Bí quyết giúp học sinh làm tốt phần nghị luận xã hội trong bài thi THPT quốc gia môn ngữ văn - Pdf 57

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
1.1.1.Mấy năm gần đây đề thi tất cả các môn nói chung và đề thi môn Ngữ văn nói
riêng liên tục được thay đổi,hoàn thiện,hướng tới chuẩn hóa theo khung ma trận
đề;đáp ứng được việc kiểm tra,đánh giá, xếp loại một cách đúng nhất trình độ,năng
lực học tập của hoc sinh.Theo dõi đề thi Ngữ văn mấy năm gần đây tôi thấy có rất
nhiều thay đổi.Thay đổi trước tiên và dễ nhận thấy là thời gian thi,chẳng hạn đề thi
từ trước năm 2013 thời gian thi trong vòng 150 phút,năm 2014 thời gian thi giảm
xuống 120,từ năm 2015-2016 thời gian thi lại điều chỉnh lên là 180 phút,từ năm
2017 đến nay thời gian co lại 120 phút .Thời gian thay đổi kéo theo nội dung đề thi
cũng có sự thay đổi rõ rệt.Chẳng hạn các đề thi trước năm 2013 có hai phần:phần
chung cho tất cả các thí sinh và phần riêng(phần tự chọn).Từ năm 2014 đề thi có
hai phần đọc hiểu và làm văn.Đề thi trước năm 2017 nhìn chung còn quá ôm
đồm,kiểm tra nhiều kiến thức của người học.Có cả đề thi dành cho các thí sinh
thuộc các ban khác nhau.Nhưng từ năm 2017 thời lượng giảm xuống còn 120
phút,nên đề thi cũng tập trung vào những vấn đề trọng tâm,đặc biệt phần đọc hiểu
và phần làm văn câu kiểm tra kiến thức nghị luận xã hội ngày càng chuẩn
hóa.Thay đổi lớn nhất của đề thi là phần đọc hiểu và phần làm văn nghị luận xã
hội.Phần văn nghị luận xã hội không còn là bài văn mà thay vào đó là đoạn văn với
dung lượng 200 chữ,nội dung được lấy từ một vấn đề có ý nghĩa phần đọc
hiểu.Thực tế đi chấm thi THPT quốc gia mấy mấy năm gần đây đặc biệt là năm đầu
tiên thay đổi yêu cầu từ viết bài văn sang viết đoạn văn học sinh vẫn còn nhầm lẫn
nhiều.Theo thống kê trong quá trình đi chấm thi THPT quốc gia của bản thân tôi tại
cụm chấm thi THPT Hàm Rồng,Thanh Hóa năm 2017,tỉ lệ học sinh viết sang kiểu
bài văn vẫn chiếm gần 50%,điều đáng nói là ngay cả học sinh học tốt môn văn vẫn
làm nhầm sang bài văn. Năm 2018 tình trạng này được khắc phục dần,tuy nhiên
vẫn còn một số học sinh vẫn làm sang bài viết văn.Đó mới chỉ riêng yêu cầu về
hình thức của bài làm chưa nói đến phần nội dung.Phần nội dung nhìn chung trong
quá trình đi chấm bài thi THPT quốc gia,thực tế ôn thi cho học sinh khối 12 tôi
nhận thấy các em rất yếu kĩ năng xác định yêu cầu đề,tìm ý,viết đoạn.Đa số đoạn
văn các em viết một cách tùy hứng,thường nghĩ gì thì viết vậy.Thậm chí các em

