Một số biện pháp rèn kỹ năng làm bài văn tả người cho học sinh lớp 5b trường tiểu học đông sơn bỉm sơn - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN TẢ
NGƯỜI CHO HỌC SINH LỚP 5B - TRƯỜNG TH ĐÔNG SƠN

Người thực hiện: Nguyễn Thị Nhiên
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Đông Sơn
SKKN môn: Tiếng Việt

THANH HÓA NĂM 2017


MỤC LỤC
TT

NÔI DUNG

TRANG

1

A. MỞ ĐẦU

1

2


Cơ sở lí luận

2

8

Thực trạng

3

9

Kết quả của thực trạng

3

10

Giải quyết vấn đề

4

11

Các giải pháp thực hiện

4

12


Biện pháp 5

16

18

Kết quả nghiên cứu

18

19

C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

19

20

Kết luận

19

21

Kiến nghị:

20



kỹ năng thực hành. Vì vậy các em ít được khai thác và tính sáng tạo trong bài
viết.
Để giải quyết những vấn đề trên đây hay nói cách khác là để giúp học
sinh lớp 5B nói riêng, học sinh lớp 5 Tiểu học Đông Sơn nói chung có kỹ năng
viết bài văn tả người hay, chân thật, giàu hình ảnh. bài văn có giá trị nội dung
và nghệ thuật cao. Với những lý do trên, tôi chọn và viết sáng kiến “Một số biện
pháp rèn kĩ năng làm bài văn tả người cho học sinh lớp 5”
II. Mục đích nghiên cứu:
Tìm ra biện pháp rèn kĩ năng làm văn tả người cho học sinh lớp 5B trường
Tiểu học Đông Sơn để các em viết các bài văn tả người hay hơn, hấp dẫn hơn.
3


- Góp phần đổi mới phương pháp dạy học phân môn tập làm văn về thể loại
văn tả người, theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
lớp 5 trường Tiểu học Đông Sơn. Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn
Tiếng Việt nói chung của trường tiểu học Đông Sơn.
III. Đối tượng nghiên cứu:
Một số biện pháp rèn kĩ năng làm bài văn tả người cho học sinh lớp 5B
Trường Tiểu học Đông Sơn - Bỉm Sơn - Thanh Hóa”
IV. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu: + Nghiên cứu các tài liệu như nội dung chương
trình giảng dạy phân môn tập làm văn lớp 5, đọc tạp trí, sách báo văn học tuổi trẻ,
đọc tài liệu trên In-to- nét (như trang vantieuhoc.com…..)
- Phương pháp điều tra:
+ Điều tra, khảo sát học sinh lớp 5B trường Tiểu học Đông Sơn nhận diện và
vận dụng làm tập làm văn tả người.
+ Ra đề kiểm tra cho học sinh lớp 5B làm vào tuần 16.
- Phương pháp quan sát: Dự giờ đồng nghiệp trong trường giáo viên dạy
khối 5, các tiết dạy tập làm văn tả người.

năng của từng môn học (ban hành kèm theo quyết định số 16 của Bộ GD-ĐT) và
phù hợp trình độ của từng học sinh trong lớp mà “Hướng dẫn 896” của Bộ GD-ĐT
đã đề ra.
Tôi tin rằng đề tài này nếu được áp dụng và vận dụng hợp lý sẽ đem lại hiệu
quả cao cho việc dạy phân môn Tập làm văn, góp phần nâng cao chất lượng môn
Tiếng Việt lớp 5.
II. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến:
1. Thực trạng:
Năm nay (2016 – 2017), tôi được phân công phụ trách lớp 5B với 27 học
sinh. Hầu hết 27 học sinh của lớp 5B tôi chủ nhiệm còn rất hạn chế khi làm bài
Tập làm văn tả người. Học sinh lớp 5 dù khá quen với văn miêu tả song bây giờ
các em mới bắt đầu thực hiện làm bài văn tả người.Trong quá trình giảng dạy
thực tế của học sinh lớp 5B, tôi nhận thấy hầu hết các bài văn tả người của các
em còn viết lan man, chưa tập trung tả những nét đặc trưng của nhân vật. Lời
văn của các em còn nghèo nàn, thiếu hình ảnh, sử dụng các từ ngữ miêu tả chưa
phù hợp với đặc điểm hình dáng và tính cách của nhân vật, làm cho nhân vật trở
nên méo mó, thiếu tính chân thật trong bài viết của các em. Phần đông các em
viết mở bài theo kiểu trực tiếp nêu chưa hấp dẫn người đọc và phần kết bài các
em thường viết theo kiểu không mở rộng nêu chưa thể hiện hết cảm xúc của
người viết đối với nhân vật được miêu tả.
2. Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên:
Qua thực tế khảo sát (tuần 16 năm học 2016 - 2017 với đề bài văn "tả
người" ở lớp 5B do tôi chủ nhiệm và giảng dạy. Kết quả đạt mức như sau:

Tổng
số
học
sinh

27

SL

%

SL

%

SL

%

1

3.7

6

22.2

6

22.2

14

51.9

kết bài chưa hay


hợp.

6


Ví dụ: Khi tả về người bà
- Bà em đã già.
- Bà ngoài tám mươi tuổi.
- tóc bà bạc trắng.
- Da nhăn nheo.
- Trên làn da nhăn
nheo đó có nhiều nốt chấm
màu nâu.
- Khuôn mặt có nhiều nếp nhăn
- Răng rụng hết,
- miệng cười móm mém ....

Ví dụ: Khi tả một em bé:
- Đó là một em bé chưa tròn
một tuổi.
- khuôn mặt tròn, bầu bĩnh
thật đáng yêu.
- Đôi mắt to, tròn, đen láy,
nhìn ngơ ngác....
- Nước da trắng hồng ....
* Tóm lại: Ở mỗi lứa tuổi, con người có những đặc điểm về hình dáng và tính
tình khác nhau.
Ví dụ: Người trẻ tuổi thì tóc chưa bạc, là da căng tràn đầy sức sống. Người
già thì tóc bạc, da nhăn. Mỗi người có hoàn cảnh khác nhau, kẻ thì giàu có, người
lại nghèo sơ xác, người thì làm nghề nông... Mỗi người lại có trình độ văn hoá khác

- Khuôn mặt xanh xao.
- Khuôn mặt buồn ủ rũ.
- Đó là một em bé có khuôn mặt hồng hào, tròn quay, bầu bĩnh.
Trên đầu có mấy sợi tóc đem ngả màu nâu, phất phơ xuống đỉnh trán rộng
trông thật ngộ nghĩnh thông minh và dễ thương.
+ Diện mạo:
- Con người chững chạc.
- Con người cở mở
- Con người kín đáo.
- Con người nghiêm khắc.
- Con người có duyên.
8


- Con người cau có.
- Con người chỉ mới nhìn là đã có thiện cảm. [1]
+ Cái mũi:
- Cái mũi hếch ngược.
- Cái mũi cao.
- Cái mũi tẹt.
+ Đôi mắt:
- Đôi mắt to đen, sắc sảo
- Đôi mắt trũng sâu.
- đôi mắt lờ đờ.
- Đôi mắt thông minh.
- Đôi mắt đen trong sáng.
- Đôi mắt nhìn ngây thơ.
- Đôi mắt có nét nhìn ngay thẳng trung thực.
- Đôi mắt có nét nhìn đáng mến.
- Đôi mắt nhìn đầy âu yếm.

