TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
======
NGUYỄN HOÀI THANH
PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHẢN BIỆN CHO
HỌC SINH LỚP 3 TRONG DẠY HỌC MÔN
TỰ NHIÊN & XÃ HỘI THEO
LÝ THUYẾT KIẾN TẠO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học
Người hướng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN THỊ HƯƠNG
HÀ NỘI - 2018
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới
TS. Nguyễn Thị Hương – Giảng viên khoa Giáo dục Mầm non – người thầy
đã luôn tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình làm khóa luận.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm
Khoa và các giảng viên trong khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của Ban giám hiệu và
toàn thể các thầy cô giáo ở các trường tiểu học: tiểu học Liên Bảo (Vĩnh Yên,
Vĩnh Phúc), tiểu học Đại Thành (Quốc Oai, Hà Nội),... đã tạo điều kiện cho
TN&XH
Tự nhiên và Xã hội
PPDH
Phương pháp dạy học
KTDH
Kỹ thuật dạy học
LTKT
Lý thuyết kiến tạo
TDPB
Tư duy phản biện
TDST
Tư duy sáng tạo
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài........................................................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu................................................................................. 4
1.2.6.2. Kiến tạo xã hội ....................................................................... 26
1.2.7. Vai trò của người dạy và người học trong dạy học theo LTKT.... 26
1.2.7.1. Vai trò của GV trong dạy học theo LTKT.............................. 26
1.2.7.2. Vai trò của người học trong dạy học theo LTKT................... 27
1.3. Môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3............................................................. 27
1.3.1. Mục tiêu môn TN&XH lớp 3 ......................................................... 27
1.3.2. Nội dung chương trình môn TN&XH lớp 3 .................................. 29
1.3.3. Ưu thế của môn TN&XH lớp 3 với việc phát triển TDPB cho
HS ............................................................................................................ 30
1.4. Đặc điểm nhận thức của HSTH ........................................................... 31
1.4.1. Đặc điểm tư duy của HSTH .......................................................... 31
1.4.2. Đặc điểm ngôn ngữ của HSTH ..................................................... 32
Kết luận chương 1 ....................................................................................... 34
Chương 2. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHẢN
BIỆN CHO HỌC SINH TIỂU HỌC TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ
NHIÊN VÀ XÃ HỘI THEO LÝ THUYẾT KIẾN TẠO................................ 35
2.1. Khái quát về khảo sát thực trạng của việc phát triển TDPB cho
HSTH trong dạy học môn TN&XH theo LTKT......................................... 35
2.1.1. Mục đích khảo sát thực trạng ....................................................... 35
2.1.2. Đối tượng khảo sát thực trạng ...................................................... 35
2.1.3. Nội dung khảo sát.......................................................................... 35
2.1.4. Phương pháp khảo sát................................................................... 36
2.2. Phân tích kết quả khảo sát.................................................................... 36
2.2.1. Thực trạng nhận thức của GV về TDPB và việc phát triển
TDPB cho HSTH ..................................................................................... 36
2.2.2. Thực trạng tư duy phản biện của học sinh tiểu học...................... 38
2.2.3. Thực trạng nhận thức của GV về dạy học theo quan điểm của
LTKT và vai trò của việc dạy học theo quan điểm của LTKT đối với
Kết luận chương 3 ....................................................................................... 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................... 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 62
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Xu hướng tất yếu của giáo dục là đào tạo ra những con người năng động,
linh hoạt và sáng tạo mà phát triển tư duy chính là một mục tiêu cần hướng
tới. Hơn nữa, trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin như ngày nay con
người ngày càng cần phải lĩnh hội khối lượng tri thức ngày càng nhiều trong
khi đó thời gian vẫn không thay đổi. Mặt khác, trong cuộc sống, ai cũng cần
tư duy, đó là bản tính tự nhiên của chúng ta. Nhưng, nếu bỏ mặc nó, phần lớn
tư duy của chúng ta sẽ bị thiên lệch, bóp méo, rời rạc, thiếu thông tin hay hết
sức định kiến. Song, chất lượng cuộc sống của ta hay những gì ta tạo ra lại
hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng tư tưởng của chúng ta. Tư duy kém sẽ rất
tốn kém, cả về tiền bạc, thời gian lẫn chất lượng cuộc sống. Chính vì vậy, việc
phát triển năng lực tư duy càng trở nên khẩn thiết hơn bao giờ hết. Điều này
thực sự quan trọng với trẻ em, đặc biệt là học sinh lứa tuổi tiểu học, bởi đây là
cấp học nền tảng để định hướng cho sự phát triển của trẻ tron tương lai.
