Một số kinh nghiệm nhằm phát triển tư duy phản biện cho học sinh khi học môn lịch sử nói chung và học bài 10 - Pdf 57

MỤC LỤC
Trang
1. MỞ ĐẦU
1
1.1. Lí do chọn đề tài:
1
1.2. Mục đích nghiên cứu:
1
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
2
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
3
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
3
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
3
2.3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:
4
2.3.1. Điều kiện phát huy khả năng phản biện của học sinh trong 4
dạy học Lịch sử.
2.3.2. Bồi dưỡng tư duy phản biện cho học sinh
4
2.3.3.Tăng cường rèn luyện khả năng phản biện
5
2.3.4. Bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu theo chuyên đề, tổ chức 5
chuyên đề ngoại khóa
2.3.5. Các bước thảo luận để phát triển kĩ năng phân tích, đánh giá 6
nhằm phát triển tư duy phản biện cho học sinh.
2.3.6. Quá trình tổ chức phát triển tư duy phản biện thông qua 8

Thực hiện Nghị quyết của Đảng và Quốc hội trong những năm vừa qua
toàn ngành giáo dục đã không ngừng đổi mới, một trong những giải pháp trọng
tâm của ngành vẫn phải là đổi mới phương pháp dạy học. Vận dụng các hình
thức, phương pháp, kĩ thuật dạy học sao cho đạt hiệu quả cao nhất theo yêu cầu
của mục tiêu giáo dục là một trong những cách đổi mới thiết thực nhất.
Để thực hiện Nghị quyết của Đảng, của ngành GD&ĐT là phải đào
tạo được thế hệ trẻ toàn diện, năng động, sáng tạo trong công việc. Đồng thời có
ý thức chủ động, tích cực bày tỏ quan điểm, lập trường trước những vấn đề nảy
sinh trong đời sống xã hội, hướng tới chân lí của mọi vấn đề. Vì vậy, trong dạy
học, việc tất cả các bộ môn cần rèn luyện cho học sinh biết tranh luận, phản biện
vấn đề, tạo thói quen tốt trong nhìn nhận, đánh giá các vấn đề trong cuộc sống là
hết sức quan trọng. Thực hiện được nhiệm vụ đó cũng là góp phần thực hiện mục
tiêu kết hợp dạy “chữ” với dạy “người”, lí thuyết phải gắn với thực hành. Việc
phát triển được khả năng phản biện của học sinh trong quá trình học tập sẽ giúp
học sinh phát huy được tính chủ động, sáng tạo trong học tập, rèn luyện được
khả năng làm việc độc lập, làm việc theo nhóm, tự tin trước tập thể, trước các
vấn đề nảy sinh của cuộc sống, xã hội.
Tuy nhiên trong thực tiễn quá trình dạy hoc tại trường Trung học phổ thông
Triệu Sơn 3, tôi nhận thấy rằng khả năng phản biện vấn đề ở học sinh THPT còn
tồn tại dưới dạng tiềm năng, chưa được khai thác. Nhiều học sinh muốn phản
biện, hoặc đã từng phản biện nhưng chưa được giáo viên tạo điều kiện, chưa
được các bạn trong lớp hưởng ứng chân thành. Có nhiều lí do khác nhau khiến
cho khả năng này chưa trở thành thói quen, thành kỹ năng được. Việc dạy học
môn Lịch sử ở trường THPT vì thế mà cũng trở nên nhàm chán hơn, hình thức
truyền thụ một chiều, học sinh nghe, hiểu và làm theo không phản hồi.
Trong khi đó ở cấp trung học phổ thông (THPT), môn Lịch sử là một
trong những môn rất có ưu thế trong việc hình thành và phá triển tư duy phản
biện cho học sinh. Vì đặc trưng của môn Lịch sử là mang tính quá khứ, đặc biệt
không thể trực tiếp tiếp xúc với những nhân vật lịch sử, những sự kiện lịch sử mà
chỉ có thể dựa vào những nguồn sử liệu để đánh giá nên sẽ còn tồn tại những

- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
- Phương pháp thống kê xử lí số liệu.

