1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Đọc - hiểu là một trong hai phần bắt buộc ở Đề thi Tốt nghiệp Trung học phổ
thông (THPT) môn Ngữ văn từ năm 2014, thay cho câu hỏi 2 điểm từ trước tới nay.
Sự thay đổi trong cấu trúc đề thi nhằm hướng đến thực hiện mục tiêu đổi mới căn
bản, toàn diện nền giáo dục theo tinh thần Nghị quyết 29/NQ-TW, trong đó có đổi
mới phương pháp kiểm tra, đánh giá học sinh (HS). Ngoài kĩ năng viết (Làm văn),
đề thi còn chú trọng đánh giá kĩ năng Đọc - hiểu văn bản. Học sinh phải tự mình
khám phá, tìm hiểu văn bản thay vì học thuộc, học tủ, học vẹt như trước đây. Vì
thế, ngoài việc rèn luyện kĩ năng Làm văn, giáo viên (GV) còn phải hướng dẫn kĩ
năng Đọc – hiểu văn bản cho HS.
Nhìn vào cấu trúc đề thi có thể thấy, phần Đọc - hiểu chỉ chiếm 3/10 điểm
(Phần Làm văn 7/10 điểm) nhưng lại có vai trò quan trọng trong việc quyết định
tổng số điểm toàn bài, góp phần cải thiện rõ rệt điểm số môn Ngữ văn. Đây là phần
duy nhất trong đề thi HS có thể đạt điểm tối đa bởi các em chỉ cần trả lời ngắn gọn,
chính xác, không cần mở bài, thân bài, kết bài, không cần lí luận sâu sắc, văn
phong mượt mà. Phần Đọc - hiểu được ví như “món quà tặng” dành riêng cho HS.
Cũng chính vì vậy, mỗi GV cần phải tận dụng triệt để, phát huy tối đa hiệu quả
phần thi này trong quá trình ôn tập cho HS.
Nội dung của phần Đọc - hiểu chủ yếu là kiến thức Tiếng Việt: từ ngữ, ngữ
pháp, phong cách ngôn ngữ, các biện pháp tu từ…. đã học ở các cấp Tiểu học,
Trung học cơ sở, Trung học phổ thông. Đây không phải là kiến thức mới, nhưng lại
dàn trải, chưa được hệ thống hóa. HS không thể ghi nhớ, nắm vững nếu không
được tái hiện, khái quát một cách bài bản, khoa học. Mặt khác, ngữ liệu được đưa
vào đề thi là những văn bản mới, nằm ngoài Sách giáo khoa (SGK). HS sẽ khó
khăn trong việc xác định và trả lời đúng vấn nếu không có sự định hướng, dẫn dắt
của GV. Tâm trạng hoang mang, lo lắng là điều không thể tránh khỏi. Đây cũng là
lí do thôi thúc người viết nghiên cứu đề tài này nhằm khắc phục những hạn chế, bất
cập nêu trên.
Ở Trường THPT Triệu Sơn 5, nơi tôi đang trực tiếp giảng dạy, phần Đọc - hiểu
thực sự là một “cứu cánh”, tạo ra cơ hội “gỡ điểm” cho các em. Với chất lượng đầu
- Các kiến thức và bài tập Đọc – hiểu
- HS đang học và ôn thi môn Ngữ văn ở cả ba khối lớp 10, 11, 12. Nhưng vì
hướng tới kì thi THPT Quốc gia trước mắt nên người viết tập trung dành sự ưu tiên,
quan tâm tới HS khối 12.
Cụ thể như sau:
- Năm học 2013-2014: 12C5, 12C6
- Năm học 2014-2015: 12C3, 12C5
- Năm học 2015-2016: 12B2, 12B6
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Phương pháp thực nghiệm (thông qua thực tế dạy học trên lớp, giao bài tập,
củng cố bài học, hướng dẫn HS chuẩn bị bài, kết hợp với kiểm tra, đánh giá).
Phương pháp khảo sát, phân tích
Phương pháp thống kê (đưa ra nhũng chỉ số cụ thể để đánh giá hiệu quả của
đề tài).