So với trước đây, ngày nay, các nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra
một cách rõ ràng về các loại hình tư duy khác nhau như tư duy logic, tư duy
sáng tạo, tư duy phản biện,… Việc phát triển loại hình tư nào cũng vô cùng
cần thiết cho cuộc sống của trẻ. Trong đó, phát triển tư duy phản biện là một
mục tiêu mà các các nhà giáo dục cần lưu tâm và hướng đến.
Bởi tư duy phản biện giúp trẻ đào sâu, xem xét các vấn đề ở nhiều góc
độ khác nhau, trẻ liên tục đặt câu hỏi “Tại sao?” tạo ra ở trẻ những ý nghĩ
mới, không đi theo suy nghĩ lối mòn của xã hội mà có những chính kiến riêng
thân và môi trường xung quanh giúp phát triển tối đa tư duy phản biện. Đó là
lí do khiến phần nhiều học sinh hiện nay trở nên thụ động, không biết cách
giải quyết khi đứng trước một vấn đề hay không biết cách đưa ra chính kiến
của riêng mình.
Trong cuộc sống hằng ngày, trẻ phải đối mặt với rất nhiều sự việc xảy ra,
mỗi sự việc xảy đến với trẻ đều là một cơ hội mới mẻ cho trẻ khám phá. Đó
có thể là những vấn đề liên quan tới những sự việc vật lí, ví dụ như sự xuất
hiện của một chiếc cầu vồng sau cơn mưa cũng có thể kích thích trí tò mò của
trẻ, trẻ có thể đặt ra câu hỏi: Tại sao cầu vồng chỉ xuất hiện sau cơn mưa? Hay
các mối quan hệ xã hội như gia đình, thầy cô, bạn bè,... Hoặc là sự hiểu biết
về những kĩ năng trong cuộc sống. Dù đó là một vấn đề nhỏ nhưng là cơ hội
tuyệt vời để cho trẻ thực hành kĩ năng phản biện. Những điều này trẻ đều có
thể học tập và khám phá trong môn TN&XH. Bởi môn học này mang lại cho
trẻ môi trường học tập gần gũi và thiết thực về các mối quan hệ trong xã hội;
về các hiện tượng tự nhiên quen thuộc và thú vị; về thế giới thực vật, động vật
phong phú, đa dạng và đầy tính mới mẻ;… Hơn nữa, những kiến thức trong
môn học không chỉ giúp ích cho trẻ ở thời điểm hiện tại mà còn có ích cho
tương lai. Chính vì vậy, việc phát triển TDPB cho học sinh trong dạy học môn
TN&XH là điều thích hợp.
Hiện nay, xu thế trong nước và thế giới đang nghiên cứu nhiều về các lí
thuyết dạy học, các phương pháp dạy học tích cực, hiện đại vào trong quá trình
dạy học để nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập cho học sinh. Trong đó việc
nghiên cứu, vận dụng lý thuyết kiến tạo vào trong quá trình dạy học đang
được nhiều nước thừa nhận và áp dụng rộng rãi. Lý thuyết này đề cao việc xây
dụng kiến thức cho HS dựa trên những kinh nghiệm, kiến thức đã có, đưa HS
đi hết bậc thang này đến bậc thang khác trong quá trình nhận thức. Mặt khác,
sự phát triển tư duy cũng được phân thành các tầng bậc khác nhau, đi từ tư
duy trực quan, cụ thể đến tư duy khái quát, trừu tượng và cao nhất là tư duy
tạo.
- Đề xuất biện pháp “Phát triển tư duy phản biện cho học sinh lớp 3
trong dạy học môn Tự nhiên & Xã hội theo lý thuyết kiến tạo”.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp thống kê xử lí số liệu
7. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu việc phát triển tư duy phản biện cho học
sinh lớp 3 trong dạy học môn Tự nhiên & xã hội theo lý thuyết kiến tạo.
8. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục nội dung
chính của khóa luận bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc phát triển tư duy phản biện cho học
sinh lớp 3 trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội theo lý thuyết kiến tạo
Chương 2: Thực trạng của việc phát triển tư duy phản biện cho học sinh
tiểu học trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội theo lý thuyết kiến tạo
Chương 3: Biện pháp phát triển tư duy phản biện cho học sinh lớp 3
trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội theo lý thuyết kiến tạo
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHẢN BIỆN
CHO HỌC SINH LỚP 3 TRONG DẠY HỌC MÔN
TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI THEO LÝ THUYẾT KIẾN TẠO
1.1. Tư duy và tư duy phản biện
Tư duy nảy sinh từ hiện thực khách quan, từ những tình huống “có vấn
đề”. Tình huống có vấn đề là bài toán đặt ra mâu thuẫn với vốn hiểu biết cũ
của chúng ta. Không phải cứ có tình huống có vấn đề là làm nảy sinh quá
trình tư duy, mà quá trình tư duy chỉ diễn ra khi cá nhân nhận thức được tình
huống có vấn đề và có nhu cầu giải quyết chúng.
b. Tính trừu tượng và khái quát của tư duy
Khác với nhận thức cảm tính, tư duy không phản ánh sự vật, hiện tượng
một cách cụ thể và riêng lẻ. Tư duy có khả năng trừu xuất (gạt bỏ) khỏi sự
vật, hiện tượng những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ, quan hệ thứ
yếu không cần thiết và chỉ giữ lại những thuộc tính bản chất chung cho nhiều
sự vật hiện tượng. Trên cơ sở đó mà khái quát những sự vật hiện tượng riêng
lẻ, những thuộc tính chung thành một nhóm, một loại, một phạm trù. Nói cách
khác tư duy mang tính trừu tượng và khái quát.
Trừu tượng và khái quát có mối liên hệ mật thiết với nhau ở mức độ cao.
Không có trừu tượng thì không thể tiến hành khái quát, nhưng trừu tượng mà
không khái quát thì hạn chế quá trình nhận thức.
c. Tính gián tiếp gián tiếp của tư duy
Tính gián tiếp của tư duy được thể hiện ở chỗ nó được phản ánh gián
tiếp thông qua nhận thức cảm tính và thông qua kết quả tư duy của người
khác (kinh nghiệm xã hội). Tư duy phản ánh cái bên trong, cái bản chất những
mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật. Những cái này không thể phản ánh trực
tiếp bằng các giác quan. Vì vậy, quá trình tư duy phải dựa vào nguyên liệu do
nhận thức cảm tính cung cấp. Không có nguồn nguyên liệu này thì tư duy
không thể tiến hành được. Ngoài ra tư duy của mỗi cá nhân đều dựa vào kết
quả tư duy của loài người, của các cá nhân khác.
d. Tư duy của con người có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ
Đề các nói: Không có ngôn ngữ thì chẳng có tư duy. Theo quan điểm của
tâm lí học duy vật biện chứng thì tư duy và ngôn ngữ là hai quá trình có mối
a. Phân tích và tổng hợp
Phân tích là quá trình dùng trí óc để phân chia đối tượng nhận thức thành
những thuộc tính, những bộ phận, những mối liên hệ, quan hệ giữa chúng để
nhận thức đối tượng sâu sắc hơn (nói như vậy để khẳng định phân tích không
phải là quá trình băm nhỏ hay đập nát đối tượng).
Tổng hợp là quá trình dùng trí óc để hợp nhất các thành phần đã được
tách rời trong quá trình phân tích thành một chỉnh thể thống nhất hoàn chỉnh,
giúp ta nhận thức được bao quát hơn.
Phân tích và tổng hợp là hai quá trình có quan hệ mật thiết với nhau, bổ
sung cho nhau trong một quá trình tư duy thống nhất. Phân tích là cơ sở để
tổng hợp; được tiến hành theo phương hướng của sự tổng hợp. Tổng hợp
diễn ra trên cơ sở phân tích, được thực hiện trên kết quả của sự phân tích.