- Thân mình mập ú, béo phệ như dưới lớp da trăng kia chứa đầy cả mỡ.
- Thân mình khỏe mạnh, đôi tay, đôi chân cân đối.
+ Dáng điệu vẻ mặt:
- Vẻ mặt tươi tỉnh, dễ thương.
- Dáng điệu hòa nhã, dễ mến.
- Dáng điệu oai vệ, vẻ mặt quả quyết.
- Vẻ mặt xảo trá.
- Dáng điệu ngượng nghịu.
- Dáng điệu rụt rè, dáng điệu quý phái, nhiều mơ mộng.
- Dáng điệu trang nghiêm nhưng vẻ mặt lại vô cùng hiền từ.
- Vẻ mặt chất phác.
+ Lời nói - giọng nói:
- Lời nói lịch sự, giọng nói nhẹ nhàng chứng tỏ chị là một người hòa nhã.
- Lời nói dịu dàng, nhỏ vừa đủ nghe.
- Giọng nói truyền cảm, êm đềm.
- Giọng nói khàn khàn.
- Giọng nói vâng vang, lanh lảnh vang dến tận nơi xa.
+ Trang phục:
- Quần áo lịch sự bảnh bao.
- Áo dài đên, quần trắng.
- Áo quần được ủi cẩn thận.
- Đội mũ lưỡi trai.
- Đeo nữ trang.... đánh phấn thoa son.
- Chân đi đôi dép da.
- Đi đôi giày đúng mốt.
- Cổ có đeo sợi dây chuyền vàng.[1]
b) Khi dạy Thể loại văn tả người giáo viên chẳng những cung cấp cho học sinh một
số từ ngữ hay về tả hình dáng mà còn phải bồi dưỡng cung cấp cho các em một số
vốn từ “đắt” về tả tính tình của một người để bài văn hoàn hảo và có hồn.
10

- Một người mẹ can đảm.
Để cung cấp thêm vốn từ cho học sinh, trước tiên phải dạy tốt các tiết Luyện
và câu, Tập đọc, Kể chuyện, chính tả để các em có vốn từ vững chắc là tiền đề cho
phân môn Tập làm văn. Khi dạy cần chú ý xây dựng vốn từ cho học sinh ngoài
những từ đã có trong sách giáo khoa các em có thể tự bổ sung thêm một số từ ngữ
khác đưa vào bằng sự hiểu biết của mình.
Để học sinh viết được bài văn tả người giàu hình ảnh và sinh động, tôi đã
hướng dẫn các em cách sử các từ cần thiết và có giá trị nhất là từ láy, từ tượng
thanh, từ tượng hình.

11


Ví dụ: - Tả màu da có thể dùng: xanh xao, hồng hào, trắng trẻo.
- Tả về đôi mắt có thể dùng: lay láy, long lanh.
- Tả hình dáng: lênh khênh, mập mạp, gầy gầy, thon thả, thướt tha, dong dỏng.
- Tả tiếng cười, giọng nói: thỏ thẻ, ríu rít, khúc khích, thì thào…
Với cách vận dụng biện pháp trên vào việc dạy tập làm văn tả người, tôi thấy
hầu hết các em không những sử dụng các từ ngữ miêu tả phù hợp với nhân vật được
tả trong bài mà nhiều em còn biết sử dụng các từ láy tượng hình, tượng thanh phù
hợp trong bài viết của mình, làm cho bài văn trở nên sinh động hơn.
2. 2. Biện pháp 2: Hướng dẫn học sinh chọn một số nét đặc trưng để tả:
Tôi nhận thấy hầu hết các bài văn tả người của các em học sinh lớp 5B còn
viết lan, chưa tập trung tả những nét đặc trưng của nhân vật. Vậy để khắc phục tình
trạng trên tôi đã hướng dẫn học sinh chọn tả những nét đặc trưng của nhân vật bằng
cách sau.
- Trong giờ tập làm văn tả người tôi đã tổ chức để hầu hết học sinh được nói
về các đặc điểm riêng của nhân vật mình định tả.
+ Trước tiên là yêu cầu các em nói cho bạn trong nhóm nghe về đặc điểm
riêng của nhân vật mình định tả. (Thảo luận nhóm đôi)