2
2
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
Nghị quyết số 29/NQTW xác định:
“Đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục
theo hướng đánh giá năng lực của người học; kết hợp đánh giá cả quá trình và
đánh giá cuối kì học, cuối năm học theo mô hình của các nước có nền giáo dục
phát triển”. Từ sau Nghị quyết 29, Bộ Giáo dục và Đào tạo(GD&ĐT) đã ban hành
nhiều chương trình hành động nhằm thúc đẩy quá trình đổi mới căn bản, toàn diện
nền giáo dục đào tạo để công cuộc đổi mới được diễn ra mạnh mẽ và quyết liệt
2016 này và có lẽ những năm tiếp theo, Đọc - hiểu vẫn là phần quan trọng, bắt
buộc trong cấu trúc đề thi môn Ngữ văn. Việc có mặt phần Đọc - hiểu văn bản
trong những năm học qua xuất phát từ xu hướng đổi mới từ kiểm tra đánh giá sự
ghi nhớ những kiến thức của HS (những kiến thức do GV đọc hộ, hiểu hộ, cảm hộ)
chuyển sang kiểm tra đánh giá năng lực đọc – hiểu của HS (HS tự mình đọc, cảm
thụ, tìm hiểu, khám phá văn bản).
GS.TS Trần Đình Sử cho rằng: “Nói một cách sơ lược thì đọc – hiểu văn bản
là một hoạt động giải mã văn bản. Mọi sự đọc, dù động cơ như thế nào, đều không
thoát li được việc tìm hiểu nghĩa của văn bản. Hiểu văn bản là hiểu được nội dung
thông tin, đúc rút được ý nghĩa, bản chất của ý nghĩ, tình cảm, quan điểm của tác
giả đặt ra trong văn bản; đồng thời bao hàm cả sự giải thích, phân tích, ứng dụng
làm nền tảng cho sự hình thành tư tưởng, tình cảm, thế giới quan, thị hiếu thẩm mĩ
của người đọc. Phần Đọc - hiểu luôn gắn với tính chất cảm thụ thẩm mĩ. Mỗi bài
đưa vào đề thi đều đã được GV chọn lọc, nghiên cứu kĩ lưỡng. Nên mỗi khi HS
được đọc – hiểu một ngữ liệu của đề thi thì tôi tin rằng ít nhiều đều có tác động,
ảnh hưởng tới các em có thể về tri thức hay về tư tưởng, tình cảm. Từ đó, có thể nói
phần Đọc - hiểu đã phần nào gián tiếp tác động tới thế giới tâm hồn, trí tuệ của HS.
Đó cũng chính là một cách giáo dục.
Nằm trong guồng quay của sự đổi mới, yêu cầu đặt ra đối với người GV là cần
nhanh chóng tiếp cận theo hướng cấu trúc đề mới, học hỏi, tìm tòi, đi trước HS một
bước, làm tốt công tác “người kĩ sư tâm hồn”, định hướng, giúp HS yên tâm, tin
tưởng, tránh tâm lí hoang mang và cuối cùng là tổ chức ôn thi có hiệu quả. Tôi tin
rằng, mỗi GV đứng lớp trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn trong thời gian qua đã có
những phương pháp ôn tập về kiến thức và kĩ năng của riêng mình giúp HS tự tin
khi tiếp cận với đề ở phần Đọc - hiểu.
2.2. Thực trạng vấn đề
Ngay sau khi có hướng dẫn của Bộ GD&ĐT về việc thay đổi cấu trúc đề thi
môn Ngữ văn (ngoài Làm văn, đề thi còn có thêm phần Đọc - hiểu), việc rèn luyện
kĩ năng đọc hiểu văn bản cho HS đã trở thành vấn đề nổi cộm, thu hút sự quan tâm,
chú ý của những người làm giáo dục, của các bậc phụ huynh và các em HS.
cả phụ thuộc vào năng lực, sự thông minh của HS. Việc ôn luyện phần Đọc - hiểu
cho HS còn mang tính “thời vụ”. Chỉ khi nào sắp thi, việc ôn tập mới diễn ra nhưng
cũng chỉ mới dừng lại ở mức độ cung cấp kiến thức đọc - hiểu. Các bài tập thực
hành cũng đã được đưa vào bài dạy nhưng các kĩ năng đọc - hiểu vẫn chưa được
chú trọng. Do bị hạn chế bởi thời gian, HS không được thực hành nhiều lần nên
kiến thức không được khắc sâu. Đối với nhiều HS, kĩ năng đọc hiểu đang ở mức độ
“yếu” và “kém”. Cũng chính vì vậy mà nảy sinh nhiều vấn đề: HS hiểu sai nội
dung ngữ liệu thậm chí xuyên tạc, đơm đặt vấn đề; đọc thoáng qua và trả lời theo
cách đối phó, không đúng trọng tâm; ngay cả việc xác định yêu cầu của đề bài còn
chưa đúng thì không thể nào trả lời chính xác. Đó là một thực tế mà mỗi GV dạy
Văn phải suy ngẫm, cần nhìn lại phương pháp dạy học và ôn tập cho HS?