Không có quá trình phân tích thì không thể tiến hành tổng hợp được. Ngược lại,
phân tích không có tổng hợp thì quá trình đó trở nên vô nghĩa trong quá trình
nhận thức.
b. So sánh
So sánh là quá trình dùng trí óc để xác định sự giống và khác nhau, sự
đồng nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các
đối tượng nhận thức. Thao tác này liên quan chặt chẽ với thao tác phân tích và
tổng hợp và rất quan trọng trong việc nhận thức thế giới. K.D.Usinxki từng
nói:
So sánh là cơ sở của moi sự hiểu biết và tư duy, hay như Sêchênốp cũng nói:
So sánh là kho tàng trí tuệ quý báu nhất của con người. Nhờ so sánh mà con
người có thể hình dung ra những cái chưa biết trên cơ sở những cái đã biết.
c. Trừu tượng hoá và khái quát hóa
Trừu tượng hoá là dùng trí óc để gạt bỏ những mặt, những thuộc tính,
thuật ngữ “tư duy phản biện” cho cụm từ “critical thinking”.
Sự nhận thức về TDPB đã qua một chặng đường phát triển lịch sử khá
lâu dài, khởi đầu từ các học thuyết ở phương Tây như phương pháp tư duy
theo lối Socrates của triết gia cổ đại Socrates hay ở phương Đông như trong
kinh Vệ Đà của nhà Phật với những triết lí sơ khai nổi tiếng như: Đừng tin bất
cứ điều gì nếu đơn giản là bạn chỉ nghe về điều đó. Đừng tin bất cứ điều gì
nếu đơn giản là chỉ vì điều đó đã được nói ra và do nhiều người đồn đại…
Đừng tin bất cứ điều gì nếu đơn giản vì các điều đó dựa trên thẩm quyền của
thầy cô giáo hoặc những người lớn tuổi hơn bạn” (Đức Phật Thích Ca). Đây
chính là những tư tưởng manh nha khởi nguồn cho TDPB.
Mặc dù Socrates đã tiếp cận vấn đề TDPB từ cách đây hơn 2000 năm,
nhưng định nghĩa của John Dewey – nhà triết học, tâm lý học, giáo dục học
người Mỹ – về TDPB mới được biết đến một cách rộng rãi. J. Dewey gọi
TDPB là “reflective thinking” (suy nghĩ sâu sắc) và định nghĩa là: “Sự suy
xét chủ động, liên tục, cẩn trọng về một niềm tin, một giả định khoa học có xét
đến những lý lẽ bảo vệ nó và những kết luận xa hơn được nhắm đến”
Định nghĩa của John Dewey nhấn mạnh đến tính chủ động của TDPB.
Khi một người TDPB, họ tự nảy ra câu hỏi, tự đi tìm các thông tin liên quan,...
hơn là học hỏi thụ động từ người khác. J. Dewey cũng nhấn mạnh đến tính liên
tục của TDPB. TDPB đòi hỏi phải xem xét mọi vấn đề, mọi thông tin liên
quan trước khi đi đến kết luận hoặc ra quyết định. Quan trọng nhất, định nghĩa
của J.
Dewey nói rằng niềm tin của chúng ta bị chi phối bởi sự suy luận. Suy luận có
vai trò quan trọng to lớn trong TDPB, cả suy luận và đánh giá suy luận đều
có ý nghĩa tích cực. Trong TDPB, khả năng suy luận là yếu tố then chốt.
Edward Glaser, đồng tác giả của một trắc nghiệm TDPB được sử dụng
rộng rãi nhất thế giới là WatsonGlaser CriticalThinking Appraisal phát biểu
về TDPB như sau:
(thường được gọi là “siêu nhận thức” (metacognition)), với mục tiêu được
quan tâm là cải tiến nó bằng cách tham khảo một số mô hình tư duy thành
công trong cùng lĩnh vực.
Michael Scriven thì cho rằng TDPB là “một năng lực học vấn cơ bản,
tương tự như là đọc và viết vậy”, và phát biểu như sau: “Tư duy phản biện là
khả năng, hành động để thấu hiểu và đánh giá được những dữ liệu thu thập
được thông qua quan sát, giao tiếp, truyền thông, và tranh luận” .