2


2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Tư duy phản biện (Critical Thinking), hiểu một cách đơn giản nhất, đó là
khả năng suy nghĩ và tư duy đa chiều, phản biện lại vấn đề, xem xét mọi khía
cạnh để tìm ra chân lý chứ không dễ dàng chấp nhận mọi ý kiến ngay từ ban đầu.
Tư duy phản biện (TDPB) giúp con người vượt ra khỏi cách suy nghĩ theo khuôn
mẫu, thói quen có sẵn, hướng đến cái mới, thoát khỏi những rào cản của định
kiến, đưa ra nhiều phương án khác nhau và lựa chọn phương án tối ưu với những
lập luận có cơ sở vững chắc đối với một vấn đề nào đó.
Việc xây dựng TDPB cho học sinh đang được nhiều quốc gia xem như tiêu
chuẩn của nền giáo dục hiện đại, là động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn thể
xã hội.
Trong chương trình giáo dục phổ thông hiện nay, các môn khoa học xã hội có
vai trò quan trọng trong phát triển tư duy phản biện, trong đó Lịch sử là một môn
học có nhiều ưu thế giúp học sinh phát triển tư duy này. Lịch sử là nhận thức của
con người về cuộc sống đã diễn ra trong quá khứ với những nguồn sử liệu phong
phú và nhận thức Lịch sử đa chiều. Có tư duy phản biện học sinh sẽ học Lịch sử
với lăng kính phản biện của nhà sử học để tìm ra nhận thức đúng đắn, giúp các
em yêu thích khám phá Lịch sử dưới nhãn quan cá nhân.
Đồng thời, tư duy phản biện còn giúp các em biết đánh giá thông tin, vấn đề
trong cuộc sống hiện tại để quyết định hành động đúng đắn nhất. Vì thế, Lịch sử
phải là môn học tạo cơ hội cho học sinh phát biểu suy nghĩ, ý kiến của mình về
các sự kiện, nhân vật Lịch sử, liên hệ quá khứ với cuộc sống đang diễn ra

dục tư duy phản biện phản biện cho học sinh.
Với những lí do trên tôi thiết nghĩ, trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay đòi
hỏi quá trình giáo dục thế hệ trẻ cần phải toàn diện hơn, không chỉ trang bị kiến
thức cho học sinh, mà còn phải hình thành, bổ sung, phát triển các kĩ năng cho
học sinh, để học sinh có đủ năng lực, sự tự tin, khả năng suy nghĩ và tư duy đa
chiều, phản biện lại vấn đề, xem xét mọi khía cạnh để tìm ra chân lý nhất là đối
với học sinh của trường THPT Triệu Sơn 3.
2.3. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:
2.3.1. Điều kiện phát huy khả năng phản biện của học sinh trong dạy học
Lịch sử:
Như chúng ta đã biết, những tranh luận, phản biện của học sinh có thể đúng,
thuyết phục, có thể sai, không thuyết phục, điều đó không quan trọng. Quan
trọng là qua tranh luận, người học thể hiện tinh thần chủ động, tích cực, sáng tạo
của mình. Khoảng cách thầy – trò được rút ngắn. Vì vậy, để có thể phát huy được
khả năng phản biện của học sinh trong giờ học Lịch sử cần có sự xuất hiện của
những điều kiện sau:
- Cả thầy và trò phải có tư duy phản biện
- Học sinh phải có hiểu biết sâu rộng vấn đề
- Giờ học Lịch sử phải có không khí dân chủ, thân thiện
- Giờ học Lịch sử phải có tình huống phản biện
2.3.2. Bồi dưỡng tư duy phản biện cho học sinh:
Tư duy phản biện là một quá trình tư duy biện chứng gồm phân tích và
đánh giá một thông tin đã có theo các cách nhìn khác cho vấn đề đã đặt ra nhằm
làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề.
Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, chúng ta nên tập trung hơn vào
việc dạy học sinh tư duy phản biện. Có tư duy phản biện học sinh mới có thể
phản biện. Biện pháp này có thể vận dụng với tất cả các đối tượng học sinh
nhưng chủ yếu hướng tới học sinh đại trà. Vì học sinh giỏi Sử, chuyên Sử thường
đã có tư duy phản biện. Còn học sinh đại trà thường thụ động trong học tập nên
tư duy phản biện gần như không có hoặc yếu.

