THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1-Tên sáng kiến: Giúp học sinh đạt điểm cao khi làm bài Nghị luận văn học trong đề thi
THPT QG.
2-Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Học sinh đại trà, học sinh giỏi.
3-Thời gian áp dụng sáng kiến: Tháng 10/2014 đến tháng 5/2015
4-Tác giả:
- Họ và tên :
PHẠM THỊ KIỀU OANH
- Năm sinh :
1978
- Nơi thường trú:
Yên Chính – Ý Yên – Nam Định
- Trình độ chuyên môn: Cử nhân Ngữ văn
- Chức vụ công tác : Phó chủ tịch Công đoàn – Tổ trưởng chuyên môn.
- Nơi làm việc
: Trường THPT Mỹ Tho
- Địa chỉ liên hệ
: Yên Chính – Ý Yên – Nam Định
- Điện thoại: 0987211170
- Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 100 %
5- Đơn vị áp dụng sáng kiến
năm 2015 tôi nhận thấy đề thi THPT QG có thể định dạng vào các kiểu bài: Bàn luận về
một ý kiến hoặc hai ý kiến bàn về văn học; so sánh hai đoạn thơ, hai đoạn văn, hai chi
tiết, hai nhân vật, hai tư tưởng, hai khuynh hướng, quan điểm sáng tác, phong cách nghệ
thuật của hai nhà văn… Qua sự rà soát này tôi chợt nảy ra ý nghĩ: “Làm thế nào để học
sinh có phương pháp, kỹ năng làm những kiểu bài này một cách khoa học và hiệu quả
nhất?” trong khi phần lý thuyết làm văn trong trường THPT mới có kiểu bài “ Nghị luận
một ý kiến bàn về văn học” mà chưa có bài lý thuyết dạy cách làm kiểu bài nghị luận so
sánh khi làm văn. Từ sự trăn trở đó, năm học này tôi đã mạnh dạn chọn viết sáng kiến
kinh nghiệm với đề tài: “Giúp học sinh đạt điểm cao khi làm câu NLVH trong đề thi
THPT QG” . Tôi hy vọng rằng sáng kiến nhỏ bé này của mình sẽ góp phần nâng cao chất
lượng cho HS trong mỗi kỳ thi bởi qua ba kỳ thi tập trung thi đề của trường và của Sở
GD tôi thấy sáng kiến của mình đã có những kết quả nhất định.
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
Là năm đầu tiên BGD thực hiện đổi mới kì thi Quốc gia sau THPT, năm học này là một
thử thách không nhỏ đối với người dạy và người học. Yêu cầu phân hóa năng lực người
học, hướng tới kiểm tra năng lực tư duy, chống học vẹt, học tủ, kết quả ảo ... khiến cho đề
thi môn Ngữ Văn những năm gần đây không ngừng đổi mới, mỗi ngày yêu cầu cao hơn,
khó khăn hơn, không chỉ với người học mà cả người dạy. C ác đề thi là kiểu bài mới,
được áp dụng kể từ khi thay sách nên không ít giáo viên còn lúng túng khi giảng
dạy. Bởi lẽ, hầu hết giáo viên ra trường trước năm 2008 ít được tiếp cận kiểu bài
này, còn những giáo viên ra trường sau kinh nghiệm giảng dạy chưa có nhiều .
2
Mặt khác, dạng đề này đòi hỏi học sinh phải có kiến thức vững vàng, năng
lực cảm nhận tác phẩm văn chương sâu rộng và nhận định đề tinh nhạy để viết bài.
Do đó, cách học thuộc bài, học theo lối mòn sẽ không phát huy được tác dụng.
Trước thực trạng trên, bằng kinh nghiệm của bản thân và sự nghiên cứu tài liệu tập
là hành trình đi tìm kiếm hạt ngọc ẩn dấu sâu trong tâm hồn của mỗi con người. Hạt
ngọc ấy không lồ lộ nơi chớp bom, lửa đạn mà ẩn dấu trong vô vàn cát bụi thô nhám của
cuộc đời...”