Trường THPT Triệu Sơn 5 đóng trên địa bàn vùng nông thôn, điều kiện học tập
của học sinh còn gặp nhiều khó khăn. Tài liệu ở thư viện còn ít ỏi nên chưa có đủ
tư liệu để GV và HS tham khảo, tiếp cận với nhiều dạng đề đọc hiểu. Tinh thần học
tập và sự quan tâm của HS dành cho môn Ngữ văn chưa cao, năng lực HS còn hạn
chế nên việc ôn tập cho các em cần nhiều thời gian. Những kiến thức đọc - hiểu dù
đã được GV tái hiện lại, các bài tập thực hành cũng đã được đưa ra nhưng nhiều HS
vẫn tỏ ra khá “mù mờ”. Mỗi lần chấm bài, nhiều câu trả lời của học sinh khiến tôi
giật mình: “biện pháp tu từ: chính khóa, phương thức biểu đạt: chứng minh. Khi
ngữ liệu đưa ra là một đoạn trích trong văn bản “Viết cho mùa phượng cuối” của
Lạc Hi, yêu cầu HS xác định phong cách ngôn ngữ. Nhiều HS đã trả lời: Phong
cách ngôn ngữ: miêu tả. Hay khi được hỏi: Nêu nội dung chính của bài thơ “Nắng
Ba Đình” (Nguyễn Phan Hách), HS đã vô tư trả lời: Bài thơ nói về cuộc khởi Ba
Đình ở Thanh Hóa…
5
5
Từ thực trạng trên, tôi nhận thấy tính bức thiết của vấn đề. Việc đưa ra những
“Tôi muốn nhấn mạnh rằng, Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền và lợi
ích chính đáng của mình bởi vì chủ quyền biển đảo là thiêng liêng. Chúng tôi
luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở đảm bảo độc lập,
tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận
đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình hữu nghị viển vông,
lệ thuôc nào đó.” (Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng)
Câu 5. (0.25đ) Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên là gì?
Câu 6. (0.5đ) Những phép liên kết đã sử dụng trong đoạn trích trên? Giá trị của
những phép liên kết đó?
6
6
Câu 7. (0.25đ) Tìm 5 từ thuộc trường từ vựng “quốc gia” trong lời phát biểu trên?
Câu 8. (0.5đ) Trong khoảng từ 7-10 dòng, trình bày suy nghĩ của anh/chị về lòng
yêu nước của giới trẻ ngày nay cũng như sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối
với việc phát huy truyền thống tốt đẹp này.
Hệ thống câu hỏi đọc – hiểu thường liên quan tới các dạng kiến thức HS đã
được học từ cấp Tiểu học, THCS và THPT. Với những kiến thức tiếng Việt cơ bản
đã học qua, HS không thể ôn từng bài học và nếu HS không có ý thức để lưu giữ
và nắm vững thì sẽ rất khó khăn trong việc trả lời các câu hỏi, thậm chí mơ hồ
trong cách hiểu và trả lời. Do đó, cần phải trang bị cho học sinh một cách có hệ
thống và bài bản những kiến thức trọng tâm cơ bản phục vụ cho việc đọc hiểu văn
bản của học sinh.
Theo thống kê sưu tầm từ các dạng đề thi trong các kì thi trong những năm
học qua, bản thân tôi nhận thấy câu hỏi Đọc - hiểu thường xoay quanh việc kiểm
tra các dạng kiến thức trọng tâm sau:
Mức độ kiểm tra
Các dạng câu hỏi
7
cuốn cẩm nang hay một loại “từ điển” nhỏ mà HS có thể mang theo bên mình rất
tiện ích trong quá trình ôn tập. Hệ thống kiến thức đọc hiểu qua bảng biểu được tôi
chuyển tới từng HS. Tôi yêu cầu HS về nhà học và nắm vững vấn đề.
Ví dụ: Đây là một nội dung kiến thức Đọc - hiểu được tôi trích ra từ hệ thống
bảng biểu.