nói chung, trong quá trình phản biện nói riêng. Giáo viên có thể giúp học sinh
suy nghĩ độc lập bằng cách không phải lúc nào cũng đưa ra ngay câu trả lời.
Thay vào đó, hãy để người học tự mình nghiên cứu và tìm ra phương án giải
quyết trước khi đưa ra sự trợ giúp. Còn với học sinh thay vì trông chờ vào những
câu trả lời rõ ràng, học sinh nên học cách tự mình suy diễn.
Quan trọng hơn cả là kỹ năng lập luận. Bởi vì, học sinh muốn đạt đến tính
tối ưu của vấn đề buộc phải thuyết phục được người khác. Một phản biện có sức
thuyết phục đến đâu là phụ thuộc vào độ sắc của những lí lẽ, độ mạnh mẽ hùng
hồn của lập luận, độ chắc chắn, đáng tin cậy của minh chứng mà người phản biện
đưa ra. Giáo viên hãy khuyến khích học sinh sử dụng các kỹ năng lập luận. Học
sinh sẽ học cách nghiên cứu bằng cách đưa ra các lý giải hợp lý cho câu trả lời.
Có nhiều cách luyện tập kỹ năng này như: những bài tập trình bày một vấn đề,
đánh giá và giải thích của mình về một vấn đề, tổ chức hệ thống luận điểm theo
các trình tự logic khác nhau, tìm kiếm minh chứng cho luận điểm … Lập luận
phản biện phải rõ ràng, logic, đầy đủ bằng chứng, tỉ mỉ và công tâm.
Ngoài ra, học sinh cũng cần rèn luyện khả năng mở rộng vấn đề. Không chỉ
bó hẹp trong nguồn tài liệu mà giáo viên cung cấp, học sinh cần học cách tự tìm
những tư liệu mới để phục vụ cho chủ đề. Từ đó, phát huy khả năng tự phân tích
và đưa ra cách nhìn nhận riêng đối với mỗi chủ đề được đặt ra.
Như vậy, có thể nói lập luận phản biện có vai trò quyết định trong phản biện
của học sinh. Và kỹ năng này không phải ngày một ngày hai mà có được mà phải
luyện tập trong một thời gian dài, đòi hỏi sự cố gắng và nỗ lực rất cao. Nếu có
phương pháp hợp lý, tôi tin rằng học sinh sẽ tiến bộ nhanh chóng và sử dụng
phản biện một cách sắc bén và hiệu quả.
2.3.4. Bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu theo chuyên đề, tổ chức chuyên
đề ngoại khóa
5


Đây là một trong những biện pháp quan trọng giúp học sinh nâng cao khả

2.3.5. Các bước tổ chức thảo luận để phát triển kĩ năng phân tích, đánh
giá nhằm phát triển tư duy phản biện cho học sinh:
* Bước 1: Chọn vấn đề thảo luận. Giáo viên cần lưu ý những vấn đề sau:
- Cần chọn những vấn đề quan trọng, là nội dung kiến thức được giảng
dạy chính trong chương trình môn Lịch sử.
- Vấn đề được lựa chọn cần mang tính đa nhận thức, nghĩa là được tiếp
cận dưới nhiều khía cạnh, góc độ và có nhiều quan điểm về ván đề.
- Có tác dụng làm sâu sắc, mở rộng kiến thức cho học sinh. Trong quá
trình tìm hiểu, những kiến thức học sinh học sẽ được củng cố, kiến thức mới sẽ
được bổ sung trong quá trình tìm tòi, khám phá.
- Có sự cuốn hút học sinh. Để làm được điều này, giáo viên cần nghiên cứu
kĩ để lựa chọn nội dung sao cho phù hợp.
Ví dụ: Khi tổ chức cho học sinh thảo luận về chủ đề: “Nguyên nhân và
trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để Việt Nam rơi vào tay thực dân Pháp
6


cuối thế kỉ XIX” Giáo viên cần sưu tầm và nghiên cứu quan điểm của các nhà sử
học, nhà chính trị… có uy tín để lựa chọn không phải để giúp học sinh nhớ rõ
năm, tháng, tên nhân vật, địa danh… để làm chủ đề thảo luận. Như sử dụng quan
điểm của Trần Trọng Kim trong tác phẩm “Việt Nam sử lược”; của Trần Văn
Giàu, của Giáo sư Phan Huy Lê…
* Bước 2: Chia nhóm để thảo luận: tùy theo số lượng học sinh trong lớp và
vấn đề thảo luận mà giáo viên chia nhóm sao cho phù hợp, hình thức thảo luận là
nhóm theo “góc học tập”. Giáo viên chia thành các nhóm, mỗi nhóm sẽ chuẩn bị
nội dung thảo luận, tranh luận theo quan điểm được phân công. Mỗi nhóm sẽ
ngồi tập trung ở một “ góc học tập” của lớp học, với các đồ dùng để làm việc
như A0, bút, màu…
* Bước 3: Tiến hành thảo luận: Mỗi nhóm sẽ thảo luận về quan điểm của tác
giả, dựa trên phiếu học tập đã được hướng dẫn. Trong mỗi nhóm, các thành viên