Từ nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn “ Chiếc thuyền ngoài xa”
anh, (chị) hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
Hai ý kiến: Chia làm hai kiểu nhỏ:
+ Hai ý kiến bổ sung cho nhau
3
Đề 1: Về đoạn trích Việt Bắc của Tố Hữu, có người cho là “bản hùng ca về cuộc
kháng chiến chống Pháp”, có người lại cho là “khúc tình ca về ân tình cách mạng trong
15 năm ấy”.
Từ việc phân tích đoạn trích, hãy bình luận các ý kiến trên.
Đề 2: Bàn về bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu, có ý kiến cho rằng: “ Bài thơ mang vẻ đẹp
truyền thống của thi ca”. Ý kiến khác lại cho rằng: “ Bài thơ mang hơi thở của thời đại
cách mạng”. Từ những hiểu biết của mình về đoạn thơ sau,
“ Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”
( Việt Bắc – Tố Hữu, Ngữ văn 12,
Tập một, NXB G D 2014, tr.109)
Anh (chị) hãy bình luận hai ý kiến trên.
Anh, (chị) có đồng tình với hai ý kiến nêu trên ?
Đề 6: Bàn về bài thơ “Sóng” có ý kiến cho rằng: “Thành công của Xuân Quỳnh
chính là đã thể hiện khát vọng tình yêu của người phụ nữ mang vẻ đẹp hiện đại”. Ý kiến
khác lại cho rằng “Sức hấp dẫn của bài thơ chính là điệu tâm hồn yêu đậm đà vẻ đẹp
truyền thống”.
Từ cảm nhận về bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh (Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo
dục, 2009), anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên.
Đề 7: Nói về chủ đề của Truyện Tây Bắc, Tô Hoài đã từng tâm sự rằng: “Cuộc đấu
tranh giai cấp, riêng ở Tây Bắc mang một sắc thái đặc biệt. Nhìn lướt qua, nơi thế lực
phong kiến còn đương kéo lùi đất nước lại hàng trăm năm trước, chúng ta dễ tưởng
những cảnh người ở đấy cứ muôn thuở lặng lẽ. Không, ở nơi rừng núi mơ màng ấy, các
dân tộc đã không lặng lẽ chịu đựng. Họ đã thức tỉnh.” Bên cạnh đó, nhà văn cũng khẳng
định: “Ở mỗi nhân vật và trùm lên tất cả miền Tây, tôi đã đưa vào một không khí vời vợi,
làm cho đất nước và con người bay bổng lên hơn, rời bỏ được cái ám ảnh tủn mủn, lặt
vặt, thường làm co quắp nhân vật, nhỏ bé vấn đề và khung cảnh đi. Không biết cắt nghĩa
sao, nhưng tôi cho rằng ngay trong văn xuôi, cần phải đượm hồn thơ, có thế văn xuôi
mới trong sáng cất cao”.
Từ cảm nhận của mình về tác phẩm Vợ chồng A Phủ, anh (chị) hãy bình luận các ý
kiến trên của nhà văn Tô Hoài.
Đề 8: Về nhân vật người vợ nhặt trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Kim Lân, có
người khẳng định: “Thị là nạn nhân thê thảm của cái đói”; nhưng cũng có người nhận
thấy: “Thị là chủ nhân tích cực của cuộc đời mình”.
Anh, (chị) có suy nghĩ gì về hai ý kiến nêu trên ?
Đề 9: Bàn về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, lâu nay đã có nhiều cách hiểu
khác nhau: “Người si mê thấy đó chỉ là tỏ tình, người vội vàng bảo rằng tả cảnh, người
khôn ngoan thì làm một gạch nối: tình yêu – tình quê. Kẻ bảo hướng ngoại. Người khăng
khăng hướng nội”.
(Chu Văn Sơn, Ba đỉnh cao Thơ mới, Nxb Giáo dục, 2006, tr. 247)
Qua cảm nhận về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ (Ngữ văn 11, Tập 2, NXB GD, 2006,
tr.46 - 47), anh (chị) hãy cho biết suy nghĩ riêng của mình về các kiến trên?
Bước 3: Hướng dẫn HS giới thiệu tác giả, tác phẩm, nội dung nghị luận.
