SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT ĐẶNG THAI MAI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG HÌNH THỨC THẢO LUẬN SOCRATIC
TRONG GIỜ ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC
NHẰM PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHẢN BIỆN CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Người thực hiện: Lê Thị Hoa
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Ngữ Văn
THANH HÓA, 2019
1
MỤC LỤC
Tên mục
Trang
Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
8
3.3. Đánh giá - phản hồi
11
4. Hiệu quả của sáng kiển kinh nghiệm
13
Kết luận, kiến nghị
1. Kết luận
14
2. Kiến nghị
Tài liệu tham khảo
16
Danh mục các đề tài SKKN đã được Hội đồng cấp Sở đánh giá
17
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
2
Xu hướng tất yếu của giáo dục là đào tạo những con người có khả năng
không có nhiều học sinh thật sự yêu thích, đam mê môn Văn. Vì vậy, dễ hiểu khi
các em thụ động, thiếu hứng thú để tìm tòi, nghiên cứu, sáng tạo trong giờ học
văn.
Từ những lí do trên nên chúng tôi chọn đề tài “Sử dụng hình thức thảo luận
Socratic trong giờ đọc - hiểu văn bản văn học nhằm phát triển tư duy phản biện
cho học sinh trung học phổ thông”.
Phát triển tư duy phản biện cho học sinh không phải là vấn đề bây giờ mới
được bàn đến, song chúng tôi hi vọng trong phạm vi của sáng kiến kinh nghiệm
này, chúng tôi sẽ góp được một phần nhỏ bé, rèn luyện tư duy phản biện cho học
sinh thông qua hình thức thảo luận Socratic.
1.2. Mục đích nghiên cứu
3
Thông qua hình thức thảo luận Socratic để thúc đẩy học sinh giúp đỡ lẫn
nhau hiểu những ý tưởng, những giá trị được phản ánh trong tác phẩm. Qua quá
trình thảo luận giúp học sinh hình thành một số năng lực sau:
- Năng lực tự học thể hiện qua việc nghiên cứu tài liệu.
- Năng lực hợp tác.
- Năng lực ngôn ngữ: biết trình bày ý tưởng, biết đặt câu hỏi, biết lắng
nghe.
- Năng lực thẩm mĩ, cảm xúc: hình thành quá trình khám phá tác phẩm, đặt
mình vào vị trí nhân vật, nhận biết giá trị thẩm mĩ của tác phẩm.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Tư duy phản biện ở học sinh THPT qua giờ dạy đọc hiểu văn bản.
- Thông qua phương pháp thảo luận Socratic chủ yếu thúc đẩy học sinh
giúp đỡ lẫn nhau, để hiểu những ý tưởng những vấn đề, những giá trị được phản
ánh trong tác phẩm. Quá trình thảo luận giúp học sinh hình thành một số năng
lực
4. Phương pháp nghiên cứu
phản biện phải rõ ràng, lôgic, đầy đủ bằng chứng, tỉ mỉ và công tâm”. [3]
Như vậy, thông qua một số quan niệm về tư duy phản biện, chúng ta có
thể hiểu tư duy phản biện không đơn thuần chỉ là những ý kiến “phản biện” như
tên gọi. Những hoạt động trong quá trình tư duy phản biện thường bao gồm: nêu
quan điểm và bảo vệ quan điểm, sử dụng những bằng chứng phù hợp, tạo mối
liên hệ giữa các ý, đánh giá, phân tích, tổng hợp, phân loại, so sánh, chỉ ra khó
khăn và cách khắc phục. Một quá trình tư duy phản biện được coi là tốt khi đạt
được những tiêu chí: rõ ràng, mạch lạc, chính xác, thống nhất, ngắn gọn, phù
hợp, có những giải thích và lý do phù hợp, khách quan, toàn diện và có chiều
sâu.