không? Hay còn kết luận khác.
6
Quan điểm của em về vấn đề này như thế
nào?
* Bước 4: Đánh giá và tổng kết.
Việc kiểm tra tư duy trong phát triển tư duy phản biện phải đảm bảo tính
hợp lí, xác thực và tính cá thể. Tính xác thực là việc học sinh đưa ra lí do của
mình có minh chứng cụ thể; tính hợp lí là việc học sinh từ những chứng cứ có
thể suy luận một cách chính xác, có lí lẽ, hợp logic; tính cá thể thể hiện thông
7


qua việc học sinh có thể đưa ra quan điểm của bản thân dựa trên kiến thức đã
học..
2.3.6. Quá trình tổ chức phát triển tư duy phản biện thông qua tranh
luận.
* Các hình thức tổ chức tranh luận để phát triển tư duy phản biện: có
nhiều hình thức để tổ chức tranh luận nhằm phát triển tư duy phản biện cho học
sinh, tuy nhiên tôi thường xuyên sử dụng 3 hình thức sau để tổ chức tranh luận
cho học sinh. Vì phù hợp với đối tượng học sinh, điều kiện cơ sở vật chất của
nhà trường. Cụ thể:
Thứ nhất, tranh luận theo nhóm. Ví dụ, khi dạy bài 17, lớp 10 THPT
“Quá trình hình thành và phát triển của nhà nước phong kiến (từ thế kỉ X đến thế
kỉ XV)”, giáo viên có thể tổ chức tranh luận cho các em về một nhân vật có ảnh
hưởng lớn đối với lịch sử dân tộc, nhưng hầu như không được nhắc tới trong
sách giáo khoa cấp THPT và hiện nay còn rất nhiều tranh cãi trong việc đánh giá
về ông, nhất là việc ông lập nhà Hồ thay cho nhà Trần (1400), đó là nhân vật Hồ
Quý Ly.
Thứ hai, tranh luận giữa cá nhân học sinh với nhau. Ví dụ, khi dạy phần 1
của bài 21, lớp 10 THPT “Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế

nhiên tất cả mọi suy luận đều có dẫn chứng( tư liệu). Trong đó để xây dựng giả
thuyết ngoài việc huy động tất cả những kiên thức của học sinh, đẻ thiết lập được
các bằng chứng vững chắc việc giáo viên cung cấp tư liệu lịch sử mang tính chất
định hướng là một khâu vô cùng quan trọng. tài liệu sẽ giúp các em có cơ sở
khoa học để tranh luận và bảo vệ ý kiến mà các em đưa ra, đồng thời giúp học
sinh có cái nhìn mới hơn về vấn đề. Tài liệu phải được thiết kế để hỗ trợ cho
tranh luận.
- Giai đoạn 2: tổ chức tranh luận: Khi tổ chức tranh luận cho học sinh, giáo
viên cần lưu ý: cân đối về mặt thời gian khi tổ chức, phải thể hiện được vai trò tổ
chức, điều khiển học sinh…Học sinh cần tuân thủ các nguyên tắc trong tranh
luận, luôn giữ thái độ cởi mở, chân thành và thẳng thắn, thiết lập các luận cứ
vững chắc, luôn tỏ ra điềm tĩnh, tôn trọng ý kiến người khác, thừa nhận sai
làm…
Sau khi các nhóm đã được thành lập, việc tiến hành tranh luận diễn ra như
sau: Trước khi phát phiếu học tập, giáo viên phổ biến thời gian của các bước.
Các nhóm sẽ có khoảng thời gian nghiên cứu tài liệu, thiết lập giả thuyết để đưa
ra lập luận bảo vệ quan điểm của nhóm mình. Tiếp đó các nhóm trình bày giả
thuyết. Sau khi các nhóm trình bày là thời gian của các nhóm đặt câu hỏi nhằm
phản bác ý kiến của đội bạn. Các đội tiến hành trả lời câu hỏi của đối phương,
các đội có quyền hỏi thêm để tìm ra kết quả hài lòng của đội mình. Câu hỏi được
đặt ra nhằm làm rõ các điểm chưa rõ ràng mà trong bằng chứng được sử dụng
( xác thực của sự kiện), những điểm bất hợp lí về lập luận (hợp logic)… tất cả
nhằm bác bỏ giả thuyết của đối phương. Khi tất cả các câu hỏi được trả lời là lúc
cuộc tranh luận kết thúc.
- Giai đoạn 3: Kiểm tra đánh giá kết quả bài học theo hoạt động tranh luận:
Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trong quá trình dạy học có
tầm quan trọng đặc biệt, vì thông qua đó để kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy
của giáo viên và hoạt động học của học sinh, đồng thời rút kinh nghiệm cho quá
trình về sau. Khi đánh giá kết quả của học sinh, sau mỗi tiết học cần tạo điều
kiện cho các em tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau. Kết quả của hoạt động tranh