Lưu ý: nhắc HS đảm bảo nguyên tắc mở bài: ngắn gọn, đúng, trúng. Đối với dạng đề cho
ý kiến, dứt khoát phải giới thiệu được ý kiến đó vào trong mở bài. GV có thể nhắc lại cho
HS một số cách mở bài trực tiếp, gián tiếp (bằng một liên tưởng tương đồng, tương cận,
đối lập, bằng một ấn tượng, ...). Phần này, GV xem lại SGK Làm Văn 12 cải cách.
Bước 4: Hướng dẫn HS giải thích ý kiến (nếu cần). Việc giải thích thường phải bắt đầu
bằng giải thích ngôn từ, hình ảnh.
Ví dụ: Hạt ngọc ; bản hùng ca, khúc tình ca; nạn nhân, chủ nhân ...– Dạng hai ý kiến bổ
sung; kẻ khốn nạn, người khốn khổ (đề 2); nhân vật lý tưởng (đề 6) ...
VD: Giải thích hai ý kiến của đề 3
+ Ý kiến thứ nhất: Đất nước bình dị, gần gũi, thân quen hiện hữu trong cuộc sống sinh
hoạt hàng ngày là đất nước được tiếp cận, cảm nhận từ những hình ảnh bình dị, đời
thường. Đó là đất nước ở trong ta, ở quanh ta.
6
+ Ý kiến thứ hai: Đất nước thiêng liêng, lớn lao, kết tinh bao vẻ đẹp của tâm hồn người
Việt là đất nước được cảm nhận ở chiều sâu bên trong, ở những giá trị vĩnh hằng. Đó là
đất nước mang tầm vóc lớn lao với những vẻ đẹp truyền thống thiêng liêng
- Dạng đề hai ý kiến trái chiều: Giải thích ý kiến mà HS đã lựa chọn là đúng.
Bước 5: Hướng dẫn HS khẳng định ý kiến cá nhân
+ Dạng đề hai ý kiến bổ sung: thường cả hai ý kiến đều xác đáng, bổ sung cho nhau hoàn
thiện vấn đề cần nghị luận
+ Dạng đề hai ý kiến trái ngược hẳn nhau, điều đó bắt buộc người viết phải thể hiện được
chính kiến của mình. Có nghĩa là trong hai ý kiến, chỉ có một ý kiến là xác đáng. Để giải
quyết trường hợp này, không có cách nào khác là HS phải nắm vững, hiểu sâu tác phẩm
và vấn đề nghị luận. Dùng những kiến thức mình có này để phản biện đề, chọn ra ý kiến
đúng. Ví dụ: Đan Thiềm mới là nhân vật lý tưởng chứ không thể là Như Tô; Huấn Cao
cho chữ là tạ một tấm lòng tri kỉ chứ không thể là trả ơn mấy bữa rượu thịt tầm thường và
Một đất nước anh hùng, kiên cường bất khuất với truyền thống ngàn đời đánh giặc giữ
nước được gợi nhắc từ việc sử dụng linh hoạt truyền thuyết Thánh Gióng (đất nước lớn
lên khi dân mình biết trồng tre đánh giặc).
+ Một đất nước cần cù, chịu thương chịu khó trong lao động. Đất nước hiện thân trong
những phong tục tập quán ngàn đời, đặc biệt phong tục trồng lúa nước. ( cái kèo,cái cột
thành tên, hạt gạo một nắng hai sương...)
Hai từ Đất Nước được viết hoa trong suốt đoạn thơ đã thể hiện những xúc động thiêng
liêng, niềm tự hào tôn kính của nhà thơ dành cho đất nước..
- Chất liệu văn hóa, văn học dân gian được vận dụng nhuần nhuyễn đã giúp nhà thơ thể
hiện suy tưởng của mình về đất nước với quan niệm “Đất nước của Nhân dân”
Bước 6: Hướng dẫn học sinh bàn luận ý kiến:
Thông thường ở phần này HS sẽ khẳng định lại ý kiến, chỉ rõ ý kiến định hướng
cho người đọc biết thêm những gì về nội dung cần nghị luận như: Tâm hồn nhân vật trữ
tình, vẻ đẹp của nhân vật, phong cách hoặc quan điểm, tư tưởng sáng tác của nhà văn…).