Các phương diện
Nội dung kiến thức
đọc – hiểu
- Là phong cách được dùng trong giao tiếp sinh hoạt hàng
ngày, không mang tính nghi thức, nhằm mục đích trao đổi
tâm tư, tình cảm của cá nhân với những người xung quanh
PCNN - Các dạng phổ biến: Chuyện trò, nhật kí, thư từ…
SINH - Các đặc trưng cơ bản:
HOẠT + Tính cụ thể
+ Tính cảm xúc
+ Tính cá thể
- Là phong cách được dùng trong các văn bản văn chương.
- Các dạng phổ biến: Tác phẩm văn học
PCNN
- Các đặc trưng cơ bản:
NGHỆ
PHONG
+ Tính hình tượng
THUẬT
CÁCH
+ Tính truyền cảm
NGÔN
- Các dạng phổ biến: Bản tin, phóng sự, tiểu phẩm ....
- Các đặc trưng cơ bản:
+ Tính thông tin, thời sự
+ Tính ngắn gọn
+ Tính sinh động, hấp dẫn
- Là phong cách được dùng trong các lĩnh vực hành chính
dùng để giao tiếp và điều hành xã hội.
- Các dạng phổ biến: VB quy phạm pháp luật, VB hội nghị,
PCNN
VB thủ tục hành chính ...
HÀNH
- Các đặc trưng cơ bản:
CHÍNH
+ Tính khuôn mẫu
+ Tính minh xác
+ Tính công vụ
Bước 2: Thời gian trên lớp, tôi yêu cầu HS tái hiện kiến thức đã được cung
cấp ở bảng biểu để kiểm tra tính tự giác và mức độ nắm vững bài học của các em.
Phần trọng tâm còn lại, tôi giúp HS khắc sâu kiến thức Đọc - hiểu qua các ví dụ
minh họa. Những ví dụ cho từng nội dung kiến thức đọc hiểu được tôi biên soạn
trước và phát đến từng HS. HS phải nhận diện và trả lời. Với mỗi câu trả lời đúng,
tôi đều đưa ra hình thức động viên kịp thời (khen ngợi, cộng điểm, trao món quà
nhỏ...) nên HS tỏ ra rất hào hứng, hăng say.
Ví dụ 1: Đây là những ví dụ mà tôi đã đưa ra để HS thực hành sau khi học
xong kiến thức Đọc - hiểu về các phong cách ngôn ngữ. Ở mỗi ngữ liệu, tôi đều trừ
ra một dòng để HS trả lời luôn vào tờ đề bài.
1.“Thưa quý vị! Đã trải qua những cuộc chiến tranh ngoại xâm tàn bạo và
đói nghèo cùng cực nên khát vọng hòa bình và thịnh vượng của Việt Nam chúng tôi
Đi thăm bệnh nhân về giữa đêm khuya. Trở về phòng, nằm thao thức không
ngủ được. Rừng khuya im lặng như tờ, không một tiếng chim kêu, không một tiếng
lá rụng hoặc một ngọn gió nào đó khẽ rung cành cây. Nghĩ gì đấy Th. ơi? Nghĩ gì
mà đôi mắt đăm đăm nhìn qua bóng đêm. Qua ánh trăng mờ Th. thấy biết bao là
viễn cảnh tươi đẹp, cả những cận cảnh êm đềm của những ngày sống giữa tình
thương trên mảnh đất Đức Phổ này. Rồi cảnh chia li, cảnh đau buồn cũng đến
nữa… Đáng trách lắm Th. ơi! Th. có nghe tiếng người thương binh khẽ rên và
tiếng súng vẫn nổ nơi xa. Chiến trường vẫn đang mùa chiến thắng.
(Nhật kí Đặng Thùy Trâm, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2005)
→ Đoạn trích trên thuộc phong cách ngôn ngữ ………………………
4.
Đây bát ngát Trường Sơn nằm ở giữa
Hai chị em Lào - Việt hai bên
Rừng tươi mát như mẹ hiền lắm sữa
Nghìn chiến khu từng nương bóng mẹ hiền
Tôi về giữa miền Nam trời của mẹ
Miền Nam ơi! Nửa vạt áo mưa dầm
Mỗi chiến công hay từng giọt lệ
Đều xóa dần núi cách sông ngăn
(Chim lượn trăm vòng - Chế Lan Viên)
→ Đoạn thơ trên thuộc phong cách ngôn ngữ……………..……………..
