Tài liệu Tiểu luận triết học - CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HÓA NHIỀU THÀNH PHẦN TRONG THỜ - Pdf 97


Tiểu luận triết học :
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HÀNG HÓA NHIỀU THÀNH PHẦN
TRONG THỜ
Mục lục
M UỞĐẦ 3
I. T V N ĐẶ Ấ ĐỀ 4
I. C S KHÁCH QUAN T N T I NHI U THÀNH PH N KINH T TRONG Ơ Ở Ồ Ạ Ề Ầ Ế
TH I K QUÁ Ờ Ỳ ĐỘ 4
II. GI I QUY T V N Ả Ế Ấ ĐỀ 5
1. C c u th nh ph n kinh t quá Vi t Nam t i i h i ng 9 có 6 ơ ấ à ầ ế độở ệ ạ Đạ ộ Đả
th nh ph n kinh t .à ầ ế 5
2. Tính t t y u khách quan ph i phát tri n kinh t h ng hóa nhi u th nh ấ ế ả ể ế à ề à
ph n n c ta.ầ ở ướ 9
3. Thái c a Nh n c v i th nh ph n kinh tđộ ủ à ướ ớ à ầ ế 11
4. Bi n pháp phát tri n kinh t nhi u th nh ph n Vi t Namệ để ể ế ề à ầ ở ệ 13
K T LU NẾ Ậ 18
MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH để rồi phát triển lên
một bước cao hơn đó là CNCS - một chế độ xã hội mà ở đó quan hệ sở hữu là
sở hữu công cộng, xã hội không còn giai cấp có tính tự quản cao, làm theo
nhu cầu. Con người được tự do phát triển toàn diện. Đó là mục tiêu của loài
người nói chung và của nước ta nói riêng. Muốn xây dựng được một xã hội
như vậy điều kiện tiên quyết là phải phát triển lực lượng sản xuất.
Việt Nam xuất phát từ một nước nông nghiệp, nghèo nàn, lạc hậu, kém
phát triển. Di sản của cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp vẫn còn tồn tại
khá nặng. Những hệ quả của trạng thái bao cáo tư duy bao cấp vẫn còn, chưa
thực sự sẵn sàng hội nhập. Do vậy phát triển trở thành nhiệm vụ, mục tiêu số
một của toàn Đảng toàn dân. Muốn vậy phải phát triển kinh tế quốc dân, phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường

thành phần kinh tế tư bản tư nhân.
- Đối với tư bản nhỏ của người sản xuất hàng hóa nhỏ thì chỉ có thông
qua con đường hợp tác hóa. Để tiến hành hợp tác hóa theo quy luật và nguyên
tắc cần phải có thời gian. Do đó trong thời kỳ quá độ còn thành phần cá thể
của nông dân và thợ thủ công, tiểu thương là một tất yếu.
b) Các thành phần kinh tế tư nhân do lịch sử để lại: Trong thời kỳ quá
độ cần phải được phát triển để sản xuất và đời sống không bị mất mát gián
đoạn. Nó phù hợp với lợi ích của người lao động và có vai trò quan trọng
trong việc xác lập và phát triển hệ thống kinh tế mới.
c) Để giữ lại được chính quyền và định hướng xã hội chủ nghĩa, giai
cấp vô sản cần xây dựng hệ thống kinh tế mới, trước hết là kinh tế quốc doanh
làm cơ sở để phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ quá độ.
- Xác định bản chất các thành phần kinh tế dựa trên quan hệ sở hữu và
tính chất của lao động. Mỗi thành phần kinh tế có nhiều kiểu sản xuất hàng
hóa của nó, hợp thành kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Còn gọi là nền kinh
tế hàng hóa quá độ, chứ không phải là kinh tế hàng hóa xã hội chủ nghĩa.
- Nền kinh tế hàng hóa quá độ là nền kinh tế hàng hóa kết hợp những
kiểu sản xuất hàng hóa không cùng bản chất, vừa thống nhất vừa mâu thuẫn
với nhau.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ cấu thành phần kinh tế quá độ ở Việt Nam tại Đại hội Đảng 9 có 6
thành phần kinh tế.
a) Kinh tế Nhà nước: Là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu
công cộng về tư liệu sản xuất. Kinh tế Nhà nước bao gồm các doanh nghiệp
Nhà nước, các quỹ dự trữ quốc gia, các quỹ bảo hiểm Nhà nước và các tài sản
thuộc sở hữu Nhà nước có thể đưa vào vòng chu chuyển kinh tế.
- Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Là
lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều
tiết vĩ mô nền kinh tế vì:
+ Nó nắm những ngành, những cơ sở kinh tế then chốt như: công