VD cho đề số 3:
Bình luận hai ý kiến:
- Hai ý kiến là những cảm nhận khác nhau về hình ảnh đất nước trong đoạn thơ. Nếu ý
kiến thứ nhất chú ý đến vẻ đẹp bình dị, gần gũi đời thường thì ý kiến thứ hai lại khẳng
định những giá trị vĩnh hằng, những truyền thống thiêng liêng của hình tượng đất nước
trong đoạn thơ.
- Tuy khác nhau song hai ý kiến không đối lập, loại trừ nhau mà bổ sung cho nhau giúp ta
có được cái nhìn toàn vẹn sâu sắc hơn về hình tượng đất nước trong đoạn thơ. Từ hai ý
kiến có thể thấy được cách cảm nhận đất nước đầy sâu sắc, mới mẻ của nhà thơ Nguyễn
Khoa Điềm so với các nhà thơ trước đó và cùng thời.
* Kiểu bài nghị luận so sánh.
- So sánh là phương pháp nhận thức trong đó đặt sự vật này bên cạnh một hay nhiều
sự vật khác để đối chiếu, xem xét nhằm hiểu sự vật một cách toàn diện, kỹ lưỡng, rõ nét
và sâu sắc hơn. Trong thực tế đời sống, so sánh trở thành một thao tác phổ biến, thông
dụng nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức, đánh giá của con người trong nhiều lĩnh vực và
hoàn cảnh.
Ngoài ra có thể xuất hiện thêm các dạng:
- So sánh tư tưởng, khuynh hướng sáng tác, phong cách nghệ thuật của các nhà văn .
- So sánh các cấp độ về hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn học như: Nghệ thuật xây
dựng hình tượng, nghệ thuật phân tích và diễn tả tâm lý nhân vật, nghệ thuật sử dụng
ngôn từ.
Dấu hiệu nhận dạng: Thường dẫn yêu cầu là: “ Cảm nhận hai đoạn thơ…” hoặc “ Cảm
nhận hai đoạn văn sau…”
Ví dụ:
Đề 1: Cảm nhận của anh/chị về những vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người vợ nhặt (Vợ
nhặt - Kim Lân) và nhân vật người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn
Minh Châu).
Đề 2:
(1). "Biết đọc vỡ sách thánh hiền, từ những ngày nào, cái sở nguyện của viên quan
coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà mình một đôi câu đối do tay ông Huấn
Cao viết. Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm. Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ,
ông ít chịu cho chữ. Có được chữ ông Huấn mà treo là có một báu vật trên đời. Viên
quản ngục khổ tâm nhất...thì ân hận suốt đời" (Chữ người tử tù)
(2). "Ông lái đò nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Ông đã thuộc quy luật
phục kích của lũ đá nơi cửa ải(...) Cưỡi lên thác sông đà, phải cưỡi đến cùng như cưỡi
hổ. Dòng thác hùm beo đang hùng hục tế mạnh trên sông đá. Nắm chặt lấy được cái bờm
sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng
nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường thẳng chéo về phía cửa đá ấy... đứa thì ông
đò đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến. (Người lái đò sông Đà)
Cảm nhận hai đoạn văn trên, từ đó anh, (chị) hãy chỉ ra sự thống nhất và thay đổi
trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân trước và sau cách mạng tháng Tám 1945.
9
Đề 3:
(1). "Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có
Phủ…Mị phảng phất nghĩ như vậy.
Đám than đã vạc hẳn lửa. Mị không thổi, cũng không đứng yên. Mị nhớ lại đời
mình, Mị lại tưởng tượng như có thể một lúc nào đó, biết đâu A Phủ chẳng đã trốn được
rồi, lúc ấy bố con Pá Tra sẽ bảo là Mị đã cởi trói cho nó, Mị liền phải trói thay vào đấy,
Mị phải chết trên cái cọc ấy. Nghĩ thế trong tình cảnh này, làm sao Mị cũng không thấy
sợ.