5. Cừu Dolly (5 tháng 7 năm 1996 – 14 tháng 2 năm 2003) là động vật có vú
đầu tiên được nhân bản vô tính trên thế giới. Nó được tạo ra bởi Ian Wilmut, Keith
Campbell và các cộng sựu tại Viện Roslin ở Edinburgh, Scotland
Dolly là động vật nhân bản vô tính đầu tiên được tạo ra từ tế bào sinh
dưỡng trưởng thành áp dụng phương pháp chuyển nhân. Việc tạo ra Dolly đã
chứng tỏ rằng một tế bào được lấy từ những bộ phận cơ thể đặc biệt có thể tái tạo
được cả một cơ thể hoàn chỉnh. Đặc biệt hơn, điều này chỉ ra, những tế bào soma
đã biệt hóa và trưởng thành từ cơ thể động vật dưới một số điều kiện nhất định có
thể chuyển thành những dạng toàn năng chưa biệt hóa và sau đó có thể phát triển
- Trên đường ta đi đánh giặc
Ta về Nam hay ta lên Bắc,
Ở đâu cũng gặp
Những ngọn đèn
Chong mắt
Đêm thâu
Những ngọn đèn không bao giờ nhắm mắt
Như những tâm hồn không bao giờ tắt…
(Ngọn đèn đứng gác – Chính Hữu)
(Các biện pháp tu từ: Nhân hóa, So sánh, Phép điệp)
Từ việc làm quen với nhiều ví dụ, HS có thể ghi nhớ và khắc sâu kiến thức
Đọc - hiểu một cách nhanh nhất. Dù mất thời gian biên soạn, sưu tầm các ví dụ
nhưng tôi thấy đây thực sự là một hướng đi đúng đắn, thiết thực và hiệu quả.
2.3.2. Khắc sâu các kĩ năng Đọc – hiểu qua thực hành
Phần Đọc - hiểu (3 điểm) có giá trị như một “món quà” tặng riêng cho thí
sinh nhưng trên thực tế có những em bỏ qua cơ hội này. Vì nhận thức chưa đúng
vai trò của phần thi nên dẫn đến việc hoặc làm vội vàng, hoặc tẩy xóa lung tung,
11
11
hoặc viết chữ cẩu thả… khiến giám khảo chấm bài dù muốn cũng không thể ghi
điểm cho phần bài làm.
Thực tế cho thấy, để được 0,5 điểm của bài tự luận, yêu cầu HS cần hiểu
đúng và cần diễn đạt trôi chảy một nội dung dài. Nhưng ở phần Đọc - hiểu, HS chỉ
cần một, hai dòng đúng kiến thức và có kĩ năng là HS đã có số điểm trọn vẹn mà
không lo giám khảo bỏ quên hay sót ý.
Dưới đây là những kinh nghiệm nhỏ được đúc rút trong quá trình ôn thi sẽ
giúp HS hình thành kĩ năng làm bài một cách hiệu quả.
Ví dụ:
Câu 1: Đoạn thơ được viết theo thể thơ nào?
Câu 2: Nêu nội dung cơ bản của đoạn thơ?
Nên trả lời:
Câu 1: Đoạn thơ được viết theo thể thơ tự do
Câu 2: Nội dung cơ bản của đoạn thơ là ....
Không nên trả lời:
1. Tự do
2. Tình yêu dành cho mẹ ....
2.3.2.4. Dùng kí hiệu thống nhất như trong đề thi
Ví dụ: Đề thi yêu cầu: I. Đọc – hiểu (3,0 điểm), trả lời các câu hỏi từ 1 đến 4:
Câu 1: ..., Câu 2: .... , Câu 3: ..., Câu 4: .... Thì khi trình bày trong bài làm, các HS
cũng cần ghi kí hiệu thống nhất như thế. Điều này sẽ đảm bảo ý thức tuân thủ, tôn
trọng đề thi và cũng đảm bảo quy cách thể thức trong việc trình bày khoa học,
mạch lạc, rõ ràng, tránh nhầm lẫn đáng tiếc.
2.3.2.5. Kiểm tra sau khi hoàn thành phần Đọc – hiểu
Có nhiều HS có kiến thức và kĩ năng đọc – hiểu khá tốt, làm trả lời khá
nhanh và vội vàng chuyển qua phần làm văn nên đã bỏ qua những yêu cầu trả lời.
Vì vậy, GV cần nhắc HS, khi hoàn thành phần thi cần đọc lại, rà soát lại từng câu
hỏi so với phần bài làm và sửa chữa chuẩn xác, bổ sung nếu cần thiết cho từng câu
trả lời. Không bỏ trống câu nào, dòng nào, ý nào của câu hỏi.
