CƠ SỞ KHOA HỌC
CỦA VIỆC PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC
PHẢN BIỆN CHO HỌC
SINH THPT TRONG
DẠY HỌC MÔN GIÁO
DỤC CÔNG DÂN
1
2
Cơ sở lí luận của việc phát triển NLPB cho học sinh
THPT trong dạy học môn GDCD
-Vai trò phản biện và năng lực phản biện của học sinh
khái niệm phản biện và tư duy phản biện
Đôi khi hai thuật ngữ này được mọi người đánh đồng là
một và và cố ý không nhìn thấy sự khác biết giữa chúng. Trên
thực tế hai thuật ngữ này vừa có điểm chung vừa có điểm
riêng.
Trước hết có thể hiểu đơn giản: Phản biện là một hành
động thể hiện ý kiến, quan điểm khác biệt của chủ thể đối với
ý kiến quan điểm của đối tượng nào đó. Các quan điểm đưa ra
thường được nhìn nhận và đánh giá trên những phương diện
khác nhau, đôi khi các quan điểm đó còn đối lập (trái chiều)
với quan điểm gốc ban đầu. Còn tư duy phản biện là một quá
trình tư duy biện chứng, bao gồm quá trình mà chủ thể phải
lắng nghe, phân tích, so sánh, đánh giá một vấn đề nào đó,
cuối cùng thể hiện lập luận của mình một cách rõ ràng, lôgic
về vấn đề đó nhưng với cách nhìn khác nhau.
chứng, tỉ mỉ và công tâm” [28] .
Như vậy, tư duy phản biện không đơn thuần chỉ là những
ý kiến “phản biện” như tên gọi. Những hoạt động trong quá
trình tư duy phản biện thường bao gồm: nêu quan điểm và bảo
vệ quan điểm, sử dụng những bằng chứng phù hợp, tạo mối
liên hệ giữa các ý, đánh giá, phân tích, phân loại, so sánh, chỉ
ra khó khăn và cách khắc phục. Một quá trình tư duy phản
biện được coi là tốt khi đạt được những tiêu chí: rõ ràng,
mạch lạc, chính xác, thống nhất, ngắn gọn, phù hợp, có những
giải thích và lý do phù hợp, khách quan, toàn diện và có chiều
sâu. Nhưng trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác
giả luận văn chỉ cố gắng đi làm rõ khái niệm phản biện.
“Phản biện là tư duy có suy xét, phân tích, đánh giá và
tìm hiểu thông tin với thái độ hoài nghi tích cực, sau đó lập
luận và chứng minh lập luận ấy bằng những thông tin đã
được kiểm chứng để đưa ra một kết luận cuối cùng mang tính
thuyết phục, phù hợp với thực tiễn và quy luật logic nhằm giải
5
quyết các vấn đề đặt ra”.
Năng lực phản biện
Mỗi con người là một cá thể riêng biệt, có những đặc
điểm riêng về tố chất và khả năng của mình làm cho người đó
có thể thích nghi tốt và có hiệu quả với một dạng hoạt động
nào đó, và sự thành công trong công việc của họ phần lớn tùy
thuộc vào năng lực của họ đối với hoạt động đó. Năng lực
(competency) là một trong những thành tố quan trọng trong
cấu trúc nhân cách. Bàn về khái niệm này đã có rất nhiều nhà
nghiên cứu, học giả trong nước và ngoài nước quan tâm với
người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể”. Cũng tại
diễn đàn này, J.Coolahan quan niệm : NL là “những khả năng
cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và
7
thiên hướng của một con người được phát triển thông qua
thực hành giảng dạy”. [47]
Tóm lại, dù cách diễn đạt khác nhau nhưng về cơ bản tất
cả những quan điểm và quan niệm trên đều có những điểm
tương đồng nhất định khi bàn đến khái niệm năng lực. Đó là,
nói đến NL chính là nói đến khả năng thực hiện trên cơ sở
kiến thức, ý thức, kỹ năng và thái độ tích lũy được của bản
thân. Như vậy, có thể đi đến định nghĩa về năng lực như sau:
Năng lực là sự huy động, vận dụng tổng hợp các kiến thức, kỹ
năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin,
ý chí... vào việc thực hiện thành công hoạt động, giải quyết
hiệu quả nhiệm vụ trong một bối cảnh nhất định.