Lúc ấy trong nhà đã tối bưng, Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt, nhuwg
Mị tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại…Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút
dây mây. A Phủ cứ thở phè từng hơi, không biết mê hay tỉnh. Lần lần, đến lúc gỡ hết
được hết dây trói, ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng, Mị chỉ thì thào được một tiếng
“Đi ngay…”, rồi Mị nghẹn lại. A Phủ bỗng khuỵu xuống, không bước nổi. Nhưng trước
cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy.
Mị đứng lặng trong bóng tối.
Rồi Mị cũng vụt chạy ra. Trời tối lắm. Nhưng Mị vẫn băng đi. Mỵ đuổi kịp A Phủ,
đã lăn, chạy, chạy xuống tới lưng dốc, Mị nói, thở trong hơi gió thốc lạnh buốt:
11
- A Phủ cho tôi đi.”
(“Vợ chồng A Phủ” - Tô Hoài)
(2) “Lần thứ hai, Tràng vừa trả hàng xong, ngồi uống nước ở ngoài cổng chợ tỉnh
thì thị ở đâu sầm sập chạy đến. Thị đứng trước mặt hắn sưng sỉa nói:
- Điêu! Người thế mà điêu!
Hắn giương mắt nhìn thị, không hiểu. thật ra lúc ấy hắn chưa nhận ra thị là ai. Hôm
nay thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày
xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt,
- Hôm ấy leo lẻo cái mồm hẹn xuống, thế mà mất mặt.
À, hắn nhớ ra rồi, hắn toét miệng cười.
- Chả hôm ấy thì hôm nay vậy. Này hãy ngồi xuống ăn miếng giầu đã.
- Có ăn thì ăn, chả ăn giầu.
học sinh cần có sự quan sát tinh tường, phát hiện chính xác và diễn đạt thật nổi bật, rõ
nét, tránh nói chung chung, mơ hồ. Cuối cùng là đánh giá, nhận xét và lí giải nguyên
nhân của sự giống và khác nhau đó. Bước này đòi hỏi những tiêu chuẩn chắc chắn và bản
lĩnh vững vàng cùng những hiểu biết sâu sắc ngoài văn bản để tránh những suy diễn tùy
tiện, chủ quan, thiếu sức thuyết phục. Chẳng hạn, trở lại với “Vợ nhặt” của Kim Lân và
“Một đám cưới” của Nam Cao ở trên sự khác biệt xuất phát từ hai phương pháp sáng tác
và hai phong cách nghệ thuật khác nhau. Nam Cao với văn học hiện thực phê phán
thường miêu tả hiện trạng đời sống đang đi xuống, bế tắc và èo uột và phong cách đặc
trưng của Nam Cao là sự lạnh lùng mà đau xót. Với Kim Lân, văn học hiện thực xã hội
chủ nghĩa thường mô tả trạng thái đời sống đi lên, hướng về ngày mai tươi sáng. Hơn
nữa, văn phong của cây bút một lòng đi về với đất, với thuần hậu nguyên thủy của cuộc
sống nông thôn này gắn bó với giọng đôn hậu, hóm hỉnh và đầy lạc quan.
- Cách trình bày kiểu bài so sánh thông thường có hai cách: Nối tiếp và song song.
+ Nối tiếp là lần lượt phân tích từng đối tượng sau đó chỉ ra cái giống và khác nhau .
Cách này dễ làm nhưng khó hay, nhiều khi trùng lặp ý và sắc thái so sánh bị chìm. Tuy
nhiên, vì yêu cầu cho đại trà nên đáp án đại học những năm qua thường gợi ý theo cách
này.
VD: Với đề số 7, HS có thể cảm nhận từng đoạn:
+ Đoan 1: Nhân vật Mị.
Thí sinh có thể cảm nhận theo các cách khác nhau nhưng đảm bảo các nội dung sau:
Cảm thương cho A Phủ và xót xa cho thân phận mình.
Niềm khát khao sống, tinh thần phản kháng mạnh mẽ của Mị;
Đặc sắc nghệ thuật: diễn tả tâm lí sắc sảo, câu văn giàu nhịp điệu, hình ảnh,...