2.3.2.6. Trình bày sạch đẹp
Không nên “tiết kiệm” giấy thi mà cần trình bày có độ giãn dòng phù hợp.
Những dòng ghi câu (Câu 1, Câu 2, Câu 3, Câu 4...), thì không nên ghi phần trả lời
luôn mà xuống dòng để trả lời cho bài viết có độ “thông thoáng”, ưa nhìn, dễ đọc,
dễ chấm.
Ví dụ:
Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên là: .....
Câu 2:
Bước này, tôi tiến hành thường xuyên, liên tục trong mỗi buổi ôn tập với thời
gian tối đa là 30 phút. Tôi phát đề cho mỗi HS làm sau đó thu bài về nhà chấm và
nhận xét. Ngoài ra, tôi còn giao đề về nhà để HS làm và tiến hành sửa đề ở buổi
học hôm sau.
Để HS thực hành khắc sâu kiến thức, tôi đã sưu tầm và biên soạn bộ đề để
phục vụ cho quá trình ôn thi môn Ngữ văn nhằm hướng đến kì thi THPT quốc gia
năm 2016. Với quan niệm “mưa dầm thấm đất”, tôi đã cho HS làm nhiều đề thi
Đọc - hiểu không chỉ trên lớp mà còn giao bài tập về nhà, kết hợp với các bài kiểm
tra đánh giá. HS không chỉ được học nhiều nhớ nhiều mà còn hình thành được kĩ
năng, sự phản xạ tự nhiên khi tiếp cận với các dạng đề thi Đọc – hiểu.
14
14
Ví dụ: Đây là một trong số các đề trong “ngân hàng” đề Đọc - hiểu mà tôi đã
sưu tầm và biên soạn để HS thực hành.
ĐỀ BÀI
Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 4:
"Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu
của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi. Nó
kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm,
khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.
(Hồ Chí Minh)
Câu 1. (0.25đ) Anh/ chị hãy đặt tên cho đoạn trích.
Câu 2. (0.25đ) Chỉ ra phép liên kết chủ yếu được sử dụng trong đoạn văn.
Câu 3. (0.5đ) Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nào trong câu "Nó kết thành
một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó
nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước"? Với hai cụm động từ lướt qua... và
Câu 1:
Đặt tên cho đoạn trích: "Tinh thần yêu nước của nhân dân ta"…
Câu 2:
Phép liên kết chủ yếu được sử dụng trong đoạn văn: Phép thế với các đại từ
"đó, ấy, nó"
Câu 3: -Tác giả đã sử dụng các biện pháp nghệ thuật:
+ Ẩn dụ khi ngầm so sánh sức mạnh của lòng yêu nước với " một làn
sóng..."
+ Sử dụng phép điệp trong cấu trúc " Nó kết thành... nó lướt qua... nó nhấn
chìm...", điệp từ " nó"; phép liệt kê trong cả ba vế câu...
- Với hai cụm động từ lướt qua... và nhấn chìm..., tác giả đã khẳng định sức
mạnh vô địch của lòng yêu nước giúp nhân dân ta có thể vượt qua mọi khó khăn để
chiến thắng mọi kẻ thù đe dọa chủ quyền thiêng liêng của dân tộc.
16
16
- Có thể chứng minh bằng những trang sử hào hùng của dân tộc, từ những
cuộc chiến chống Tống, Nguyên, Minh, Thanh... tới hai cuộc kháng chiến chống
Pháp, chống Mĩ..., khi chúng ta là một nước nhỏ nhưng chưa hề khuất phục trước
bất cứ kẻ thù xâm lược nào.
Câu 4:
Lòng yêu nước của con người Việt Nam thời hiện đại (thời kì của kinh tế thị
trường, hội nhập…)
- Con người Việt Nam vừa tiếp nối truyền thống cha ông, thể hiện lòng yêu
nước trong ý thức bảo vệ, giữ gìn chủ quyền thiêng liêng của dân tộc;
- Có ý thức bảo vệ truyền thống văn hóa, những giá trị tinh thần của dân tộc
như phong tục, tập quán, những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể;
- Thể hiện ý thức tự tôn dân tộc bằng những hành động cụ thể, thiết thực;
có ý nghĩa gần như những công thức toán học mà HS cần ghi nhớ để áp dụng. Từ
những “bí quyết” này, tôi thấy quá trình ôn tập và làm bài của HS trở nên nhẹ
nhàng hơn. Các em tự tin, vững vàng hơn và cơ bản đều trả lời tốt với những dạng
câu hỏi mà tôi đã “mách nước”.