luận thường giới hạn trong phạm vi tác phẩm văn học đã được quy định trong
hướng dẫn ôn tập thì vấn đề nghị luận của văn nghị luận xã hội lại vô cùng đa dạng
và phong phú, rất khó có thể lường trước yêu cầu nghị luận sẽ hướng vào vấn đề xã
hội gì. Vì lẽ đó mà dạy học “tủ” với văn nghị luận xã hội là không thể và tất nhiên
cũng không nên.
Mặt khác, nếu như các tài liệu về nghị luận văn học rất dễ tìm thì tài liệu về
văn nghị luận xã hội trong nhà trường hiện nay lại rất khan hiếm…
Tính đến nay cũng đã 9 năm, kể từ khi Bộ GD & ĐT đổi mới trong việc ra đề
thi môn văn của kỳ thi tốt nghiệp THPT và ĐH-CĐ bằng việc đưa vào một câu nghị
luận xã hội chiếm đến 3 điểm trong phần thi bắt buộc (năm 2009),từ năm 2017 là 2
điểm. Song thực tế, thí sinh làm tốt câu này chỉ “đếm trên đầu ngón tay”. Theo
PGS-TS Đoàn Lê Giang- Trưởng khoa Văn học và ngôn ngữ trường ĐH Khoa học
xã hội và nhân văn TP Hồ Chí Minh cũng nhận định: “Số học sinh làm tốt ở câu
nghị luận xã hội không nhiều. Vì tại trường phổ thông các em còn quá lệ thuộc vào
cách học khuôn mẫu, thiếu tư duy sáng tạo (...) Một điều đặc biệt quan trọng nữa là
các em phải có kỹ năng làm bài, trình bày thế nào để thể hiện được quan điểm cá
nhân mà lại hợp lí”. (Theo nguồn tin của Mỹ Quyên, đăng trên Thanh niên online,
ngày 17/04/2012 ).
Từ thực tế đó,là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy ôn thi THPT Quốc
gia cho học sinh khối 12 Trường THPT Hoằng Hóa 4,tôi nhận thấy trong quá trình
ôn tập để giúp học sinh có kết quả cao nhất trong kì thi săp tới việc cần thiết bây
giờ phải trang bị cho các em “ Bí quyết giúp học sinh làm tốt phần nghị luận xã
hội trong bài thi Ngữ văn THPT Quốc gia ”. Đó là lí do khiến tôi mạnh dạn viết
sáng kiến kinh nghiệm này.Với mong muốn góp một phần nào giúp học sinh trong
trường làm tốt hơn bài làm văn nghị luận.Và,quan trọng hơn là thông qua việc
2


nghiên cứu đề tài này, tôi rất mong nhận được sự góp ý bổ sung từ các đồng nghiệp
để chúng ta cùng nhau dạy tốt hơn- cũng là giúp học sinh làm tốt bài thi của mình.

3


2. PHẦN NỘI DUNG:
2.1.Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu:
2.1.1.Xuất phát từ đặc trưng bài văn nghị luận, đoạn văn nghị luận.
2.1.1.1.Văn nghị luận là gì?
Để hiểu được khái niệm đoạn “Văn nghị luận”, trước hết chúng ta phải giúp
học sinh nắm được khái niệm “nghị luận”, “văn nghị luận” ?
Nghị luận: là bàn bạc, đánh giá, bày tỏ thái độ (đồng tình/phản đối; khen/chê
…) của mình trước một vấn đề nào đó.
Văn Nghị luận: là một thể loại văn học dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ để
bàn luận về một vấn đề nào đó (xã hội, chính trị, văn học …) nhằm tranh luận,
thuyết phục, bác bỏ, khẳng định, phủ nhận…giúp người đọc hiểu rõ vấn đề nêu ra.
Văn nghị luận: là một loại văn phổ biến sử dụng trong nhà trường hiện
nay. Văn nghị luận có tính khoa học, và đòi hỏi tư duy cao nhất nhằm kiểm tra khả
năng phân tích, tổng hợp và tư duy khoa học của học sinh mà -vẫn đánh giá được ở
học sinh khả năng diễn đạt và cảm thụ.
Một yếu tố làm nên sức hấp dẫn lớn của bài văn nghị luận chính là học sinh
phải bộc lộ được những quan niệm, tư tưởng của mình một cách rõ ràng trước một
vấn đề nghị luận cũng là muốn chia sẻ nhận thức, thuyết phục người đọc tin tưởng
vào tính đúng đắn, khách quan của những quan niệm tư tưởng đó . Để làm được
điều đó, học sinh trước hết phải nắm chắc được những đặc trưng về mặt kết cấu
của thể văn nghị luận.
2.1.1.2.Đoạn văn nghị luận:Vừa là một phân đoạn của văn bản nghị luận về nội
dung ( dựa trên cơ sở logic ngữ nghĩa) vừa là sự phân đoạn của văn bản nghị luận
về hình thức ( dựa trên dấu hiệu hình thức thể hiện văn bản).
Về mặt nội dung, đoạn văn nghị luận là một ý hoàn chỉnh ở một mức độ nhất
định nào đó về logic ngữ nghĩa, có thể nắm bắt được một cách tương đối dễ dàng.
Mỗi đoạn văn trong văn bản diễn đạt một ý, các ý có mối liên quan chặt chẽ với