Giáo viên cho học sinh đọc đoạn tư liệu sau và kết hợp phát phiếu học tập
( Vận dụng kĩ thuật dạy học “KWLH”). Học sinh trao đổi, thảo luận hàn thiện
phiếu học tập.
BẢNG HỎI THEO KĨ THUẬT “KWLH”
Họ và tên học sinh:……..
Câu hỏi:
1. Em biết gì về cuộc cách mạng khoa học - công nghệ nửa sau thế kỉ XX?
(Học sinh ghi vào cột K).
2. Em mong muốn được tìm hiểu những nội dung gì liên quan đến chủ đề
này? ( Học sinh ghi vào cột W).
3. Em đã học thêm được những gì sau khi học xong chủ đề này? (Học sinh
ghi vào cột L)
4. Em có thể vận dụng vào thực tiễn những kiến thức nào và vận dung rsa
sao? ( Học sinh ghi vào cột H).
KWLH………………….
……………………………………………………….
Giáo viên thu thập thông tin phản hồi trên cột K,W vận dụng phương pháp
dạy học giải quyết vấn đề để hướng dẫn học sinh nghiên cứu tìm hiểu nội dung
của chủ đề.
3. Gợi ý sản phẩm:
Mỗi học sinh có thể trình bày sản phẩm ở các mức độ khác nhau, giáo viên
gợi mở nêu những vấn đề của bài học mà các em phải tìm hiểu và dẫn dắt học
sinh vào bài mới.
B. TỔ CHỨC DẠY HỌC:
I. Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ.
10


1.1. Mục tiêu.
- Học sinh biết khai thác tư liệu lịch sử, trình bày được nguồn gốc của

GV cung cấp tư liệu cho học sinh, đồng thời yêu cầu học sinh tìm thêm tư
liệu để tranh luận về mặt tích cực và hạn chế của cách mạng khoa học - cong
nghệ.

11


TƯ LIỆU HỖ TRỢ
INTERNET
Internet đã tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống kinh tế xã hội, đương nhiên
nó tác dụng quyết định mạng lưới quản lý − phát triển từ sản xuất hàng loạt
sang cá thể hoá hàng loạt khách hàng chuyển sang hàng giờ tác động mạnh đến
hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Do những tác động của
internet mà như tạp chí Business Week đã so sánh nêu bật những đặc trưng của
doanh nghiệp của thế kỷ 21 như sau: TK20 vốn quyết định, TK21 ý tưởng mới
năng động quyết định Giới thiệu về Internet ¾; Tổ chức doanh nghiệp chuyển
từ hình tháp, phân cấp sang hình mạng lưới; Nhiệm vụ trung tâm của người
quản lý chuyển từ quản lý tài sản sang quản lý thông tin; Sản phẩm chuyển từ
sản xuất hàng loạt sang cá thể hàng loạt khách hàng; Tài chính quản lý theo Quí
nay quản lý tức thời và quản lý kho từ hàng tháng chuyển sang hàng giờ;CEO
hoạt động toàn cầu thường xuyên phải đi công tác. Tăng cường sử dụng
outsourcing Bill Gates: “Cạnh tranh ngày nay không phải giữa các sản phẩm
mà giữa các mô hình kinh doanh”. Nếu Doanh nghiệp không quan tâm đến
thông tin, Internet, Web, TMDT tất sẽ chịu nhiều rủi ro. Internet không tác động
lên sản phẩm cụ thể nào mà lên toàn bộ mối quan hệ của doanh nghiệp thông
qua thông tin mà nó đem lại. Nó không làm thay đổi bản chất quá trình kinh
doanh nhưng nó đem lại cơ hội mới chưa từng có. Một tiến bộ có tính đột phá
nữa trong lịch sử phát triển internet là sự ra đời và phát triển công nghệ Web
(1992) cho kích thích các doanh nghiệp nhảy vào và thương mại điện tử ra đời
từ đó.