Hành động phân tích để thấu hiểu và diễn đạt lại nội dung đã tiếp thu
bằng ngôn ngữ của mình hoặc bằng một hình thức khác (viết, vẽ, làm film
ảnh, ngôn ngữ cơ thể), và hành động đánh giá (ước đoán giá trị, khả năng, độ
tin cậy của các tuyên bố) là những hành động được xem là đòi hỏi phải sử
dụng các kỹ năng TDPB. TDPB cần được hiểu là một loại tư duy để đánh giá,
nó bao gồm sự phê phán và cả tư duy sáng tạo. Để hiểu tốt một vấn đề mà chỉ
phát hiện lỗi trong ý tưởng và lập luận của người khác là chưa đủ. Điều quan
trọng là những kết luận thận trọng chỉ đưa ra khi được xây dựng trên cơ sở
các luận cứ vững chắc. Vì thế, cần phải thường xuyên suy nghĩ về mọi yếu tố
có liên quan, tìm kiếm thêm những thông tin mới, chứ không chỉ là những gì
đã được phơi bày. Hơn nữa, còn phải xem xét vấn đề ở nhiều khía cạnh khác
nhau, phải tiên đoán những khả năng có thể xảy ra trong tương lai, điều đó
cũng có nghĩa là cần phải có khả năng tư duy sáng tạo.
Tác giả tiếp theo mà chúng tôi muốn giới thiệu là Mathew Lipman
(2003) có một hành động tóm lược một cách vắn tắt một số phát biểu của các
tác giả khác về TDPB như sau:
- Tư duy để giải quyết vấn đề và ra quyết định (Sternberg)
- Tư duy nỗ lực để đưa ra một phán đoán sau khi đã tìm cách thức đáng
tin cậy để đánh giá thực chất về mọi phương diện của các bằng chứng và các
luận cứ (Hatcher).
- Là khả năng của người tư duy phát triển các tiêu chuẩn năng lực hoạt
Theo như tài liệu tập huấn về Kỹ Năng Sống của tổ chức World Vision
Việt Nam, thì có hai định nghĩa về TDPB:
“Tư duy phản biện là một quá trình tư duy biện chứng gồm phân tích và
đánh giá một thông tin đã có theo các cách nhìn khác cho vấn đề đã đặt ra
nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề. Lập luận phản
biện phải rõ ràng, logic, đầy đủ bằng chứng, tỉ mỉ và công tâm”.
“Tư duy phê phán là hoạt động nhận thức của trí óc có đặc điểm nhìn
vấn đề một cách hoài nghi tích cực, nhiều chiều, lật lại vấn đề/không xuôi
chiều để phân tích độ tin cậy, nhìn nhận vấn đề một cách hợp lí, chỉ ra chỗ
không hợp lí. Sau đó sử dụng lí lẽ, luận cứ, lập luận chặt chẽ, logic, có cơ sở
thuyết phục để bảo vệ chính kiến/chân lí, lẽ phải, các quan điểm khác nhau”.
Theo tôi, TDPB là khả năng phân tích và đánh giá về vấn đề nào đó theo
các cách nhìn khác bằng những lập luận có căn cứ để đi tới một kết luận cuối
cùng mang tính thuyết phục hợp với quy luật logic. Trong đó:
- Phân tích là việc chia nhỏ sự vật, hiện tượng hay vấn đề nào đó thành
từng bộ phận, thành các yếu tố hay thành các khía cạnh khác nhau.
- Đánh giá là sự nhận định về giá trị của một vấn đề nào đó.
- Có cách nhìn khác: thể hiện cách nhìn đa chiều đối với sự vật, hiện
tượng, xem xét vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau, tiếp cận vấn đề từ các
quan điểm khác nhau.
- Quy luật logic gồm 4 phần:
+ Quy luật đồng nhất: hiểu một cách đơn giản là khi nói về một điều gì
thì trong suốt quá trình lập luận đều phải nói về nó.
+ Quy luật mâu thuẫn: nghĩa là không thể có điều gì vừa khẳng định lại
vừa phủ định được.
+ Quy luật triệt tam: có nghĩa là một cái gì đó chỉ có giá trị đúng hoặc
sai, không có giá trị thứ ba.
+ Quy luật nhân quả: có nguyên nhân thì mới có kết quả.