Sau đây là một số “mẹo” nhỏ mà tôi đã đưa ra để giúp HS trả lời nhanh các
câu hỏi có liên, quan đến kiến thức yêu cầu nhận biết, thông hiểu, kể cả phần vận
dụng thấp.
- Nhận biết 6 phong cách ngôn ngữ: Tôi yêu cầu HS dựa ngay vào các các
chi tiết ngoài lề của văn bản như: nhan đề, tác giả, nguồn, năm ra đời (thường ở
cuối văn bản).
Ví dụ:
+ Đối với phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, tôi yêu cầu HS ghi nhớ: “Tất cả
các bài thơ (đoạn thơ), các đoạn trích (tác phẩm) văn xuôi đều thuộc phong cách
ngôn ngữ nghệ thuật.
+ Đối với phong cách ngôn ngữ báo chí, tôi hướng dẫn HS chú ý đến xuất
xứ, nguồn bài viết ở cuối văn bản như: (In trên báo Hà Nội mới, Theo Báo mới,
8/2014, Theo T.A, báo điện tử Vietnamnet ngày 14/11/2006, Theo “Công việc tử
tế”, báo điện tử Tuoitreonline ngày 08/06/2007…..)
+ Khi ngữ liệu đưa ra là các tác phẩm thuộc các thể loại: Tuyên ngôn, xã
luận, Lời kêu gọi, Các bài phát biểu của các vị lãnh đạo….thường là phong cách
ngôn ngữ chính luận.
18
18
- Nhận biết các phương thức biểu đạt: Dựa vào các từ ngữ hay cách trình
bày. Đoạn trích thấy có sự việc diễn biến (Tự sự), nhiều từ biểu lộ cảm xúc (Biểu
cảm), nhiều từ khen chê, bộc lộ thái độ (Nghị luận), nhiều từ thuyết trình, giới thiệu
19
19
+ Nhiệm vụ của thanh niên đối với vấn đề chủ quyền biển đảo trong tình
hình hiện nay đặc biệt quan trọng, được đặt lên vị trí hàng đầu.
+ Chủ quyền biển đảo là quyền làm chủ của dân tộc đối với vùng biển
thiêng liêng Tổ quốc. Bảo vệ chủ quyền là bảo vệ quyền làm chủ của đất nước, của
mỗi người dân đối với biển đảo quê hương
+ Thế hệ thanh niên ngày nay cần ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ của
mình.
+ Ra sức phấn đấu học tập, trang bị cho mình đầy đủ nhận thức và hiểu biết
về vấn đề biển Đông. Cùng chung tay bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa, phát động các
phong trào hướng về Trường Sa, quyên góp, ủng hộ đóng góp công sức của mình
bảo vệ vùng biển quê hương.
- Ngoài ra, tôi còn hướng dẫn HS xác định các biện pháp tu từ, các thao tác
lập luận, các kiểu câu (phân theo mục đích nói và cấu tạo ngữ pháp), các thành
phần biệt lập của câu (phụ chú, cảm thán, tình thái, hô đáp)… bằng cách nêu ra dấu
hiệu nhận diện riêng của chúng, có những ví dụ cụ thể để HS có thể dễ dàng hình
dung và nắm bắt.
Ví dụ: + Biện pháp so sánh thể hiện ở các từ ngữ: “như”, “là”, “bằng”…..
+ Thành phần phụ chú thường đứng sau dấu phẩy, dấu (-), hay bỏ
trong dấu ngoặc đơn ( ).
Cơ bản, HS đều nhớ nhanh và nhớ lâu những “mẹo” này và giải quyết các
vấn đề đọc hiểu một cách dễ dàng hơn, ngay cả với những HS yếu kém, năng lực tư
duy hạn chế. Những “mẹo” này có ý nghĩa như một công cụ tra cứu thông minh,
tiện ích mà bất cứ HS nào cũng cần đến. Việc học và ôn tập phần Đọc - hiểu của
HS cơ bản đã tìm được hướng đi, những băn khoăn thắc mắc cũng dần được gỡ bỏ.