- Kinh tế tập thể lấy lợi ích kinh tế là chính bao gồm lợi ích của các
thành viên và lợi ích tập thể, đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của các thành
viên.
- Ở khu vực nông nghiệp và nông thôn, phát triển kinh tế tập thể phải
trên cơ sở đảm bảo quyền tự chủ của kinh tế hộ, trang trại, hỗ trợ đắc lực cho
kinh tế hộ, trang trại phát triển gắn liền với tiến trình CNH- HĐH nông
nghiệp và xây dựng nông thôn mới.
- Xu hướng vận động và phát triển của kinh tế tập thể theo hướng hình
thành những cơ sở, tổ hợp kinh tế công nông nghiệp để đi lên sản xuất lớn.
c) Kinh tế cá thể, tiểu chủ
- Kinh tế cá thể: là thành phần kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản
xuất và khả năng lao động của bản thân người lao động và gia đình.
- Kinh tế tiểu chủ: cũng là hình thức kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư
liệu sản xuất nhưng có thuê mướn lao động. Tuy nhiên thu nhập vẫn chủ yếu
dựa vào sức lao động và vốn của bản thân và gia đình.
- Kinh tế cá thể, tiểu chủ đang có vị trí rất quan trọng trong nhiều ngành
nghề ở nông thôn và thành thị có điều kiện phát huy nhanh và hiệu quả về vốn
sức lao động tay nghề của từng người trong gia đình. Do đó mở rộng sản xuất
kinh doanh của kinh tế cá thể tiểu chủ cần được khuyến khích.
- Tuy nhiên cũng cần thấy rằng kinh tế cá thể tiểu chủ dù cố gắng đến
bao nhiêu cũng không thể loại bỏ được những hạn chế vốn có của nó như:
tính manh mún, tự phát, hạn chế về kĩ thuật do đó Nhà nước cần tạo điều kiện
và giúp đỡ để họ phát triển, khuyến khích các hình thức tổ chức hợp tác tự
nguyện làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn. Bởi thành
phần kinh tế này có vai trò rất quan trọng trong việc sản xuất, dịch vụ, tư liệu
sinh hoạt phục vụ cả sản xuất và tiêu dùng.
d) Kinh tế tư bản tư nhân: Là thành phần kinh tế mà sản xuất kinh
doanh dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất
và bóc lộc sức lao động làm thuê.
- Trong thời kỳ quá độ thành phần kinh tế này có vai trò đáng kể trong

- Sự chuyển hóa của các thành phần kinh tế trong quá trình đi lên chủ
nghĩa xã hội diễn ra dưới nhiều hình thức, phù hợp với tính chất, trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất.
f. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Bao gồm các doanh nghiệp có thể
100% vốn nước ngoài (một thành viên hoặc nhiều thành viên) có thể liên kết,
liên doanh với doanh nghiệp Nhà nước hoặc doanh nghiệp tư nhân của nước
ta
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có vị trí quan trọng trong nền kinh tế
nước ta. Trong 10 năm qua (1991 - 2000) các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài phát triển khá nhanh giá trị sản xuất tăng bình quân 22% một
năm. Trong 5 năm (1996 - 2000) vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực
hiện khoảng 10 tỉ USD, chiếm 23% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội; các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tạo ra 34% giá trị sản xuất toàn ngành công
nghiệp, trên 22% kim ngạch xuất khẩu và đóng góp trên 10% GDP chung của
cả nước.
Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định "tạo điều kiện để kinh tế có vốn
đấu tư nước ngoài phát triển thuận lợi, hướng vào xuất khẩu xây dựng kết
cấu hạ tầng, kinh tế xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều
việc làm cải thiện môi trường kinh tế và pháp lí để thu hút vốn đầu tư nước
ngoài [Đảng cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần 9,
NXB chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, trang 99].
2. Tính tất yếu khách quan phải phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
ở nước ta.
a. Do yêu cầu của việc phát triển lực lượng sản xuất và thực chất là
chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
- Chúng ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội một nước nông nghiệp lạc hậu,
vốn là thuộc địa nửa phong kiến, nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ, còn
mang nặng tính tự cung, tự cấp, chưa trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ
nghĩa.
- Chúng ta tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều

trọng để tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động.
3. Thái độ của Nhà nước với thành phần kinh tế
Cho đến hiện nay vấn đề này vẫn chưa có sự thống nhất về lí luận và
hành động thực tiễn có 3 nhận ý kiến.
a. Nhà nước ta phải có chính sách, chế độ đối xử nhất quán với các
thành phần kinh tế.
b. Toàn bộ hoạt động của Nhà nước phải dựa trên sự phân biệt đối xử
với các thành phần kinh tế.
c. Thái độ đối xử của Nhà nước đối với thành phần kinh tế vừa phải
nhất quán, vừa phải phân biệt vì: Nền kinh tế hàng hóa quá độ trong nó tồn tại
những kiểu sản xuất không cùng bản chất vừa thống nhất và vừa mâu thuẫn
với nhau.
- Tính thống nhất
+ Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường do đó các thành phần
kinh tế không tồn tại biệt lập mỗi thành phần kinh tế là một bộ phận cấu thành
của nền kinh tế quốc dân thống nhất. Sự phát triển của mỗi thành phần kinh tế
góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế.
+ Các thành phần kinh tế tuy có bản chất về mặt sản xuất khác nhau
nhưng hoạt động sản xuất kinh doanh trong một môi trường chung cũng chịu
sự tác động các nhân tố các quy luật chung của thị trường.
+ Các thành phần kinh tế tác động lẫn nhau cả tích cực và tiêu cực sự
biến đổi của thành phần kinh tế này sẽ ảnh hưởng đến sự biến đổi của thành
phần kinh tế khác. Trong nền kinh tế quốc dân thống nhất do Nhà nước hướng
dẫn điều tiết các chủ thể sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế
vừa hợp tác với nhau, bổ sung cho nhau, đều bình đẳng trước pháp luật.
- Tính mâu thuẫn
+ Mỗi thành phần kinh tế có đặc điểm riêng vì vậy mỗi thành phần kinh
tế ngoài những qui luật kinh tế chung còn có quy luật kinh tế đặc thù chi phối
hoạt động các thành phần.
+ Mỗi thành phần kinh tế mang bản chất, kinh tế khác nhau có các lợi

phối ở một số ngành, lĩnh vực then chốt địa bàn quan trọng. Thực hiện tốt chủ
trương cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu với các doanh nghiệp Nhà nước
không cần nắm 100%. Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách tạo động lực phát
triển và nâng cao hiệu quả.
- Thực hiện nhiều hình thức phân phối lấy phân phối theo kết quả lao
động là chủ yếu.
- Hình thành và củng cố những đơn vị sản xuất hàng hóa nhằm chuyển
quan hệ trao đổi có tính hiện vật sang quan hệ hàng hóa - tiền tệ. Cả về vị trí
lý thuyết và thực tiễn đều cho thấy không thể có được nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần nếu như không có đơn vị sản xuất hàng hóa
+ Thừa nhận thành phần kinh tế tư nhân và thị trường tự do là bộ phận
của nền kinh tế quốc dân và của thị trường xã hội.
+ Bảo đảm quyền tự chủ về tài chính, cho các cơ sở kinh tế Nhà nước
để những cơ sở này được chủ động phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa.
+ Nhấn mạnh lợi ích của cá nhân người lao động và lợi ích của các đơn
vị sản xuất cơ sở.
- Đẩy mạnh phân công lao động xã hội nhằm mở rộng thị trường
- Mở rộng và đa dạng hóa loại hình sở hữu và các loại hình thức kinh
doanh.
Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất được coi là điều kiện không thể
thiếu được của điều kiện tồn tại và phát triển kinh tế hàng hóa ở nước ta để
khắc phục tình trạng vô chủ, lãi giả, lỗ thật trong các doanh nghiệp Nhà nước,
để tạo ra sự tự do kinh tế và hình thành nhiều nhà kinh doanh giỏi thích ứng
với cơ chế thị trường, tất yếu phải đa dạng hóa các loại hình tổ chức. Nó bắt
nguồn từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội và xu hướng chung
của thế giới. Trong điều kiện của nước ta chúng ta điều chỉnh cơ cấu sở hữu
theo hướng sau:
+ Phát huy hình thức kinh tế hộ nông dân, thợ thủ công bằng cách tạo
thị trường cho chúng, trước hết là thị trường nông thôn rộng lớn.
+ Xây dựng khu vực kinh tế công cộng, với chức năng đảm bảo sự ổn

