trên gương mặt
vốn đã chịu nhiều khắc khổ. Và ngày con trai đậu đại học cũng là ngày tốt nghiệp
khoá - học – của – một – người – cha.
Tôi biết có một nữ sinh tốt nghiệp đại học với tấm bằng loại ưu gần hai
mươi năm trước. Với tài năng của mình, cô có thể gặt hái thành công trên con
đường sự nghiệp và danh vọng. Nhưng cô sinh viên năm ấy đã chấp nhận hi sinh
những cơ hội của đời mình để trở thành một người vợ đảm đang, một người mẹ dịu
hiền của hai cô công chúa nhỏ.
Cho tới bây giờ, khi đã là một phụ nữ trung niên, Người vẫn nói với tôi rằng:
“Chăm sóc bố và hai con chu đáo, đối với mẹ đã là một thành công lớn”. Mỗi khi
nghe câu nói ấy, tôi lại rơi nước mắt. Gia đình là hạnh phúc, là thành quả đẹp đẽ
của đời mẹ, và chúng tôi phải cảm ơn mẹ vì điều đó.
Con người luôn khát khao thành công, nhưng mù quáng theo đuổi thành

lẽ không bao giờ được sống trong sự sung sướng, vui vẻ. Bốn mươi tuổi khi chưa
đi được nửa chặng đời người, bố đã phải sống chung với bao nhiêu bệnh tật: Đầu
tiên đó chỉ là những cơn đau dạ dày, rồi tiếp đến lại xuất hiện thêm nhiều biến
chứng. Trước đây, khi còn khỏe mạnh, bao giờ bố cũng rất phong độ.
Thế nhưng bây giờ, vẻ đẹp ấy dường như đã dần đổi thay: Thay vì những cánh
tay cuồn cuộn bắp, giờ đây chỉ còn là một dáng người gầy gầy, teo teo. Đôi mắt
sâu dưới hàng lông mày rậm, hai gò má cao cao lại dần nổi lên trên khuôn mặt sạm
đen vì sương gió. Tuy vậy, bệnh tật không thể làm mất đi tính cách bên trong của
bố, bố luôn là một người đầy nghị lực, giàu tự tin và hết lòng thương yêu gia đình.
Gia đình tôi không khá giả, mọi chi tiêu trong gia đình đều phụ thuộc vào đồng
tiền bố mẹ kiếm được hàng ngày. Dù bệnh tật, ốm đau nhưng bố chưa bao giờ chịu
đầu hàng số mệnh. Bố cố gắng vượt lên những cơn đau quằn quại để làm yên lòng
mọi người trong gia đình, cố gắng kiếm tiền bằng sức lao động của mình từ nghề
xe lai.
Hàng ngày, bố phải đi làm từ khi sáng sớm cho tới lúc mặt trời đã ngả bóng từ
lâu. Mái tóc bố đã dần bạc đi trong sương sớm. Công việc ấy rất dễ dàng với
những người bình thường nhưng với bố nó rất khó khăn và gian khổ. Bây giờ có
những lúc phải chở khách đi đường xa, đường xóc thì những cơn đau dạ dạy của
bố lại tái phát.
Và cả những ngày thời tiết thay đổi, có những trưa hè nắng to nhiệt độ tới 38-40
độ C, hay những ngày mưa ngâu rả rích cả tháng 7, tháng 8, rồi cả những tối mùa
đông lạnh giá, bố vẫn cố gắng đứng dưới những bóng cây kia mong khách qua
đường. Tôi luôn tự hào và hãnh diện với mọi người khi có được một người bố giàu
đức hy sinh, chịu thương, chịu khó như vậy.
Nhưng có phải đâu như vậy là xong. Mỗi ngày bố đứng như vậy thì khi trở về
những cơn đau quằn quại lại hành hạ bố. Nhìn khuôn mặt bố nhăn nhó lại, những
cơn đau vật vã mà bố phải chịu đựng, tôi chỉ biết òa lên mà khóc. Nhìn thấy bố như
vậy, lòng tôi như quặn đau hơn gấp trăm ngàn lần. Bố ơi, giá như con có thể mang
những cơn đau đó vào mình thay cho bố, giá như con có thể giúp bố kiếm tiền thì
hay biết mấy? Nếu làm được gì cho bố vào lúc này để bố được vui hơn, con sẽ làm