Theo quan điểm của Giáo dục vì sự phát triển bền vững
trong DH, thì năng lực của HS được hình thành, phát triển và
thể hiện thông qua các quá trình hoạt động nhận thức và trải
nghiệm nhằm giải quyết các tình huống thực tiễn trong những
bối cảnh cụ thể. Vì thế, vấn đề đổi mới dạy học theo hướng
tiếp cận NL hay nói cách khác là phát triển NL ở các trường
THPT là một xu thế hiện nay trên thế giới và Việt Nam.
Năng lực phản biện là một trong những năng lực cần
8
thiết được quan tâm giáo dục và phát triển cho học sinh càng
+ Có khả năng sử dụng ngôn ngữ để thể hiện lập luận
của mình và tương tác với đối tượng cần tương tác.
Người có NLPB thường cũng là những người tương đối
hoạt ngôn. Không chỉ sắc sảo trong tư duy mà còn sắc sảo và
tinh tế trong ngôn ngữ. Họ có khả năng tranh luận, đưa ra các
lý lẽ với các bằng chứng xác thực để dồn đối phương vào
đường cùng trong tranh luận. Họ có khả năng sử dụng ngôn
ngữ thuần thục: biết đặt câu hỏi khó, đưa ra các phản đoán,
thiết lập các giả định làm cho đối phương khó có thể trả lời.
+ Có thái độ đúng đắn, có bản lĩnh: dám nói, dám thể hiện
ý kiến của mình.
10
Người có NLPB thường là những người có bản lĩnh
chiến đấu cao. Họ thẳng thắn và tôn trọng lẽ phải. Điều gì họ
cho là đúng, thì chết họ cũng phải chứng minh là đúng. Song
họ lại không phải là những người bảo thủ vì đơn gian khi dám
thể hiện tiếng nói của mình, tiến hành phản biện người khác
thì tức là họ chấp nhận tham gia cuộc tranh luận – mà bất cứ
cuộc tranh luận nào cũng có những ý đúng, sai hoặc thậm chí
không đúng, không sai mà chỉ là cách nhìn và cách lập luận là
khác nhau. Vì thể những người có NLPB cũng luôn sẵn sàng
thay đổi quan điểm khi sự suy luận cho thấy phải làm như
vậy.
Các biểu hiện cơ bản của NLPB của học sinh
NLPB giúp chúng ta nhìn nhận vấn đề theo những góc
độ khác nhau, vừa sâu sắc, vừa toàn diện. NLPB là khả năng
của một người, cho phép họ dùng lập luận, ngôn ngữ, hành
động để biểu đạt ý tưởng của mình (trước các ý tưởng trái
06/4/2012, chương II, điều 7, mục 2c” có nói: “Hướng dẫn
HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo và biết phản biện”
[8].
Một số biểu hiện nhận diện về năng lực phản biện của
HS: (1) Có khả năng quan sát tốt, không chỉ nhìn thấy vấn đề
mà phải hiểu vấn đề; (2) Luôn nghi ngờ, tò mò và có mong
muốn đi tìm chân lý; (3) Tư duy sắc xảo, có tư duy tổng hợp,
phân tích loogic một vấn đề; (4) Có khả năng ra quyết định;
(5) Có ngôn ngữ lưu loát mạch lạc, có thuật hùng biện tốt.
12
Trên thực tế cho thấy, trong quá trình dạy học, GV cần
yêu cầu HS phải suy nghĩ, tự tìm kiếm thông tin cho mình,
tìm tòi những ý tưởng mới và tranh luận trong môi trường học
tập. Để đạt được mục tiêu đó, người giáo viên cũng cần phải
nêu câu hỏi theo các tiêu chí: sáng tỏ, độ tin cậy, sự đúng đắn,
độ chính xác, hợp lý, không thiên vị.