+ Nguyên nhân khách quan: Nền kinh tế còn mang nặng tính tự cung,
tự cấp, sản xuất chưa mang tính xã hội hóa cao. Do chúng ta quá độ lên chủ
nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, vốn là thuộc địa nửa phong
kiến với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội rất thấp.
Bên cạnh đó đất nước lại trải qua nhiều năm chiến tranh, hậu quả để lại
rất nặng nề
+ Nguyên nhân chủ quan: di sản của cơ chế kế hoạch hóa tập trung
quan liêu bao cấp vẫn còn tồn tại khá nặng. Những hệ quả của trạng thái bao
cấp và tư duy bao cấp vẫn còn. Vẫn còn tồn tại mô hình kinh tế chỉ huy đối
lập với nền kinh tế hàng hóa vận động theo cơ chế thị trường. Bên cạnh đó do
trình độ kỹ thuật thấp kém, năng suất lao động thấp, thu nhập bình quân đầu
người chưa cao, so với các nước đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á thì
Việt Nam thuộc loại thấp nhất.
c. Các biện pháp cụ thể để khắc phục những hạn chế trên
- Xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, chuyển cơ chế kinh tế
cũ sang cơ chế kinh tế mới - cơ chế thị trường.
+ Từng bước xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp trong tất cả
các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Đồng thời xác lập và mở
rộng yếu tố và quan hệ thị trường
+ Mở rộng và đa dạng hóa các hình thức sở hữu, các loại hình thức sở
hữu, các loại hình sản xuất kinh doanh, tức là phát triển kinh tế nhiều thành
phần, khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân mọi thành phần và lực lượng kinh tế
phát huy tiềm năng lợi thế. Gắn kinh tế trong nước với mở cửa hội nhập bên
ngoài, gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển toàn diện về mặt xã hội.
+ Đổi mới cơ chế, chính sách kinh tế theo hướng thị trường đi đôi với
cải cách hành chính, phát triển nền kinh tế thị trường trong xu thế ổn định
chính trị và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại
hóa
+Ưu tiên cho phát triển khu vực nông nghiệp nông thôn, đây là vấn đề

có hoặc còn sơ khai. Thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường
bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ.
KẾT LUẬN
Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ
nghĩa là giải pháp cơ bản để chuyển từ sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn ở nước
ta khẳng định "mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật
chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển
lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù
hợp với cả ba mặt sở hữu, quản lý phân phối "[Đảng cộng sản Việt Nam văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 9, nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà
Nội, 2001 trang 86 - 87].
Từ sự nhận thức về tồn tại khách quan của nhiều hình thức sở hữu và
các thành phần kinh tế qua đó có những chính sách kinh tế phù hợp khuyến
khích sản xuất hàng hóa tạo môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế
phát triển. Bên cạnh đó phải biết khai thác thế mạnh của sản xuất hàng hóa và
các thành phần kinh tế để giải phóng sức sản xuất, tăng năng suất lao động tạo
ra nhiều sản phẩm cho xã hội, tạo công ăn việc làm. Hơn thế nữa Nhà nước,
phải có chính sách đúng đắn để quản lý các doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế khác nhau, thấy được xu hướng phát triển, yếu điểm của từng
thành phần để hạn chế ngăn chặn các tiêu cực trong xã hội.
Quá trình phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định
hướng xã hội chủ nghĩa vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước ở nước ta là quá trình thực hiện dân giàu nước mạnh, tiến lên hiện
đại hóa trong một xã hội nhân dân làm chủ, nhân ái, có văn hóa, có kỷ cương,
xóa bỏ áp bức bất công, tạo điều kiện cho người dân có cuộc sống ấm no, tự
do hành phúc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status