25,0 23
57,5 7
17,5 0
0
12B6 42
0
0
7
14,6 20
48,8 11
26,8 4
9,9
Bảng 2: Kết quả phần Đọc - hiểu văn bản lớp 12B2, 12B6 cuối học kì II.
Sĩ
Dưới 1
3/3 điểm 2 – 3 điểm
1- 2 điểm
0 - 1 điểm
điểm
Lớp số
SL %
SL
%
SL %
SL %
SL
%
12B2 40
2
5,5
21
- Đặc biệt, số HS đạt từ 0-1 điểm đã được hạn chế tới mức tối đa là 3 HS
(7,3%) và không còn số HS dưới 1 điểm.
3. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
3.1. Kết luận
Với việc áp dụng “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả phần Đọc - hiểu trong
Đề thi THPT quốc gia môn Ngữ văn cho học sinh lớp 12 ở Trường THPT Triệu
Sơn 5” vào những tiết dạy học và ôn tập, tôi thấy đã mang lại những kết quả rất khả
quan:
Trước hết, bản thân tôi đã nhận thức được vai trò quan trọng của phần Đọc hiểu trong cấu trúc đề thi để định hướng cho HS trong quá trình dạy học. Tôi đã có
một ngân hàng đề thi của riêng mình bằng việc sưu tầm và biên soạn theo từng năm
học. Trong quá trình biên soạn, giảng dạy tôi cũng nhận ra nhiều điều thú vị: những
tri thức đọc hiểu rất hay, có ý nghĩa đã bồi đắp tư tưởng, tình cảm, làm cho đời
sống tâm hồn con người trở nên phong phú, giàu có hơn. Một lần làm việc với đề là
một lần kiến thức được mở rộng, được cập nhật và cũng là một cách để tự học nâng
cao trình độ về kiến thức và kĩ năng đáp ứng yêu cầu mới của người GV hôm nay.
Đối với HS, tôi đã luôn duy trì phần Đọc - hiểu trong suốt quá trình học tập bộ
môn như cho tiến hành đọc – hiểu thường xuyên ở các tiết đọc văn, kiểm tra, đánh
giá kiến thức và kĩ năng đọc – hiểu ở các bài kiểm tra 15 phút hay kiểm tra định kì.
Khi tiến hành một cách có ý thức, tôi nhận thấy HS không còn cảm giác xa lạ với
các dạng đề đọc - hiểu mà có kĩ năng làm bài một cách thành thạo. Qua mỗi lần ôn
tập, kiểm tra, tôi lại cố gắng khắc sâu kiến thức và uốn nắn, nhắc nhở việc rèn
luyện kĩ năng nên HS đã yên tâm khi gặp các mức độ đề đọc - hiểu khác nhau.
Điều quan trọng hơn, các em cảm thấy hứng thú với việc trả lời hệ thống câu
hỏi đọc - hiểu. Do vậy, việc học tập của HS tích cực, sôi nổi hơn. Khi đối diện với
thi cử, HS cũng giảm bớt phần nào sự căng thẳng và áp lực, ít còn tâm lý chán học,
ngại học môn Ngữ văn vì phải ghi chép nhiều hay phải học thuộc lòng. Và cũng
Thanh Hóa, ngày 25 tháng 5 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến
kinh nghiệm của mình viết, không sao
chép nội dung của người khác.
Người viết
Chu Thị Nguyệt
23
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển
năng lực học sinh, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu tập huấn năm 2014.
2. Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn, Lê Xuân Soan, NXB Đại học
Quốc gia Hà Nội năm 2015.
3. Luyện giải đề trước kì thi đại học ba miền môn Ngữ văn, Trần Liên Quang,
Đỗ Thị Liên, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh 2015.
4. 39 Bộ đề Ngữ văn 12, Phạm Ngọc Thẩm, , NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
5. Hướng dẫn ôn tập kì thi Trung học phổ thông quốc gia môn Ngữ văn năm
học 2015-2016, Nguyễn Duy Kha (Chủ biên), Trần Nho Thìn, Ngô Văn Tuần,
NXB Giáo dục Việt Nam năm 2016
6. Chinh phục đề thi quốc gia THPT môn Ngữ văn, Nhóm tác giả Lovebook,
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015
7. Bộ đề Ngữ văn chuẩn bị cho kì thi Trung học phổ thông quốc gia, Nguyễn
Duy Kha (Chủ biên), Phan Huy Dũng, Đặng Lưu, Phạm Xuân Thạch, NXB Giáo
dục Việt Nam năm