Một số ưu điểm của việc phát triển NLPB cho học sinh
Học sinh THPT chính là những chủ nhân tương lai gần
nhất của đất nước – các em sớm phải học cách ra quyết định
và chịu trách nhiệm với quyết định của bản thân mình. Việc
đồng thuận một cách vô điều kiện với ý kiến, quan điểm hoặc
quyết định của người khác là điều chưa chắc đã tốt cho sự
phát triển của dân tộc sau này, cho tập thể hoặc cho chính cá
nhân người đồng thuận. Mà để ra được quyết định và chịu
trách nhiệm với quyết định của mình hoặc chịu trách nhiệm
với chính lá phiếu đồng thuận của mình thì bản thân mỗi em
học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường cần học
cách lắng nghe, học cách quan sát và học nghi ngờ để đưa ra
chủ động tìm kiếm tri thức khi những tri thức đó đang thực
sự trở thành tri thức cần thiết – HS cần nó ngay và mong
muốn sử dụng được ngay, để dùng những tri thức đó tương
tác với người khác. Tri thức chỉ đến và ở lại với HS khi HS
thực sự cần, mà khi HS thực sự cần thì chúng sẽ tự tìm cách
kiếm – Đây thực sự là một quá trình học tập đề cao tính tự
chủ và tính thiết thực trong quá trình học. Và với những tri
thức mà HS tự tìm kiếm và tích lũy, theo thời gian, sự tích
lũy càng nhiều các giúp HS có một phông tri thức rộng để
các em thực sự trở thành những người đủ tri thức để làm chủ
bản thân và xã hội.
Giúp học sinh hình thành tư duy lôgic và được rèn luyện
óc phê phán.
Các cuộc tranh luận thường xuyên trong quá trình học,
với hoạt động phản biện diễn ra liên tục gắn với các tình
huống có vấn đề mà GV để xuất trong quá trình học hoặc HS
tự tìm kiếm và tung ra trong quá trình học sẽ giúp HS rèn
luyện tư duy phê phán một cách tốt nhất. Vì thường xuyên bộ
15
óc của các em phải làm việc và tiếp nhận thông tin mới, xử lý
thông tin dưới các chiều cạnh khác nhau, rồi biểu đạt quan
điểm của mình với những ngôn từ sắc sảo và tinh tế, Tất cả
điều đó đã tạo ra những cơ hội để HS mở rộng khả năng suy
nghĩ và tư duy của mình.
Giúp học sinh có thể tự tin và trung thực bày tỏ quan
điểm cá nhân.
Với cách dạy học truyền thống, HS thường chỉ có cơ hội
học từ thầy, thụ động, còn dạy học tăng cường phản biện sẽ
những rào cản tâm lý của bản thân để chủ động tìm kiếm và
bổ sung nguồn tri thức. Những trải nghiệm của bản thân về
quá trình và kết quả phản biện, từ đó, cũng trở nên sâu sắc
hơn không chỉ ở cách thức, phương pháp phản biện mà còn là
17
bản lĩnh và tâm thế để phản biện, chiếm lĩnh tri thức ấy.
Muốn vậy, GV cần chú ý tăng cường một số yếu tố sau
để quá trình hoạt động phản biện trên lớp đạt hiệu quả tốt
nhất: (1) Giáo viên sẽ phải có tự trau dồi kiến thức nhiều hơn
nữa để có thể tự tin giáo dục và phát triển năng lực phản biện
cho học sinh. Muốn vậy, chính người GV phải sẵn sàng đón
nhận những câu hỏi đa chiều từ phía học sinh; (2) Giáo viên
cũng phải lựa chọn các phương pháp dạy học tích cực – đặc
biệt các phương pháp mang tính tương tác nhiều hơn khi tiến
hành dạy học nhằm phát triển năng lực phản biện cho học
trò); (3) Nếu GV thực sự quan tâm đến việc phát triển năng
lực phản biện cho học trò thì người học thực sự sẽ trở thành
trung tâm của quá trình học và tri thực sẽ thực sự được đề cao.
Ba là, Việc phát triển năng lực phản biện cho học sinh
giúp cho xã hội ngày càng phát triển theo hướng tính cực –
đảm bảo sự công bằng, tiến bộ và dân chủ.
-Thế hệ tương lai của đất nước mà có được năng lực
phản biện tốt sẽ góp phần thúc đẩy xã hội dân chủ phát triển
Học tập theo hướng tăng cường phản biện từ nhỏ sẽ giúp
HS sử dụng hợp lý những kỹ năng giao tiếp và kỹ năng xã
18
sự.