“ Nấu cái chết sớm của Dolly có liên quan đến việc nhân bản, thì đây sẽ là
bằng chứng bỏ sung cho thấy sự nguy hiểm tiềm tàng trong việc tạo bản sao
người, và sự thiếu tránh nhiệm của những ai đang ra sức mở rộng loại hình
nghiên cứu này trên người”, Giáo sư Richard, Chủ tịch hiệp hội Hoàng gia
Anh tuyên bố.
(Nguồn:https://Vnexpress.net/tin-tức/khoa học/cừu
Dollyddax chết/ ngày 15/2/2003)

13


- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc tư liệu Internet và giao việc cho học sinh:
+ Giáo viên chí lớp thành 2 nhóm:
Nhóm 1: Tìm hiểu tư liệu viết bài tranh luận theo quan điểm Internet
đem lại mọi lợi ích cho con người.
Nhóm 2: Tìm hiểu tư liệu viết bài tranh luận theo quan điểm Internet
đem lại tác hại cho con người.
+ Giáo viên yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm và viết bài tranh luận
đồng thời tìm tư liệu để trả lời câu học, phản biện ý kiến của nhóm đối phương.
- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc tư liệu, nhạn xét về tính hai mặt của các
phát minh khoa học, nhất là trong công nghệ sinh học. Đồng thời giao cho học
sinh tìm hiểu trên mạng để sưu tầm các hình ảnh về thử vũ khí hạt nhận, bom
nguyên tử, các nhà máy điện hạt nhân, vụ nổ nhà máy điện hạt nhân….cho các
em thảo luận theo nhóm về vấn đề: mặt tích cực và mặt tiêu cực của năng lượng
hạt nhân.
1.3. Gợi ý sản phẩm
Để trả lời được các câu hỏi nêu trên, học sinh cần:
- Trình bày được nguồn gốc của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ là
nhằm giải quyết những đòi hỏi của sản xuất và cuộc sống con người về công cụ
sản xuất, các nguồn năng lượng và những vật liệu mới.

thủ thời cơ, vượt qua thách thức?
TƯ LIỆU HỖ TRỢ 1
1.“ Với sự xác lập của chủ nghĩa tư bản, nhất là khi hình thành thị trường thế
giới, đã xuất hiện xu thế quốc tế hóa. Nhưng từ đầu những năm 80, đặc biệt từ
những năm 90, người ta gọi đó là xu thế toàn cầu hóa. Các gọi khác nhau là có lí
do: Quốc tế hóa là chỉ hoạt động kinh tế của một nước đã vượt ra khỏi biên giới
quốc gia. Và từ sau Chiến tranh lạnh, kinh tế thế giới toàn cầu hóa phát triển mạnh
mẽ vói sự thúc đẩy to lớn của cuộc cách mạng kho học - công nghệ, nhất là tin học
và công nghệ thông tin, đồng thời là xu thế phát triển đa cực hóa của cục diện thế
giới. Nền kinh tế các nước phải đặt trong phạm vi lớn của thị trường thế giới. nên
kinh tế các nước phải được đặt trong phạm vi lớn của thị trường thế giới, gắn liền
ít nhất với ba yếu tơ: một là: thông tin hóa; hai là: thị trường hóa; ba là: xuyên
quốc gia hóa sự lưu thông tự do của các yếu tố sản xuất như vốn, công nghệ
mới…”
(Nguồn: Theo Phan Ngọc Liên, Vũ dương Ninh, Trần Bá Đệ..,
Lịch sử 12, Sách Giáo viên, NXB Giáo dục, tr 79.)
2. “ …Sáng 10/5, tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia thành
phố Hồ Chí Minh, ông Thomas L.Friedman - phụ trách chuyên mục đối ngoại của
tờ Neww York Time, tác giả của cuốn Thế giới phẳng, đã có buổi trò chuyện cởi
mở với sinh viên….
Cũng trong buổi giao lưu tác giải cuốn sách nổi tiếng này cho rằng thế giới
không chỉ “ phẳng” mà “ngày càng phẳng hơn”, Ông cho rằng điểm nổi bật nhất
những năm đầu thế kỉ XXI chính là khái niệm toàn càu hóa và cuộc cách mạng
khoa học công nghệ thông tin. Từ những chiếc máy tính cá nhân, điện thoại di
động mọi người ở khắp nơi có thể kết nối với nhau. Các công cụ tìm kiếm, nhất là
Google đã làm nên một thế giới phẳng. Và thế giới đã chuyển từ kết nối sang “
siêu kết nối”. Đây là bối cảnh tuyệt vời với những người biết thích ứng nhanh nhất
là doanh nhân, thậm chí các nhà lãnh đạo phải đối diện với rất nhiều luồng thông
tin, dư luận thế giới. Người lao động cũng vì thế ,mà nhiều cơ hội hơn nhưng cũng
khắc nghiệt hơn. “ Tôi vẫn thường nói với con gái tôi rằng khi tốt nghiệp tôi phải