cái việc tự sáng tạo ấy không trở thành anh hùng chủ nghĩa(4) .Trong khi sáng tác
nhà thơ không thể cứ chăm chăm: mình phải ghi dấu ấn của mình vào trong bài thơ
này, tập thơ nọ(5). Chính trong quá trình lao động dồn toàn tâm toàn ý bằng sự xúc
cảm tràn đầy, có thể nhà thơ sẽ tạo ra được bản sắc riêng biệt một cách tự nhiên,
nhà thơ sẽ biểu hiện được cái cá biệt của mình trong những giây phút cầm bút”(6)..
Mô hình đoạn văn: Câu 1 là câu mở đoạn, mang ý chính của đoạn gọi là câu chủ
đề. Bốn câu còn lại là những câu triển khai làm rõ ý của câu chủ đề. Đây là đoạn
văn giải thích có kết cấu diễn dịch.
Đoạn quy nạp.
Đoạn văn quy nạp là đoạn văn được trình bày đi từ các ý chi tiết, cụ thể nhằm
hướng tới ý khái quát nằm ở cuối đoạn. Các câu trên được trình bày bằng thao tác
minh hoạ, lập luận, cảm nhận và rút ra nhận xét, đánh giá chung.
Đoạn tổng phân hợp.
Đoạn văn tổng phân hợp là đoạn văn phối hợp diễn dịch với quy nạp. Câu mở
đoạn nêu ý khái quát bậc một, các câu tiếp theo khai triển ý khái quát, câu kết đoạn
là ý khái quát bậc hai mang tính chất nâng cao, mở rộng. Những câu khai triển được
thực hiện bằng thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận, nhận xét hoặc
nêu cảm tưởng, để từ đó đề xuất nhận định đối với chủ đề, tổng hợp lại, khẳng định
thêm giá trị của vấn đề.
Ví dụ: Đoạn văn tổng phân hợp, nội dung nói về đạo lí uống nước nhớ nguồn:
5


“ Lòng biết ơn là cơ sở của đạo làm người(1). Hiện nay trên khắp đất nước
ta đang dấy lên phong trào đền ơn đáp nghĩa đối với thương binh, liệt sĩ, những bà
mẹ anh hùng, những gia đình có công với cách mạng(2). Đảng và Nhà nước cùng
toàn dân thực sự quan tâm, chăm sóc các đối tượng chính sách(3). Thương binh
được học nghề, được trợ vốn làm ăn; các gia đình liệt sĩ, các bà mẹ Việt Nam anh
hùng được tặng nhà tình nghĩa, được các cơ quan đoàn thể phụng dưỡng, săn sóc
tận tình(4). Rồi những cuộc hành quân về chiến trường xưa tìm hài cốt đồng đội,



mở bài của đề bài giải thích câu thơ trích trong bài “ Nghe tiếng giã gạo” của Hồ
Chí Minh có kết cấu so sánh tương đồng.
So sánh tương phản.
Đoạn so sánh tương phản là đoạn văn có sự so sánh trái ngược nhau về nội
dung ý tưởng: những hình ảnh thơ văn, phong cách tác giả, hiện thực cuộc sống,…
tương phản nhau.
Ví dụ: Đoạn văn so sánh tương phản, nội dung nói về việc học hành :
Trong cuộc sống, không thiếu những người cho rằng cần học tập để trở
thành kẻ có tài, có tri thức giỏi hơn người trước mà không hề nghĩ tới việc rèn
luyện đạo đức, lễ nghĩa vốn là giá trị cao quý nhất trong các giá trị của con
người( 1). Những người ý luôn hợm mình, không chút khiêm tốn, đôi khi trở thành
người vô lễ, có hại cho xã hội(2). Đối với những người ấy, chúng ta cần giúp họ
hiểu rõ lời dạy của cổ nhân: “ Tiên học lễ, hậu học văn”( 3).
Mô hình đoạn văn: Ý tưởng của đoạn văn là nói về quan niệm của việc học: học để
làm người. Câu 1,2 nêu nội dung trái ngược với ý tưởng; câu 3 nêu ý tưởng. Nội
dung tương phản với ý tưởng bao giờ cũng được đề cập trước, sau đó dẫn đến nội
dung chính của ý tưởng. Đây là đoạn văn mở bài, giải thích câu nói của Khổng Tử “
Tiên học lễ, hậu học văn”.
Đoạn nhân quả
Trình bày nguyên nhân trước, chỉ ra kết quả sau.
Đoạn văn có kết cấu hai phần, phần trước trình bày nguyên nhân, phần sau trình bày
kết quả của sự việc, hiện tượng, vấn đề,…
Ví dụ : Đoạn văn nhân quả, nội dung nói tới lời khuyên về lòng biết ơn của
con cái với cha mẹ trong một bài ca dao:
Núi Thái Sơn là núi cao nhất, đồ sộ nhất, vững chãi nhất ở Trung Quốc,
cũng như tình cha mạnh mẽ, vững chắc(1). Chính người đã dạy dỗ hướng cho ta về
lẽ phải và truyền thêm cho ta sức mạnh để bay vào cuộc sống(2). Và thông qua
hình tượng nước trong nguồn, dòng nước tinh khiết nhất, mát lành nhất, dạt dào