2.1.1.2. Vai trò của tư duy phản biện với học sinh
Tầm quan trọng của tư duy phản biện với mỗi học sinh là không thể phủ
nhận. Vai trò của tư duy phản biện với các em không chỉ có hiệu quả trong học
tập, mà còn cả ở kĩ năng sống cũng như giải quyết vấn đề trong cuộc sống
thường ngày:
- Phát huy tính tích cực chủ động: Tư duy phản biện sẽ giúp các em chủ động
tự đặt ra câu hỏi, tự tìm các thông tin liên quan, để giải đáp vấn đề vướng mắc,
chứ không phải ngồi chờ đợi lời giải đáp từ người khác. Các em sẽ tự mình vượt
qua được tính rụt rè, e ngại, tự ti với những mặc cảm để tôi luyện sự mạnh dạn,
tự tin trình bày và bảo vệ quan điểm của mình. Ngoài ra các em còn tự nuôi
dưỡng cho mình óc tò mò, thích quan sát, biết đặt câu hỏi và trả lời những câu
hỏi ngược chiều, khác biệt, để đào sâu vấn đề, củng cố kiến thức đã tiếp thu
trong quá trình học tập cũng như trong cuộc sống.
- Tổng hợp kiến thức: Tư duy phản biện sẽ giúp các em thu thập và xử lí
nhiều thông tin dựa vào vốn kiến thức kinh nghiệm đã tích lũy và niềm tin của
cá nhân, để phân tích vấn đề cần phản biện, suy luận để đi đến những kết luận
lôgic, thích đáng hơn. Đặc biệt tư duy phản biện còn giúp các em đánh giá các
vấn đề nào cần được bàn và giải quyết, vấn đề nào không cần thiết và bỏ qua.
Ngoài ra, khả năng suy luận còn là yếu tố then chốt nên có được tư duy phản
5
động.
- Một cách tiếp cận lấy người học làm trung tâm đối với việc dạy trong qui
tắc của người thầy có tác dụng tạo thuận lợi cho hoạt động của người học.
- Phát triển kĩ năng tự bộc lộ của bản thân.
2.1.2.2. Phân biệt thảo luận Socaratic và Thảo luận nhóm
- Thảo luận nhóm thường được giáo viên tiến hành như sau: giáo viên phân
nhóm học sinh, giao nhiệm vụ; học sinh làm việc theo nhóm, thống nhất kết quả
thảo luận; đại diện nhóm trình bày; các nhóm đóng góp ý kiến, giáo viên nhận
xét, đánh giá chung. Như vậy, kết quả thảo luận thực chất sẽ quy về khuôn mẫu
chung nào đó và việc phản biện của học sinh rất hiếm khi được nêu ra, bởi lẽ các
em đã thống nhất một kết quả chung cho cả nhóm. Đó là chưa kể trong giờ dạy
học nhiều khi thảo luận nhóm còn mang nặng tính hình thức.
- Thảo luận Socratic là một phương pháp giảng dạy mà trong đó, người thầy
không có câu trả lời chính xác cho những câu hỏi. Hầu như tất cả những câu hỏi
6
đều được trả lời bằng một câu hỏi khác. Người thầy đóng vai trò như người dẫn
đường, giúp học trò nhận rõ được vấn đề và tự tìm câu trả lời cho câu hỏi của
mình. Qua cách hỏi để gợi ý, câu trả lời thật sự phát xuất từ người trò.
2.1.2.3. Vai trò của thảo luận Socratic trong giờ đọc - hiểu văn bản
Giờ đọc - hiểu Ngữ Văn có một lợi thế nhất định trong việc vận dụng hình
thức thảo luận Socratic. Bởi lẽ, một tác phẩm văn học là một văn bản ngôn từ,
việc đánh giá giá nó cũng thay đổi theo thời gian và thị hiếu của mỗi người, mỗi
thời đại. Một văn bản ngôn từ sẽ chứa đựng vô vàn “khoảng trống”, khơi gợi sự
hoài nghi, tìm kiếm và giải mã cho các em học sinh. Vì vậy, phát triển tư duy
phản biện cho học sinh thông qua hình thức thảo luận Socratic là rất quan trọng,
sẽ thúc đẩy học sinh giúp đỡ lẫn nhau, để hiểu những ý tưởng, những vấn đề,
những giá trị được phản ánh trong văn bản văn học.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến
2.2.2.2. Về chương trình
Chương trình môn Ngữ văn THPT được xây dựng trên tinh thần mở:
phong phú về nội dung, thể loại và kiểu bài học. Đặc biệt là sự bổ sung của kiểu
bài Nghị luận xã hội, kiểu bài không chỉ yêu cầu học sinh có kiến thức về xã hội
mà còn phải có quan điểm, cách nhìn nhận đánh giá về vấn đề xã hội.