Cách mạng khoa học công nghệ thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa là một cách
mạnh mẽ, qua đó làm cho mọi mặt của đời sống xã hội được quốc tế hóa. Trong điều
kiện toàn cầu hóa, lợi ích của các quốc gia đan xen với nhau và ngày càng tùy thuộc
lẫn nhau. Từ đó, nhận thức về tinhfhinhf thế giới, tư duy về đối ngoại và phương
thức quan hệ quốc tế cũng thay đổi mạnh mẽ.”
( Nguồn: Phạm Bình Minh, Cục diện thế giới đến 2020,
NXB Chính trị Quốc gia, 2010, tr.12 - 13)

2.3. Đánh giá kết quả học tập
- Học sinh giải thích được tác động tích cực và tiêu cực của toàn cầu hóa:
+ Tích cực: thúc đẩy nhanh, mạnh sự phát triển và xã hội hóa lực lượng
sản xuất, đưa lại sự tăng trưởng cao, góp phần chuyển biến cơ cấu kinh tế, đòi
hỏi tiến hành cải cách sâu rộng để nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của nền
kinh tế….
+ Hạn chế: làm trầm trọng thêm bất công xã hội, đào sâu hố ngăn cách
giàu nghèo trong từng nước và giữa các nước, tạo ra nguy cơ đánh mất bản sắc
văn hóa dân tộc…
- Học sinh rút ra được toàn cầu hóa vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối
với tất cả các nước đang phát triển.
C. CỦNG CỐ VÀ LUYỆN TẬP
1. Mục tiêu: Củng cố, hệ thống hóa, hoàn thiện kiến thức mới mà học sinh đã
được lĩnh hội về Các mạng khoa học - công nghệ và xu thế toàn cầu hóa.
2. Phương thức:
Giáo viên yêu cầu học sinh hoàn thiện phiếu học tập theo kĩ thuật KWLH,
vẽ sơ dồ tư duy bài học.
3. Gợi ý sản phẩm:
- Học sinh ghi những nội dung mình lĩnh hội được trong bài học vào cột L,
và những nội dung mình có thể vận dụng được từ bài học vào cột W.
Học sinh vẽ sơ đồ tư duy theo các nội dung: Nguồn gốc, thời gian ,đặc điểm,
mặt tích cực, tiêu cực của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ; toàn cầu hóa:

2.4. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường.
2.4.1. Đối tượng kiểm nghiệm:
Để có cơ sở đánh giá về hiệu quả của việc áp dụng đề tài vào thực tế dạy học,
tôi chọn 2 lớp 12 của Trường trung học phổ thông Triệu Sơn 3, cụ thể:
- Học sinh ở lớp đối chứng: 12D7 (năm học 2018 – 2019)
- Học sinh ở lớp thực nghiệm: 12D8 (năm học 2018 – 2019)
Các lớp được chọn tham gia nghiên cứu cho đề tài có nhiều điểm tương đồng
nhau về tỉ lệ học sinh, kết quả điểm trúng tuyển vào lớp 10, ý thức học tập của
học sinh... đặc biệt là năng lực học tập và kết quả điểm kiểm tra môn Lịch sử
trước khi tác động. Và một điểm đặc biệt hơn nữa đó là: hai lớp tôi chọn để đối
chứng và thực nghiệm là hai lớp trường tôi phân là lớp cơ bản .
2.4.2. Cơ sở thực nghiệm:
Sử dụng kết quả các bài kiểm tra trước và sau khi tác động, cụ thể như sau:
+ Tôi lấy kết quả bài kiểm tra 1 tiết học kì I, do nhóm chuyên môn chấm.
Lưu ý: Đề kiểm tra dùng để đánh giá hiệu quả của đề tài cho nhóm thực
nghiệm và nhóm đối chứng giống nhau.
2.4.3. Kết quả kiểm nghiệm:
Sau khi tổng hợp thông tin từ học sinh, tiến hành tổng hợp, phân tích, so sánh và
đối chiếu kết quả điểm kiểm tra của học sinh, cho thấy:
2.4.3.1. Về lí luận
+ Đã nâng cao được khả năng phản biện cho học sinh, giúp học sinh chủ
động hơn trong việc lĩnh hội kiến thức, biết cách xử lí tư liệu lịch sử.
17