13


- Có em chỉ chọn nét đặc trưng đó là đôi vai của mẹ, em viết: "Đôi vai của mẹ
đã thành chai sạn từ bao giờ không biết, chỉ thấy cái u chai đã dày cộm lên do suốt
đời mẹ chỉ biết gánh và gánh. Mấy chiếc đòn gánh rời vai mẹ, mẹ gánh thóc, gánh
gạo… gánh đến lúc mất da rớm máu. đôi vai ấy con tin rằng suốt đời không bao giờ
trở lại lành lặn như đôi vai người thường đâu mẹ ạ. Nhưng chính vì đôi vai chai sạn,
bé nhỏ mỏng manh ấy lại gánh được bao nhiêu thứ mà người thường không thể làm
được".
"Cái nắng héo hắt đặt mình lên những đôi vai gầy. Những người nông dân
đang cặm cụi công việc đồng áng. Mẹ tôi - Người đàn bà gánh cả những tia nắng
gắt cùng những cơn mưa giông đang miệt mài gặt lúa. Mùi hương lúa, cái mùi vị
ngòn ngọt thoang thoảng trong cơn gió như làm dịu đi nỗi vất vả của mẹ trong cơn
say nắng. Đến giữa trưa, nắng càng gắt gao hơn, nắng đậu lên tấm thân gầy của mẹ
đang lom khom đưa liềm lảng ngang thân cây lúa, mẹ thoăn thoắt bó thành từng bó
vàng ươm....."
Khi tả một đôi vai của người mẹ ở đoạn 2, đoạn 3 chúng ta thấy hiện lên một
hình ảnh bà mẹ làm nghề nông vất vả, chịu thương, chịu khó, dù không nói một lời
yêu thương mẹ nhưng chúng ta lại thấy tác giả bài viết bộc lộ qua bài viết yêu mẹ
biết nhường nào.

- Đối với người mẹ làm nội trợ: [2]
14


Một em học sinh viết: " Mẹ rất đảm đang,chu đáo lo mọi việc trong gia đình
từ việc nấu nướng đến quần áo,…tất tần tật mọi thứ trong nhà đối với người nội trợ
mẹ đều hoàn thành tốt. Mọi món ăn mẹ nấu đều mang sự ngọt ngào cho tôi, thực
đơn hằng ngày dựa theo sở thích của mỗi người nên ngày nào cũng được ăn rất đa

để giảng bài cho em, sau đó mẹ bắt đầu làm việc đến tận khuya. Chắc đó là lý do
mẹ đạt được giáo viên giỏi cấp tỉnh."
Với biện pháp trên đã đem lại hiệu quả trong việc dạy tập làm văn tả người
của học sinh lớp 5B. Bài văn tả người của các em không còn viết lan man mà các
em đã biết chọn những nét tiêu biểu, nét riêng biệt, nét nổi bật của nhân vật mình tả.
Bài viết thể hiện chân thật hình ảnh của nhân vật được miêu tả.
2.3. Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh sử dụng các biện pháp tu từ:
Để học sinh biết sử dụng thuần thục những biện pháp tu từ khi làm bài văn tả
người thì ngay từ những tiết tập đọc giáo viên phải dạy tốt và phải chỉ rõ những biện
pháp tu từ mà tác giả đã sử dụng trong các tác phẩm để khi học sinh làm văn, học
sinh biết cách sử dụng những biện pháp tu từ cho bài văn sinh động.
Ví dụ: Tóc bà trắng tựa mây bông.
Truyện bà như giếng cạn xong lại đầy.
Muốn viết được những câu văn miêu tả chứa đầy hình ảnh và giàu cảm xúc,
chúng ta không thể không sử dụng các biện pháp so sánh, tưởng tượng, điệp từ, điệp
ngữ … Nhưng cái khó ở đây là hướng dẫn các em cách so sánh, tưởng tượng sao
cho phù hợp sát thực như những câu sau:
" Mái tóc bà trắng như cước"
"Em bé có đôi mắt hạt nhãn"
Để giúp học sinh sử dụng các biện pháp so sánh, tưởng tưởng phù hợp,
sát thực, thì giáo viên phải dạy tốt các tiết luyện từ và câu từ. Khi dạy cần chú ý
xây dựng vốn từ cho học sinh ngoài những từ đã có trong sách giáo khoa các
em có thể tự bổ sung thêm một số từ ngữ khác đưa vào bằng sự hiểu biết của
mình.Trong các tiết Luyện từ và câu, giáo viên hướng dẫn để các em có thể sử
dụng từ ngữ để đặt câu đúng, câu hay câu có hình ảnh so sánh...Để các em nắm
được giá trị gợi tả, và sử dụng các hình ảnh so sánh phù hợp
16