Tinh thần mở của chương trình còn thể hiện ở việc đổi mới kiểm tra, đánh
giá của môn Ngữ văn. Học sinh được thoải mái bộc lộ quan điểm riêng của mình
mà không sợ “lệch” ý thầy cô. Tiêu chí đúng, sai được thay thế bằng lập luận có
thuyết phục hay không. Đây chính là cơ hội để học sinh được phát huy khả năng
học tập, năng lực hiểu biết và lập luận của chính mình.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự hội nhập quốc tế đang là xu thế của
thời đại và trong bối cảnh đổi mới, cần đào tạo ra những con người toàn diện,
năng động sáng tạo trong công việc thì việc phát huy khả năng phản biện cho
học sinh thông qua những giờ học văn là rất cần thiết. Trang bị cho thế hệ trẻ tư
duy phản biện của học sinh nghĩa là trang bị cho các em khát vọng đổi mới và
khát vọng thành công trong cuộc sống.
2.2.2. Khó khăn
2.2.2.1. Về phía học sinh
Trường THPT Đặng Thai Mai đóng ở thôn 3, xã Quảng Bình, huyện
Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Phần đa các em là con em trong gia đình nông
nghiệp, điều kiện cuộc sống còn nhiều khó khăn nên thiếu môi trường được giao
tiếp, các em thường thụ động trong học tập và chiếm lĩnh kiến thức, ít dám trình
bày quan điểm cá nhân của mình trước một vấn đề, thường vâng dạ khi nghe
thầy cô giảng bài và thường tiếp thu kiểu một chiều.
2.2.2. Về phía giáo viên
Mặt khác, cũng phải kể đến rào cản từ tư duy người thầy. Có thể nói,
không phải giáo viên nào cũng “quen” với việc lắng nghe ý kiến phản biện của
học sinh, nhất là những ý kiến trái chiều, thậm chí có người còn cho đó là hành
thắng trong tâm lí học sinh, để các em thoát khỏi kí ức ban đầu và tiếp nhận yêu
cầu mới. Các tình huống phản biện thường đưa ra trong buổi thảo luận như cách
đánh giá, nhìn nhận nhân vật, sự kiện, chi tiết...trong tác phẩm văn học; thông
điệp nghệ thuật, phong cách tác giả, những vấn đề liên hệ thực tế được gợi ra
trong tác phẩm.
Chẳng hạn, khi chúng chúng tôi dạy đọc - hiểu văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ”
(Hàn Mặc Tử) chúng tôi thường chuẩn bị những tình huống phản biện sau cho
buổi thảo luận:
Trong phần Khởi động chúng tôi sẽ nêu một tình huống phản biện: Có ý
kiến cho rằng :““Đây thôn Vĩ Dạ” là một bức tranh thơ mộng, đượm buồn rất
Huế của thôn Vĩ.” Ý kiến khác lại khẳng định: “ Bài thơ chất chứa nỗi buồn,
nỗi cô đơn trong cảnh ngộ bất hạnh của một con người tha thiết yêu thiên nhiên,
yêu sự sống”. Em hãy trình bày quan điểm của mình?
Trong phần Hình thành kiến thức, chúng tôi sẽ chuẩn bị những tình huống
phản biện sau cho buổi thảo luận Socratic:
- Mở đầu bài thơ là một câu hỏi tu từ “Sao anh không về chơi thôn Vĩ”?
Có người cho rằng “đấy là lời của Hoàng Cúc”. Ý kiến khác lại cho rằng: “đấy
chính là lời tự vấn của Tử”? Em đồng tình với ý kiến nào? Vì sao?