trường sống được bảo vệ.
Mô hình đoạn văn: Các ý gối nhau để thể hiện chủ đề về môi trường sống. Các từ
ngữ được lặp lại: gỗ, trồng cây gây rừng, cây xanh bóng mát.
2.1.3. Những đặc trưng về ngôn ngữ, lời văn trong văn nghị luận:
Tất cả chúng ta đều hiểu rằng: Sức mạnh lôi cuốn của bài làm văn nghị luận
đối với người đọc không chỉ ở chỗ “viết cái gì ?” mà quan trọng còn là “Viết như
thế nào ?” ; “bằng thái độ, tình cảm ra sao ?” Bởi vậy, khi viết bài, học sinh nhất
thiết phải nắm được một số đặc trưng cơ bản về ngôn ngữ, lời văn trong văn nghị
luận.
Thứ nhất: Ngôn ngữ, lời văn của bài văn,đoạn văn nghị luận cần chuẩn xác,
trong sáng, thể hiện rung cảm chân thành, tự nhiên của người viết.Và như vậy cũng
có nghĩa là khi viết bài, học sinh phải biết cân nhắc từ cách dùng từ đến cách ngắt
câu để không chỉ diễn tả “đúng” mà còn phải là “trúng” bản chất của đối tượng,
“trúng” với điều mình muốn nói.
Thứ hai: Giọng văn phải làm sao phù hợp với vấn đề nghị luận, với nội dung
bài viết, nhiều khi như có hình, có khối và giàu nhịp điệu.
8


Thật vậy, viết văn cũng giống như giao tiếp trong đời sống, khi nên hài hước,
khi cần trữ tình cảm thương và ngược lại. Đặc biệt, cũng không nên lầm rung cảm
nơi lời văn qua các câu cảm thán, qua những lời “hô to, gọi giật” theo kiểu : “chao
ôi!...” ; “đẹp làm sao…” ; “hay biết bao nhiêu…”. Bởi nếu lạm dụng một cách
ngây thơ, nếu “ngụy trang” cho tâm hồn nghèo nàn của mình theo kiểu ấy, bài văn
sẽ trở nên sáo rỗng, lắm lúc buồn cười. Bởi rung cảm phải thật sự xuất phát tự đáy
lòng, từ sự “vỡ lẽ” của chính người viết , khi đó tự nó sẽ toát lên trong ý tứ, trong
giọng điệu bài văn mà người đọc không khó để nhận ra.
Văn nghị luận là văn nói lí, nhưng xét cho kĩ, nó không bao giờ chỉ thuần
tuý là nói lí, bởi trong lí có tình- có tình cảm của người viết, tình cảm đối với người
đọc, tình cảm đối với vấn đề đem bàn. Bởi vậy, văn nghị luận cũng có màu sắc tu