+ Đoạn 2: Thí sinh có thể cảm nhận theo các cách khác nhau nhưng đảm bảo các nội
dung sau:
Cho thấy số phận bất hạnh của người vợ nhặt.
Khao khát hạnh phúc và mái ấm gia đình.
Ngôn ngữ sống động, giản dị, đậm chất đời thường.
- Nét chung của 2 đoạn văn:
+ Đều thể hiện nỗi thống khổ của người dân dưới sự áp bức bóc lột của bọn thực
gian trong ca dao, truyền thuyết, cổ tích…
Về giọng điệu, Nguyễn Đình Thi như đang phát ngôn giữa quảng đại quần chúng nên bài
thơ có giọng tráng ca hào sảng dõng dạc. Với Nguyễn Khoa Điềm, đó là giọng trữ tình
của một chàng trai trong lời tâm tình với người yêu, thân mật mà nghiêm trang, cảm xúc
đan cài suy tư, triết lí làm nên giọng triết luận tâm tình.
- Về dạng bài, có thể quy về các dạng sau:
+ Với dạng bài đối sánh ở cấp độ tác phẩm.
Học sinh phải nắm chắc đặc trưng thể loại, từ đó mới có thể phân tách các đối tượng ra
thành những bình diện tương ứng với đặc trưng thể loại để so sánh.
* Với thể loại thơ, khi phân tích, đối sánh, cần lưu ý đến các bình diện sau đây:
Bối cảnh trữ tình (hoàn cảnh thời gian, không gian... khơi nguồn cho thi cảm); nội dung
trữ tình (các cung bậc cảm xúc của chủ thể trữ tình); các phương thức nghệ thuật (thể thơ,
ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu, bút pháp...); phong cách nghệ thuật của các tác giả qua
những bài thơ đang phân tích.
* Với thể loại truyện ngắn, có thể phân tích, đối sánh cần lưu ý đến các bình diện sau:
Nội dung hiện thực được phản ánh (bức tranh về đời sống và con người được khắc hoạ
trong tác phẩm); nội dung tư tưởng; vẻ đẹp nhân vật…
Các phương thức nghệ thuật (nghệ thuật trần thuật, nghệ thuật xây dựng tình huống
truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, diễn tả tâm lí nhân vật, ngôn từ, giọng điệu...);
phong cách nghệ thuật của các tác giả qua những truyện ngắn đang phân tích.
+ Dạng bài đối sánh ở cấp độ đoạn thơ, đoạn văn
Đối với dạng bài này, học sinh vừa phải thâm nhập được vào các đoạn thơ, đoạn văn,
xem xét chúng như những đơn vị nghệ thuật độc lập lại vừa phải đặt chúng trong mối liên
hệ với chỉnh thể tác phẩm để việc phân tích, luận giải được xác thực, thoả đáng hơn.
Học sinh cũng phải nắm được đặc trưng thể loại để lấy đó làm hệ quy chiếu cho quá trình
14
giải quyết vấn đề.
* Với đoạn thơ, bám vào đặc trưng thể loại, có thể phân tích và chỉ ra điểm giống nhau,
Với dạng bài phân tích, so sánh tư tưởng nhân đạo, trên cơ sở nắm chắc khái niệm, các
biểu hiện của phạm trù này, học sinh lưu ý đến các bình diện:
Sự trân trọng, ngợi ca của các tác giả đối với những giá trị, vẻ đẹp, phẩm chất của con
người; thái độ bênh vực, đồng tình của các tác giả đối với những khát vọng sống chính
đáng của con người.
Niềm cảm thương của các tác giả đối với những khổ đau, bất hạnh của con người; thái độ
lên án, tố cáo của các tác giả với những đối tượng chà đạp lên quyền sống con người.