- Tại sao Hàn Mặc Tử không dùng “thăm” thôn Vĩ mà là “chơi thôn Vĩ”?
- Có ý kiến cho rằng: ““mặt chữ điền” là mặt đàn ông, nhưng lại có cách
hiểu là mặt phụ nữ”. Em hãy cho biết cách hiểu của mình?
- Có ý kiến cho rằng: “hình ảnh “sông trăng” đó là hình ảnh dòng nước
đang hóa mình thành dòng trăng”. Ý kiến khác lại cho rằng: “ ánh trăng đang
tan mình thành nước?” Em đồng tình với ý kiến nào? Tại sao?
Ở phần kết thúc bài học, chúng tôi chuẩn bị tình huống phản biện sau:
Hàn Mặc Tử là một tài thơ đặc biệt trong phong trào thơ Mới. Đương thời dư
luận đánh giá tài năng của ông rất khác nhau. Có ý kiến cho rằng ““Hàn Mặc
Tử? Thơ với thẩn! Toàn nói nhảm””. Còn Chế Lan Viên thì quả quyết ““Tôi
hứa hẹn với các người rằng, mai sau, những cái tầm thường mực thước kia sẽ
tan biến đi, và còn lại của cái thời này một chút gì đáng kể - đó chính là Hàn
được chân lí hay nói đúng hơn là đi từ hiểu biết mơ hồ đến nhận thức rõ ràng về
các khái niệm”[6]
Đối với học sinh phổ thông, việc chủ động đặt ra câu hỏi phản biện cũng
như bày tỏ quan điểm cá nhân là rất hạn chế. Vì vậy, trong quá trình dạy học, để
giúp học sinh giải mã những tình huống phản biện được đặt ra, tôi yêu cầu học
sinh phải tìm kiếm những thông tin, lí lẽ, dẫn chứng để minh chứng và bảo vệ
cho quan điểm của cá nhân của mình. Hoạt động này thường tôi yêu cầu các em
chuẩn bị trước ở nhà.
Để thực hiện được công việc này, giáo viên phải dự báo được các tình
huống có khả năng xảy ra khi học sinh đọc hiểu văn bản. Từ đó có định hướng
cho học sinh những nguồn tài liệu cần sử dụng trong quá trình khai thác văn bản.
Chẳng hạn, khi chuẩn bị cho tiết đọc hiểu văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn
Mặc Tử), tôi đã yêu cầu học sinh tìm hiểu về Hoàn cảnh ra đời của bài thơ;
những bài bình của thầy Chu Văn Sơn, của Nguyễn Bá Tín,... Từ ý kiến của các
bậc tiền nhân các em sẽ có cơ sở đưa ra quan điểm của cá nhân mình
10
Buổi học với hình thức thảo luận Socratic sẽ là những câu hỏi nối tiếp câu
hỏi để giải mã vấn đề, sáng rõ tình huống thảo luận.
Chẳng hạn, khi chúng tôi đưa ra tình huống phản biện trong bài “Đây
thôn Vĩ Dạ”(Hàn Mặc Tử), ở lớp học 11 A5:
Mở đầu bài thơ là một câu hỏi tu từ “Sao anh không về chơi thôn
Vĩ”? “Có người cho rằng đấy là lời của Hoàng Cúc”. Ý kiến khác lại cho
rằng: “đấy chính là lời tự vấn của Tử”? Em đồng tình với ý kiến nào? Vì
sao?
Bạn Nguyễn Hải trình bày quan điểm của mình: “Theo em đấy là câu hỏi
của Hoàng Cúc ạ.”
Bạn Trịnh Tuấn Anh phản biện: “Dựa vào đâu bạn đi đến kết luận đấy là
câu hỏi của Hoàng Cúc”?