Ví dụ:."Bà tuy già nhưng cặp mắt vẫn còn đen, chưa mất vẻ tinh nhanh, hồi

Bé nằm ngủ với à ơi tiếng bà.”
Mỗi khi nghe vần thơ ấy, lòng tôi lại nao nao muốn khóc. Bởi vì ngoài tình
yêu thương bao la của bố mẹ, tôi còn được nhận được tình yêu thương ấm áp của
bà. Bà là người đã nuôi dưỡng tôi từ khi tôi còn nhỏ vì bố mẹ tôi phải đi làm ăn xa.
Đêm nào tôi cũng chìm vào giấc ngủ bằng cái ôm ấp áp của bà, mà giờ đây bà đã xa
tôi mãi mãi, nhưng hình ảnh của bà tôi sẽ không bao giờ quên.”
Ví dụ 3: Khi viết bài văn tả người mẹ kính yêu của mình. Một học sinh đã
viết mở bài như sau:
18


“ Đi khắc thế gian
Không ai tốt bằng mẹ.
Mẹ là người con yêu quý nhất
Mẹ có nghĩa là duy nhất
Một bầu trời
Một mặt đất
Một vằng trăng.”
Mỗi lần nghe câu thơ ngọt ngào thiết tha đó, lòng tôi lại nhớ đến người mẹ
kính yêu của mình.
- Có thể mở bài bằng một sự so sánh
Ví dụ: Trong gia đình em ai cũng để lại cho em những tình cảm đẹp. Bà là
kho truyện cổ tích. Ông thì cần cù hiểu biết sâu rộng. Bố cho em lòng dũng cảm.
Nhưng người để lại tình yêu bao la, săn sóc cho em từng bữa ăn giấc ngủ đó chính
là mẹ.
- Có thể mở bài bằng một lời nhận xét, một câu nói.
Ví dụ: Bà nội em thủ thỉ” Đấy cháu xem, mẹ cháu dọn dẹp, nhìn mẹ con mà
học tập cháu ạ.. Mẹ cháu là nàng dâu hiếu thảo đấy!” Ngắm mẹ quét nhà, lúc đấy
em mới thấy mẹ đẹp làm sao! [2]
Khi dạy tiết tập làm văn “ Xây dựng mở bài cho bài văn tả người” Đề bài:

nào hay hơn. Học sinh hầu hết nhận thấy kiểu kết bài mở rộng hay hơn, hấp dẫn
hơn. Vì vậy khi học sinh viết bài văn tả người hoàn chỉnh thì cần hướng cho các em
kết bài theo kiểu mở rộng.
Ví dụ 1: Khi viết bài văn tả người bà kính yêu của mình. Một học sinh đã
viết kết bài như sau:
a. Kết bài không mở rộng.
Bà em là một người thật đáng kính trọng. Em rất yêu quý bà của em.
b. Kết bài mở rộng.
“ Suốt cả cuộc đời bà hi sinh tất cả vì con, vì cháu. Tôi mong bà sống lâu
trăm tuổi, để dạy tôi những điều hay lẽ phải. Tình yêu thương của bà đối với tôi là
vô bờ bến. Kính yêu bà bao nhiêu tôi lại càng cố gắng học tập thật tốt, ngoan ngoãn,
nghe lời ông bà, cha mẹ bấy nhiêu. Để đền đáp công ơn to lớn ấy của bà, tôi tự nhủ
món quà tôi tặng bà trong ngày mừng thọ sắp tới là kết học tập và rèn luyện tốt của
em cuối năm học lớp 5 này.
Ví dụ 2: Khi viết bài văn tả người mẹ kính yêu của mình. Một học sinh đã
viết kết bài như sau:
“ Mẹ ơi con yêu mẹ lắm! Mỗi khi được mẹ ôm ấp trong vòng tay ấm áp của
mẹ, con thấy mình thật hạnh phúc vì có mẹ. Mẹ ơi! Có mẹ con thấy sướng vui. Có
mẹ con thấy ấm lòng. Trong trái tim con mẹ là tất cả, mẹ là cô tiên tuyệt vời nhất
trong cuộc đời con. Con luôn yêu thương mẹ và tự hào vì được làm con của mẹ.
Tấm lòng của mẹ bao la như biển cả đối với con và con hiểu rằng không ai thương
20