* Với dạng bài phân tích, đối sánh tư tưởng (hoặc cảm hứng, chủ nghĩa) yêu nước, học
sinh chú ý đến các bình diện:
Lòng tự hào dân tộc, ý thức tự tôn dân tộc (ý thức về chủ quyền đất nước, về phong tục,
tập quán, cương vực lãnh thổ, truyền thống văn hoá...); tình yêu thương đồng bào, nhân
dân…
Lòng căm thù giặc, ý chí chiến đấu, tinh thần xả thân vì Tổ quốc; khát vọng dựng xây đất
15
nước giàu mạnh; lòng yêu mến, gắn bó với cảnh trí non sông; các yếu tố nghệ thuật thể
hiện lòng yêu nước…
+ Dạng bài đối sánh cấp độ các vấn đề hình thức nghệ thuật của tác phẩm
* Với vấn đề nghệ thuật xây dựng tình huống truyện ở các tác phẩm khác nhau, cần chú ý
đến các bình diện dưới đây khi phân tích, đối sánh:
Các tình huống truyện ấy thuộc loại nào? (tình huống hành động, tình huống tâm trạng
hay tình huống nhận thức).
Việc tổ chức tình tiết, tổ chức mối quan hệ giữa các nhân vật trong tình huống truyện
được thực hiện như thế nào?
Ngôn ngữ xây dựng tình huống truyện được sử dụng ra sao? Tình huống truyện được xây
dựng như vậy góp phần thể hiện các giá trị nội dung như thế nào?
* Với nghệ thuật phân tích và diễn tả và tâm lý nhân vật, cần chú ý đến các bình diện sau
đây khi phân tích, đối sánh:
Các yếu tố bên ngoài góp phần thể hiện nội tâm (cử chỉ, điệu bộ, diện mạo, hành động,
Hoàn cảnh xuất hiện của cái “tôi” (không gian, thời gian); cảm xúc, suy tư của cái “tôi” ,
16
quan niệm, cảm nhận của cái “tôi” về thế giới khách quan; các yếu tố nghệ thuật góp
phần thể hiện cái “tôi”;
Hình tượng cái “tôi” nói lên được đặc điểm gì trong phong cách nghệ thuật của các tác
giả?
* Với hình tượng thiên nhiên, có thể chú ý các bình diện sau đây khi phân tích, đối sánh:
Hình tượng thiên nhiên được thể hiện qua những yếu tố không gian, thời gian như thế
nào? Hình tượng thiên nhiên đặc trưng cho miền đất nào, vùng quê nào?
Sắc diện, tính chất của hình tượng thiên nhiên (hùng vĩ, dữ dội hay thơ mộng, trữ tình;
lớn lao, kì vĩ hay bình dị, gần gũi...).
Hình tượng thiên nhiên thể hiện điều gì trong cách nhìn, quan niệm của người cầm bút về
thế giới khách quan, thể hiện vẻ đẹp gì trong tâm hồn tác giả, trong mối quan hệ của tác
giả với quê hương đất nước?
Các yếu tố nghệ thuật góp phần xây dựng, khắc tả hình tượng thiên nhiên? Hình tượng
thiên nhiên cho thấy điều gì trong phong cách nghệ thuật của người cầm bút?
+ Dạng bài đối sánh ở cấp độ chi tiết
Cần chú ý đến các bình diện sau đây khi phân tích, đối sánh các chi tiết: Hoàn cảnh xuất
hiện chi tiết; chi tiết thể hiện điều gì trong số phận, tính cách, tâm hồn của nhân vật?
Chi tiết thể hiện điều gì trong giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo của tác phẩm và trong
quan niệm nhân sinh của người cầm bút? Chi tiết được thể hiện qua một ngôn ngữ, giọng
điệu như thế nào?
Việc sử dụng chi tiết như vậy có phản ánh điều gì trong phong cách nghệ thuật của nhà
văn không?
Như vậy, với các đối tượng so sánh khác nhau, học sinh nên lưu ý những bình diện tương
ứng để hệ thống ý được triển khai thoả đáng và đầy đủ
3. Khả năng áp dụng vào thực tế của sáng kiến
Sáng kiến kinh nghiệm “ Giúp HS đạt điểm cao khi làm câu NLVH trong đề thi
30,04%
21,27%
4,25%
2. Lớp không áp dụng sáng kiến: 12A11
Năm học ( 20142015)
Học Kỳ I
Điểm giỏi
21,73%
Điểm khá
36,95%
Điểm TB
32,6%
17
Điểm yếu
8,69%
Học Kỳ II
IV.
23,91%