TNú trong tác phẩm “Rừng Xà Nu”- Nguyễn Trung Thành.
9


Tuy vậy,chúng ta cũng cần hết sức tránh một sai lầm ở chỗ đồng nhất sự việc,
nhân vật trong tác phẩm với sự việc, nhân vật ngoài đời sống. Ví dụ: cũng là bàn
luận về vấn đề liên quan đến ý chí và nghị lực của con người thì nhất thiết học sinh
không được lấy nhân vật Chí Phèo và Bá Kiến trong truyện ngắn “Chí Phèo”Nam Cao làm dẫn chứng minh hoạ cho các tệ nạn xã hội hiện nay…
Nói như vậy là khi bài văn,đoạn văn nghị luận xã hội nhất thiết phải có dẫn
chứng thực tế và ưu tiên hàng đầu cho dẫn chứng thực tế. Cần hết sức tránh tình
trạng bài viết chỉ là những lí lẽ suông (không có dẫn chứng). Nhưng cũng không
nên lạm dụng dẫn chứng mà bỏ qua các bước đi khác của quá trình lập luận.
2.2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
2.2.1.Hướng ra đề nghị luận xã hội trong kỳ tuyển sinh các cấp những năm gần
đây.
Thực tế tuyển sinh các cấp trong những năm gần đây cho thấy, hầu như tất
cả những câu hỏi của đề thi thuộc phần nghị luận xã hội đều gắn với những vấn đề
“nóng” của đời sống xã hội, có ý nghĩa thiết thực trong cuộc sống, có tính giáo dục
và tính thời sự cao…
Những vấn đề đặt ra để nghị luận không phải là những vấn đề phức tạp, lớn
lao chỉ là một trong những khía cạnh của đạo đức, tư tưởng, tình cảm,hiện tượng,sự
kiên…gắn liền với cuộc sống, với học tập, rèn luyện đạo đức, phương pháp nhận
thức… của một học sinh THPT.
Chúng ta không thể phủ nhận đề bài nghị luận xã hội khá phong phú và đa
dạng. Sự phong phú và đa dạng ấy thể hiện ở cả nội dung nghị luận cũng như dạng
thức đề thi.
Hai năm gần đây cụ thể từ năm 2017 cách ra đề thi phần nghị luận xã hội chỉ
co lại là một đoạn văn chỉ 200 chữ,và vấn đề nghị luận cũng chỉ cụ thể ở một khía
cạnh.
Chẳng hạn

tâm mà đề yêu cầu để viết, phải bằng những trải nghiệm của bản thân, trình bày
những hiểu biết, ý kiến, quan niệm, cách đánh giá, thái độ… của mình về các vấn
đề xã hội, từ đó rút ra được bài học (nhận thức và hành động) .
Tất nhiên, trước một vốn kiến thức phong phú, sâu sắc của bản thân về đời
sống xã hội- Nhưng cũng trước một quy định khá rõ ràng về dung lượng bài viết
200 chữ… Học sinh không thể không băn khoăn đi tìm cho mình một cách viết phù
hợp cho phần thi nghị luận xã hội.
2.2.3. Đối với giáo viên
Từ trước tới giờ,việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận ở trường phổ
thông còn nhiều ngộ nhận, chưa quan tâm đúng mực, đặc biệt trong quá trình giảng
dạy nhiều GV có thái độ xem nhẹ, thậm chí bỏ qua chúng.Nguyên nhân của tình
trạng này là do phân phối chương trình môn Ngữ văn THPT không có bài riêng về
kĩ năng viết đoạn văn nghị luận.Việc dạy kĩ năng này phụ thuộc vào từng giáo
viên.Chủ yếu được kết hợp,lồng ghép trong quá trình dạy ôn và dạy các bài làm
văn nghị luận.Hai năm trở lại đây do đề thi có sự thay đổi,chuyển từ viết bài văn
sang viết đoạn văn 200 chữ,nên trong quá trình ôn thi GV mới chú trọng đến rèn kĩ
năng viết đoạn văn cho học sinh.
2.2.4.. Đối với học sinh.
Thời đại chúng ta đang sống là thời đại khoa học công nghệ, đa số HS chỉ
muốn học các ngành khoa học tự nhiên, kinh tế, kĩ thuật,... HS ít có hứng thú với
môn văn, các em cho rằng không học văn vẫn biết đọc, biết viết, học văn không
thiết thực, nhưng đổi lại nếu các em không học các môn khoa học tự nhiên thì coi
như là học kém, nếu em nào theo học các môn khoa học xã hội thì bị coi nhẹ.
Vì lí do trên nên thực tế khi ôn thi THPT quốc gia cho học sinh tôi thấy đa số
các em rất lười suy nghĩ,lười viết bài.Việc nắm kiến thức kĩ năng về đoạn văn còn
khá mơ hồ.Nhiều em không nhớ kiến thức về đoạn văn,không biết cách trình bày
một đoạn văn như thế nào.Các em viết tùy tiện nghĩ gì viết đấy,viết theo kiểu chống
đối,qua loa.kết quả điểm bài thi thấp.
11