+ Học sinh tự tin hơn khi trình bày quan điểm, hiểu biết của mình trước tập
thể.
+ Đã góp phần thay đổi được thực trạng về đổi mới phương pháp dạy học
theo hướng tích cực trong môn Lịch sử..

19
2
1
0
0
39 % 0,0
5,1 5,1 33, 48, 5,1 2,5 0,0 0,0
3
9
Lớp thực nghiệm 12D7.
Tổng số
Điểm
Số
bài
học sinh
0-2 3
39
sl 0
0
39 % 0,0
0,0

4
0
0,0

5
6
7
8



3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:
3.1. Kết luận:
Tư duy phản biện trang bị cho học sinh những kĩ năng cơ bản của tư duy để
đưa ra những phán đoán thuyết phục. Trong quá trình giải quyết vấn đề của tư
duy phản biện, học sinh phải thực hiện nhiều thao tác tư duy như: phân tích, tổng
hợp, phán đoán, suy luận, lập luận…đó là những thao tác tư duy cần thiết trong
học tập nói chung và trong cuộc sống nói riêng. Đồng thời khi có được tư duy
phản biện, học sinh có được nhiều kĩ năng cơ bản cần thiết khác như khả năng
giao tiếp tốt, kĩ năng nêu và giải quyết vấn đề, kĩ năng đặt câu hỏi, kĩ năng phân
tích và lập luận…
Những kĩ năng mà tư duy phản biện trang bị, không những giúp học sinh có
thể đánh giá được nhận thức lịch sử của người khác mà còn có khả năng phán
đoán và thông quá các kĩ năng có thể đưa ra được những suy luận hợp lí trên cơ
sở những tư liệu xác thực.
Tư duy phản biện góp phần hình thành nên những công dân có trách nhiệm
xã hội trên nền tảng những nhận thức khoa học.
3.2. Đề xuất:
+ Về phía giáo viên cần phải có sự đầu tư tìm tòi, lựa chọn tư liệu, tranh
ảnh… sao cho phù hợp và phải có sự chắt lọc thông tin, cần có sự đầu tư đổi mới
phương pháp giảng dạy.
+ Về phía nhà trường cần có sự quan tâm, tạo điều kiện hơn nữa tới bộ
môn, cung cấp trang thiết bị dạy học phù hợp, có các chương trình đào tạo, bồi
dưỡng phương pháp dạy học mới cho giáo viên
Trong quá trình áp dụng đề tài, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót,
bản thân tôi sẽ tiếp tục vận dụng, khắc phục những khiếm khuyết và bổ sung cho
hoàn thiện hơn vào những năm học tới.
Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp để đề tài được hoàn
thiện hơn.


Kết quả đánh
giá xếp loại

1

Một số kinh nghiệm về sử dụng sơ
đồ tư duy trong bài 20: Cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp
kết thúc (1953-1954)-Lớp 12- Cơ
bản
Giáo dục ý thức bảo vệ biên giới,
chủ quyền biển, hải đảo Tổ quốc
cho học sinh trong p h ầ n h a i :
L ị c h s ử Vi ệ t N a m t ừ
nguồn gốc đến giữa thế
k ỉ X I X - Lớp 10 - chương trình
cơ bản

Sở GD&Đt
Thanh Hóa

C

Năm học
đánh giá xếp
loại
2012-2013

Sở GD&Đt

2014-2015

Sở GD&Đt
Thanh Hóa

C

2015-2016

Sở GD&Đt
Thanh Hóa

C

2017-2018

2

3

4

5

21


22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status