con hơn mẹ. Ôi mẹ kính yêu của con. Con yêu mẹ hơn tát cả mọi thứ trên cõi đời
này vì mẹ chính là mẹ của con. “ Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ….” Con
mong sao cho mình mau lớn để có thể giúp cho mẹ đỡ vất vả hơn. Con hứa sẽ chăm
học, chăm làm, ngoan ngoãn để đền đáp công ơn sinh thành, nuôi nấng con nên
người, mẹ ơi.”
Với cách hướng dẫn trên, học sinh hầu hết chọn kiểu kết bài mở rộng cho bài

ngữ miêu tả phù
hợp, giàu hình
ảnh, mở bài hay

Bài viết dùng từ
ngữ miêu tả phù
hợp, kết bài hay,
mở bài chưa hay

Bài viết dùng
từ ngữ miêu tả
phù hợp, mở
bài và kết bài
chưa hay.

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

Miêu tả là loại văn khó, nhưng miêu tả người lại càng khó hơn. Bởi chúng ta
phải làm cho nhân vật như đang sống đang trò chuyện với người đọc. Với suy nghĩ
đó, phương pháp trên đã đem lại kết quả rõ rệt khi vận dụng vào văn tả người ở
lớp5. Tập làm văn đúng là phân môn có tính chất tổng hợp và sáng tạo cao. Cho nên
mỗi bài văn của từng học sinh là một tác phẩm văn học của các em, chúng ta phải
tôn trọng nó, giúp đỡ nó để mỗi ngày có được nhiều học sinh viết văn hay. Biết đâu
sau này trong các em, sẽ có người trở thành nhà văn, nhà thơ...
Có thể nói, bước đầu thành công trong việc dạy Tập làm văn tả người cho học
sinh lớp 5B là nguồn động viên rất lớn cho tôi. Tôi sẽ đem kinh nghiệm này tiếp tục
áp dụng để giảng dạy phân môn Tập làm văn ở học kì II và các năm sau, với mong
muốn lớn nhất của tôi là giúp học sinh nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt cấp
Tiểu học.
Tuy nhiên những biện pháp mà tôi đã áp dụng trên, tuỳ đối tượng học sinh
cũng cần có sự vận dụng một cách khéo léo, sáng tạo của giáo viên. Tôi nghĩ rằng
nội dung đề tài này không có nhiều điểm mới, đó chỉ là nhiệm vụ hằng ngày của
giáo viên mà thôi. Nhưng đồng thời tôi cũng tin rằng nếu lâu nay ta làm chưa tốt thì
bây giờ ta dốc hết tâm huyết vào, tận tuỵ với học sinh, soạn giảng nghiêm túc thì
chắc chắn sẽ gặt hái được thành công.
Rất mong được sự góp ý chân thành của các bạn đồng nghiệp và Hội đồng
khoa học các cấp.
II/ Kiến nghị, đề xuất:
Để dạy học có hiệu quả Tập làm văn ở Tiểu học(nhất là văn miêu tả ở lớp 4, 5)
tôi xin có mấy đề nghị sau:
1. Đối với BGH nhà trường: Cần cho áp dụng đối với các lớp khối 4,5 trong
trường, nhằm rút kinh nghiệm chung đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng
dạy phân môn Tập làm văn nói chung và kiểu bài văn tả người nói riêng.
2. Đối với đồng nghiệp dạy lớp 4, 5: Thầy, cô giáo cần phải đầu tư hơn nữa về
phương pháp và biện pháp cho mỗi giờ học phân môn Tập làm văn (từng thể loại,
từng kiểu bài cụ thể) để từng bước giúp các em nắm vững kiến thức, chủ động nói
lên những suy nghĩ hồn nhiên của mình; nói đúng, nói hay, làm giàu thêm vốn từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status