11
Văn chương vốn đa nghĩa, đến ngày nay” “mặt chữ điền” là phụ nữ hay
đàn ông?” ý kiến vẫn chưa được ngã ngũ. Nhưng theo ý kiến của thầy Chu Văn
Sơn, giảng viên trường đại học Sư Phạm Hà Nội: “Thiết tưởng muốn hiểu là
khuôn mặt đàn ông hay phụ nữ, trước tiên phải trả lời câu hỏi khác: Đó là mặt
người thôn Vĩ hay khuôn mặt người trở về thôn Vĩ? Xét cú pháp riêng của câu
thơ, có quyền hiểu cả hai cách. Nếu người thôn Vĩ (chủ nhân của khu vườn) thì
hẳn là khuôn mặt phụ nữ - Bởi một người đàn ông trở về thôn Vĩ chắc không
phải để ngắm khuôn mặt đàn ông! Còn là người trở về thôn Vĩ thì người ấy
chính là Tử...Có thể đó là khuôn mặt Tử yêu thích. Nhưng sâu xa hơn , là sản
phẩm , là sản phẩm mặc cảm của sự chia lìa. Mặc cảm này khiến Tử vẽ mình
trong thơ như một kẻ đứng ngoài”[7]
Hay trong văn bản đọc - hiểu “Tràng giang” khi chúng tôi đưa ra tình
huống: ““Cụm từ “sâu chót vót” trong thơ “Nắng xuống trời lên sâu chót vót”
có thể đổi lại là “cao chót vót” không? Vì sao?”
Bạn Nguyễn Văn Tính 11A5 nhanh nhẩu trả lời: “Theo em chắc là người
đánh máy đánh sai chứ phải là “cao chót vót” mới đúng ạ. Vì “Chót vót” vốn là
từ láy độc quyền để chỉ chiều cao ạ”.
Bạn Lê Thu Hà lớp 11A5 lại có quan điểm: “Em thấy là “sâu chót vót”
chắc là lạ hóa ngôn từ trong nghệ thuật ạ.”.
Bạn Hoàng Hiếu 11A5 thì kiên quyết: “Thưa cô, em không đồng ý với
quan điểm của hai bạn ạ. Em không nghĩ là người viết sách đánh nhầm “cao”
thành “sâu”, em cũng không đồng tình đây là lạ hóa ngôn từ ạ. Theo em “sâu
chót vót” là tả chiều cao thăm thẳm, khôn cùng, như vẽ lên cái thiên địa vô
thủy, vô cung vô cùng, vô tận.”
Và cuối cùng chúng tôi phải đứng ra phân xử: Ý kiến của bạn Nguyễn
Văn Tính, cho rằng đánh máy sai vì “chót vót” là tình từ đặc tả chiều cao, đúng
là “chót vót” vốn là tình từ để tả chiều cao nhưng đây không phải là do đánh
về sự tận Thiện, tận Mĩ của nghệ thuật và cuộc sống? Và nghệ sĩ Phùng có phải
là một tâm hồn đầy trăn trở, lo âu về thân phận con người không? Khi anh đã
sửng sốt, bức xúc xông vào bênh vực người đàn bà thuyền chài và anh đã lắng
nghe, day dứt với câu chuyện của chị?
Cuối cùng các em cũng giải mã được: hai ý kiến ấy đều đề cập đến vẻ đẹp
khác nhau của nghệ sĩ Phùng. Ý kiến thứ nhất nhấn mạnh đến phẩm chất hàng
đầu của người nghệ sĩ là tâm hồn nhạy cảm, say mê cái đẹp. Ý kiến thứ hai
khẳng định phẩm chất sâu xa nhất của người nghệ sĩ là tấm lòng trăn trở, lo âu
về thân phận con người. Hai ý kiến tuy khác nhau nhưng không đối lập nhau mà
hợp lại thành một sự nhìn nhận toàn diện và thống nhất về phẩm chất của người
nghệ sĩ Phùng.
3. Đánh giá - phản hồi
Kết thúc buổi thảo luận, từ những tìm kiếm và giải mã của cá nhân học
sinh, giáo viên đi đến khẳng định tri thức đúng về đối tượng. Từ đó, sẽ giúp học
sinh không ngừng vận động, khai phá tri thức, để giải quyết một cách thấu đáo,
khoa học các vấn đề trong học tập cũng như trong cuộc sống.