Việc phát triển năng lực phản biện cho học sinh ngay khi
còn học ở phổ thông thì giáo viên và nhà trường là một trong
những nhân tố quan trọng, tác động trực tiếp vào sự phát triển
năng lực phản biện của học sinh. Bởi lẽ, chính nhà trường
(Ban giám hiệu và các thầy cô) phải là người có ý thức tạo ra
môi trường tương tác mở.
Chính thầy cô phải là tấm gương cho sự tranh luận và
phản biện thường xuyên. Nếu những người lớn học được cách
tôn trọng lẽ phải, sẵn sàng tương tác, tranh luận hoặc phản
biện để tìm ra lẽ phải thì học trò của họ, những đứa con nhỏ
của họ sẽ luôn học được họ những kĩ năng phẩm chất và niềm
tin vào việc sống và tôn trọng sự thật.
20
Chính thầy cô phải gạt bỏ bớt đi những lễ nghi phong
kiến cũ như: “trò không được cãi thầy”, “Cấp dưới không
được cãi cấp trên”, “nhân viên không được cãi thủ trưởng”…
tất cả những tư duy cũ đó cần được gạt bỏ để nhường chỗ cho
tư duy của một xã hội dân chủ thật sự - mọi người biết lắng
nghe nhau, và tranh luận hoặc bày tỏ ý kiến của bản thân
trong môi trường cởi mở, tôn trọng nhau. Vì thế, thầy cô phải
tạo điều kiện, khuyến khích học trò đặt câu hỏi phản biện,
không chấp nhận tri thức một chiều. Tạo cơ hội cho các em
được tranh luận thường xuyên với chính thầy và bạn học của
mình.
Sự tác động từ phía gia đình
Trong cuộc sống, gia đình có vai trò vô cùng quan trọng
trong việc hình thành nhân cách. Đặc biệt, môi trường gia
thể hiện quan điểm cá nhân trong sự lễ phép và lịch sự. Cha
mẹ cũng thường xuyên lắng nghe và chấp nhận nếu ý kiến của
con mình là đúng và xác đáng, thậm chí bố mẹ học được cách
xin lỗi con khi cha mẹ biểu đạt sai vấn đề gì đó. Nếu cha mẹ
thực sự tôn trọng các đặc trưng của một môi trường dân chủ
thì cha mẹ đó tất yếu cũng sẽ tạo ra những điều kiện cần và đủ
để con cái mình hình thành thói quen, kĩ năng và ý thức tương
tác trong môi trường dân chủ.
Sự tác động từ phía xã hội
Ngày nay, khi công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ
kéo theo việc tiếp cận thế giới xã hội trở nên nhanh chóng và
tiện lợi hơn bao giờ hết. Việc tiếp nhận mọi vấn đề xã hội nó
quá dễ dàng với bất kỳ ai, bất kỳ đối tượng nào không ngoại
trừ kể cả trẻ em, học sinh mọi lứa tuổi cho đến các cụ già, đặc
biệt nó không phân biệt vùng miền, sự đa dạng hóa và đem
thế giới đến trong ngôi nhà của bạn chỉ bằng một thiết bị điện
tử nhỏ đã khiến cho nhận thức cũng như nhân cách của mọi
người bị chi phối lớn.
Mọi vấn đề của xã hội được cập nhật hằng ngày nhưng
lại bằng rất nhiều nguồn dẫn khác nhau, đến từ nhiều cách
23
nhìn khác nhau do địa chỉ cung cấp thông tin khác nhau,
chính thống có, phi chính thống có.... tất cả điều đó đem lại
cho đứa trẻ nhiều nguồn thông tin để lựa chọn, cho phép đứa
trẻ dễ dàng tìm kiếm tri thức từ kho tàng tri thức rộng lớn của
nhân loại. Với inernet và công nghệ thông tin phát triển mạnh
có để HS rèn luyện và hình thành các năng lực khác.
Cơ sở thực tiễn của việc phát triển NLPB cho học
sinh THPT trong dạy học môn GDCD lớp 12 trường
THPT Lê Trung Kiên, Phú Yên
Đặc điểm nội dung tri thức môn GDCD lớp 12; Vài nét
về trường và đặc điểm học sinh lớp 12 của trường THPT Lê
Trung Kiên
Đặc điểm nội dung tri thức môn GDCD lớp 12
25