có hai chú chó con và một chú mèo. Có lúc bố còn mang về những chiếc lồng chim
đẹp nữa. Và hơn thế, trong suốt hơn năm năm trời chung sống với bệnh tật, tôi
chưa bao giờ nghe bố nhắc đến cái chết, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc
trốn tránh sự thật, bố luôn đối mặt với “tử thần”, bố luôn dành thời gian để có thể
làm được tất cả mọi việc khi chưa quá muộn.
Nhưng cuộc đời bố bao giờ cũng đầy đau khổ, khi mà cả gia đình đã dần khá
lên, khi các chị tôi đã có thể kiếm tiền, thì bố lại bỏ chị em tôi, bỏ mẹ, bỏ gia đình
này để ra đi về thế giới bên kia. Bố đi về một nơi rất xa mà không bao giờ được
gặp lại. Giờ đây khi tôi vấp ngã, tôi sẽ phải tự đứng dậy và đi tiếp bằng đôi chân
của mình, bởi bố đi xa, sẽ không còn ai nâng đỡ, che chở, động viên tôi nữa.
Bố có biết chăng nơi đây con cô đơn buồn tủi một mình không? Tại sao nỡ bỏ
con ở lại mà đi hả bố? Nhưng con cũng cảm ơn bố, bố đã cho con thêm một bài
học nữa, đó chính là trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta hãy trân trọng những gì
21


đang có, hãy yêu thương những người xung quanh mình hơn, và đặc biệt hãy quan
tâm, chăm sóc cho bố của mình, tha thứ cho bố, khi bố nóng giận và nỡ mắng mình
bởi bố luôn là người yêu thương nhất của chúng ta.
Bố ra đi, đi đến một thế giới khác, ở nơi đó bố sẽ không còn bệnh tật, sẽ thoát
khỏi cuộc sống thương đau này. Và bố hãy yên tâm, con sẽ luôn nhớ những lời dạy
của bố, sẽ luôn thương yêu, kính trọng biết ơn bố, sẽ sống theo gương sáng mà bố
đã rọi đường cho con đi. Hình ảnh của bố sẽ luôn ấp ủ trong lòng con. Những kỷ
niệm, những tình cảm bố dành cho con, con sẽ ôm ấp, trân trọng, nó như chính linh
hồn của mình.
Nguyễn Thị Hậu
(Lớp 10A2, Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, TP Vinh, Nghệ An)
III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI:
Việc giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua các đề nghị luận xã hội nếu chỉ
dừng lại ở việc nắm bắt tư tưởng, quan niệm sống của các em.v..v.cũng chưa


Số HV

Số HV
49

TBKT: Từ 5.0 trở
lên
SL
40

%
81,63

HK:Từ 5.0 trở
lên
SL
%
28
60,87
30
68,18
25
48,08

TBM:Từ 5.0 trở
lên
SL
%
30

50

30
44

81,08
88,00

32
45

86,49
90

30
44

81,08
88

b. Số liệu khảo sát: (GDTX Biên Hòa- HKI năm học 2012-2013)
* Khi chưa được thực hiện theo đề tài này:
Lớp

Số HV

10D1
11D1

46


Lớp
10D1
11D1

Số HV
35
34

TBKT: Từ 5.0 trở
lên
SL
20
19

%
57,14
55,88

HK: Từ 5.0
trở lên

TBM: Từ 5.0
trở lên

SL
23
21

SL

sinh gần giống như nhà điêu khắc tạo nên tác phẩm của mình nhưng bằng một thứ
chất liệu sống và phải trải qua một qúa trình tham gia của nhiều người chứ không
thể sáng tác một mình”.
Thời gian nghiên cứu không nhiều nên tôi rất mong sự nhận xét, đóng góp
của các đồng nghiệp để đề tài của tôi có chất lượng hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Bộ GD-ĐT (2006), Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 – 11 – 12, NXB GD.
2. Bộ GD-ĐT – Vụ giáo dục trung học Sách GV Ngữ văn lớp 10 – 11 – 12,
NXB GD.
3. Bộ GD-ĐT – Vụ giáo dục trung học (2007), Những vấn đề chung về đổi mới
giáo dục THPT môn Ngữ văn, NXB GD.
4. Bộ GD-ĐT – Vụ giáo dục trung học (2007), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên
Ngữ văn lớp 10-11-12, NXB GD.
5. Lê Bá Hán (Chủ biên), (1999), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB ĐHQG Hà
Nội.
6. Phương Lựu (Chủ biên), (2006), Lí luận văn học, NXB GD.
7. Lê Đình Mai (1995), Để làm tốt các kiểu bài văn nghị luận, NXB GD.
Biên Hòa, ngày 15 tháng 02 năm 2013.
NGƯỜI THỰC HIỆN

Nguyễn Thị Hà

24


BM04-NXĐGSKKN

SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status