một cách giúp các em “tự nhắc mình” phải bám sát yêu cầu của đề trong lúc làm
bài và không bị lan man ý tứ, câu chữ cũng sẽ lưu loát hơn.
2.3.3.Ghi nhớ cách viết đoạn nghị luận xã hội.
Cách viết đoạn văn nghị luận xã hội cần sự ngắn gọn, súc tích nhưng vẫn
phải đầy đủ ý và không khô khan. Muốn vậy bạn cần gạch ra ý cụ thể trước khi đặt
bút làm bài. Và dàn ý cũng phải đầy đủ 3 phần . Cụ thể các phần như sau:
Phần mở đoạn:
- Dẫn dắt nêu chủ đề của đoạn văn cần viết.
Thân đoạn: (Phần thân đoạn có nhiều luận cứ- tuỳ thuộc vào từng vấn đề
nghị luận cụ thể. Song nhìn chung phải làm đầy đủ và làm tốt các luận cứ).
-Giải thích ngắn gọn chủ đề của đoạn.Ví dụ ở đề thi THPT quốc gia năm
2017 học sinh giải thích ngắn gọn “thấu cảm” là gì?
12


-Bàn luận làm sáng tỏ chủ đề của đoạn. Ví dụ ở đề thi THPT quốc gia
năm 2017 học sinh bàn luận “ý nghĩa” của sự thấu cảm trong cuộc sống.
Phần kết đoạn:Khái quát chủ dề đoạn văn.
2.3.4. Khéo léo lồng ghép, đưa dẫn chứng khi viết đoạn văn:
Bài nghị luận nói chung và đoạn văn nghị luận nói riêng không thể thiếu dẫn
chứng. Nguồn dẫn chứng lấy từ đâu, chúng ta đã biết .Nhưng khi sử dụng dẫn
chứng, giáo viên nên lưu ý với học sinh một số vấn đề sau:
-Thứ nhất: Không nên quá tham lam đưa thật nhiều dẫn chứng.
-Thứ hai: Không nên đưa quá ít dẫn chứng làm cho những lí lẽ của chúng ta
trở nên khô khan, thiếu thực tế, thiếu sức thuyết phục.
-Thứ ba: Đưa dẫn chứng vừa đủ. Cùng với việc nêu dẫn chứng, học sinh
cũng cần chú ý phân tích dẫn chứng để làm sáng tỏ hơn luận điểm, luận cứ của bài
viết.
Với mức độ phân tích dẫn chứng này, chúng ta cũng cần lưu ý học sinh nên
tuỳ từng tình huống mà thực hiện, nhưng dù thế nào cũng không nên sa đà, cũng

số

Đối
tượng

Lớp

S

Tỉ

lệ
Số Tỉ
HS % HS lệ%
48

12A3

12A7

Xếp loại
Điểm từ Điểm từ Điểm từ Điểm
1,75 -2,0 1,0-1,25 0,5-0,75
dưới 0,5
Số
HS

Tỉ
lệ
%


4

15

Tỉ
Số
lệ
HS
%
2

2

Điểm 0
Tỉ
Số
lệ
HS
%

4,2

0

0

5

0

- Thay đổi cách kiểm tra đánh giá,trân trọng những thành quả học tập của HS.
-Tổ chức thêm các buổi thảo luận chuyên đề,trao đổi kinh nghiệm giữa các
đồng nghiệp để nâng cao hiệu quả ôn tập cho HS.
-Trang bị thêm các phòng học bộ môn,phòng thực hành để trong quá trình dạy
học giáo viên và học sinh có thể tương tác,phát huy được hiệu quả dạy và học.
Trên đây là một số kinh nghiệm và đề xuất của chúng tôi xin được chia sẻ
cùng đồng nghiệp. Rất mong được sự trao đổi, góp ý để chúng tôi hoàn thiện ở
các đề tài tiếp theo.
Xin chân thành cảm ơn!

XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Hoằng Hóa, ngày 25 tháng 5 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.

Nguyễn Thị Thủy

15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status