Chẳng hạn, cuối tiết đọc - hiểu văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ”, chúng tôi đưa
ra những câu hỏi, để đánh giá sự trải nghiệm của các em bằng:
Bạn Nguyễn Hải có còn cho rằng “Sao anh không về chơi thôn Vĩ” là của
Hoàng Cúc nữa hay không?
Chúng tôi nhận được phản hồi từ học sinh Nguyễn Hải là: “Sau buổi thảo
luận, em đã hiểu đúng về câu thơ. Đó là lời tự vấn của thi nhân, khi thi nhân
đang lưu đầy mình ở chốn “trong này’’ thì nhận được tín hiệu là lá thư của
Hoàng Cúc ở chốn “Ngoài kia” nên đã đánh thức khát vọng được trở lại với
chốn “ngoài kia” nên cất lên thành lời “tự vấn”ạ”. Và chúng tôi đi đến kết
luận: Câu hỏi tu từ “Sao anh không về chơi thôn Vĩ” chính là lời tự vấn của nhà
thơ.
- Hàn Mặc Tử là một tài thơ đặc biệt trong phong trào thơ mới. Đương
thời dư luận đánh giá tài năng của ông rất khác nhau. Có ý kiến cho rằng “Hàn
Mặc Tử? Thơ với thẩn! Toàn nói nhảm”. Còn Chế Lan Viên thì quả quyết “Tôi
các em bằng hình thức phát phiếu học tập cho từng em và sau 3 phút chúng tôi
nhận được kết quả trả lời của phần đa các em là: hai ý kiến đều đúng. “Tràng
giang” vừa là bức tranh thiên nhiên, là không gian sông nước vô cùng vô tận.
Bên cạnh bức tranh cảnh vật là nỗi cô đơn, nỗi sầu của Huy Cận nhưng không
xuất phát từ nỗi buồn cá nhân mà là nỗi sầu nhân thế nên đó chính là tình yêu
quê hương, đất nước.
Sau buổi thảo luận cách hiểu của em về bài thơ “Tràng giang” (Huy Cận)
có thay đổi không?
Bạn Lê Nhung, lớp 11A5 mạnh dạn trả lời: “Thưa cô, em đã có cách nhìn
khác về “Tràng giang” ạ. Trước đây em nghĩ Huy Cận là nhà thơ Mới nên
đương nhiên “Tràng giang” cũng chỉ mang vẻ đẹp hiện đại như nỗi buồn thế hệ
của một cái tôi mất nước, bơ vơ, bế tắc trong cuộc đời nhưng giờ thì em đã
nhận thức thêm “Tràng giang” vẫn tiếp nối mạch truyền thống bằng hệ thống
thi liệu đậm chất Đường thi, thủ pháp nghệ thuật mang đậm dấu ấn thơ ca cổ
điển: như thể thơ 7 chữ, cách ngắt nhịp, cách gieo vần, cấu trúc cân đối, bút
pháp tả cảnh ngụ tình, dùng động tả tĩnh, dùng điểm vẽ diện, gợi nhiều hơn tả,
từ Hán Việt cổ kính...Chúng tôi đã khẳng định kết luận nhận thức của các em
14
hoàn toàn đúng “Tràng giang” không chỉ có vẻ đẹp hiện đại mà còn tiếp mạch
thơ ca truyền thống.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Sau khi áp dụng hình thức thảo luận Socratic nhằm phát triển tư duy phản
biện cho học sinh qua những giờ đọc - hiểu văn bản, ở đơn vị công tác của mình,
bước đầu chúng tôi đã có những kết quả khả quan. Giáo viên chúng tôi không
phải làm việc hết công suất trong giờ dạy còn các em học sinh thì mạnh dạn hơn
trong việc bày tỏ nhận thức, cách nghĩ, cách cảm của bản thân của em trước vấn
đề được đặt ra trong tác phẩm. Đặc biệt không khí giờ học văn trở nên sôi nổi
hơn, khả năng giao tiếp và trình bày quan điểm của các em tiến bộ rõ rệt.
Không hứng thú
SL
%
05
11
Lớp
11A5
Có hứng thú
SL
%
15
33
Rất hứng thú
SL
%
25
56
Bảng so sánh kết quả học tập trong hai năm học:
Lớp 11A9 – Không sử dụng phát triển tư duy phản biện thông qua hình
thức thảo luận Socratic.
Mức độ
Lớp
11A2
0
0
Lớp 11A5 –Sử dụng phát triển tư duy phản biện thông qua hình thức thảo
luận Socratic.
Mức độ
Lớp
Giỏi
SL
%
Khá
SL
%
Trung bình
SL
%
Yếu
SL
%
Kém
SL
%
15
trong các lĩnh vực chuyên môn học thuật và ứng dụng cuộc sống. Năng lực phản
biện không phải tự nhiên mà có, mà là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện.
Nhà trường thông qua các môn học, nhất là môn Ngữ Văn, tích cực rèn luyện kĩ
năng này cho học sinh để các em chuẩn bị tốt hành trang cho cấp học cao hơn.
3.1.2. Đích đến của một giờ đọc - hiểu văn bản bao giờ cũng là những gì người
học “vỡ ra”, hiểu được văn bản. Con đường tốt nhất chính là các em tự tìm ra
chân lí, dưới sự gợi mở của người thầy chứ không phải là sự nhồi nhét kiến thức
mà người thầy cung cấp. Xét ở góc độ ấy, thảo luận Socratic là một phương
pháp khá hữu ích trong giờ dạy văn.
3.2. Kiến nghị
Để phát huy tốt những khả năng phản biện của học sinh thông qua hình
thức phản biện Socratic trong giờ đọc - hiểu văn bản, chúng tôi xin đề xuất một
số ý kiến sau:
3.2.1. Đối với nhà trường
Nên đa dạng hóa các hoạt động học tập: tổ chức các cuộc thi hùng biện,
các câu lạc bộ, diễn đàn... để các em có cơ hội được thể hiện năng lực của mình.
3.2.2. Đối với giáo viên
- Năng lực phản biện cần được rèn luyện có phương pháp, kĩ thuật. Giáo viên
nên áp dụng linh hoạt và kết hợp chúng cùng các phương pháp, kĩ thuật dạy học
hiện đại khác để đem lại hiệu quả tốt nhất.
- Phải thiết kế được câu hỏi phản biện khoa học, có tính ứng dụng cao, khai
thác được khả năng tư duy của học sinh.
- Cần có suy nghĩ và cách nhìn mới vềkhả năng phản biện của học sinh (kiên
nhẫn lắng nghe, không cau có, khó chịu, quan trọng là phải tôn trọng sự khác
biệt)
- Để phát huy được năng lực phản biện của học sinh, giáo viên cần phải xem
việc rèn luyện kĩ năng phản biện cho học sinh là việc làm thường xuyên, không
được làm nửa vời.
- Giáo viên không chỉ là người thiết kế, cố vấn phản biện mà còn phải đóng
vai trò là trọng tài của các cuộc tranh luận. Tối kị nhất trong phản biện là không
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Tham khảo tài liệu trên Internet
Nguồn
[2]. Nguồn
[3]. Nguồn viendoanhtri.vhu.edu.vn
[4]. Nguồn
[5]. Nguồn https://123
[6]. Nguồn antonloi.weebly.com
[7]. Lê Bá Hán(chủ biên), Lê Quang Hưng, Chu Văn Sơn - Tinh hoa thơ MớiNhà xuất bản Giáo Dục - 1998
18
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC
HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ
GD&ĐT VÀ CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Lê Thị Hoa
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo Viên – Trường THPT Đặng Thai Mai
TT
Tên đề tài SKKN
1.
Ôn tập Thơ Mới(1930-1945) qua
Sở GD&ĐT
Thanh Hóa
C
2010-2011
Sở GD&ĐT
Thanh Hóa
C
2014-2015
19
20