CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC PHẢN BIỆN CHO HỌC
SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
VIỆT NAM LỚP 11 TẠI TRƯỜNG
THPT CHUYÊN BẮC GIANG.
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
1
- Những điều kiện cần và đủ để phát triển năng lực phản
biện trong dạy học Lịch sử
- Những điều kiện cần
- Thứ nhất là phải đảm bảo đồng bộ các yếu tố của quá
trình dạy học
Trong quá trình dạy học lịch sử, để phát triển năng lực phản
biện cho học sinh, điều đầu tiên và quan trọng hàng đầu đó là đảm
bảo phải đồng bộ các yếu tố của quá trình dạy học là mục tiêu, nội
dung dạy học, hoạt động của thầy và trò, môi trường dạy học,
phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá… Bởi lẽ, dù muốn hình
thành hay phát triển năng lực gì cho học sinh thì cũng phải đảm bảo
việc dạy học được tiến hành đồng bộ trong tổng hòa các yếu tố của quá
trình dạy học.
Hình thành năng lực phản biện cho học sinh trong học tập lịch
sử phải được tiến hành trong tổng hòa các yếu tố của quá trình dạy
học. Việc đầu tiên là phải xác định được mục tiêu dạy học. Đây là
kết quả mà chủ thể là giáo viên hình dung ra trước với việc sử dụng
các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học để tác động vào đối
tượng (là học sinh), làm biến đổi đối tượng cho phù hợp với mục
tiêu đặt ra. Mục tiêu phải đúng đắn, cụ thể, thậm chí còn phải đo
đếm được bằng cả định tính và định lượng.
thì hai chủ thể vẫn thống nhất với nhau. Mọi yếu tố của quá trình
dạy học đều phải thông qua hai chủ thể này mà phát huy tác dụng.
Kiểm tra đánh giá cũng là một yếu tố của quá trình dạy học.
Kiểm tra đánh giá sẽ đánh giá được ưu điểm, nhược điểm của quá
trình dạy học, có tác động nguowci trở lại để điều chỉnh hoạt động
dạy của thầy và hoạt động học của trò.
- Thứ hai, phải có không khí dân chủ trong quá trình học
tập.
Trong bất cứ một môi trường nào, không khí dân chủ cũng tạo
được sự thoải mái, hứng khởi cho mọi người. Trong quá trình học
tập, từ lâu người ta thường quen với hình ảnh thầy đọc trò chép hay
thầy nói sao học sinh học thuộc theo như vậy. Tính độc đoán, một
chiều đó làm cho học sinh không thể thể hiện quan điểm, suy nghĩ,
từ đó trở nên thụ động và làm hạn chế đi sự phát triển các năng lực
cần thiết cho học sinh.
Người giáo viên phải tạo ra sự hoà đồng giữa hai quá trình tác
động của sự kiện, hiện tượng lịch sử và sự tiếp nhận các tác động
đó đối với học sinh. Tạo không khí dân chủ trong giờ học chính là
xác lập một mối quan hệ bình đẳng, cởi mở, tự do sáng tạo trong
quan hệ giao tiếp. Bầu không khí dân chủ là tiền đề kích thích sự
hăng hái, sáng tạo ở các em để cùng trao đổi, thảo luận với giáo
viên, với bạn bè về các ý kiến, các đánh giá khác nhau về nhận vật,
sự kiện lịch sử. Thông qua đối thoại dân chủ, giáo viên hướng dẫn,
điều chỉnh, bổ sung sự nhận thức của các em tác động hình thành
4
nên những trí tuệ mới, phẩm chất mới ở học sinh, để các em là một
chứ không phải người áp đặt kiến thức. Muốn thực hiện được điều
đó, thì lớp học phải có không khí dân chủ, phải tạo được sự tin
tưởng, thoải mái, giáo viên phải có sự kích lệ, động viên để học sinh
tự tin đưa ra quan điểm của bản thân và chủ động trong việc tiếp thu
kiến thức. Đây không chỉ là yêu cầu đối với riêng việc phát triển
năng lực phản biện mà nó còn là yếu tố cần thiết để học sinh có môi
trường học tập, thể hiện, rèn luyện và phát triển tổng hợp các năng
lực trong giai đoạn như hiện nay.
- Thứ ba, phải tạo điều kiện thuận lợi để học sinh tương tác
trong lớp học.
Song song với việc tạo không khí dân chủ trong học tập, việc
tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tương tác trong lớp học cũng là
một yếu tố quan trọng và được đề cao.
Muốn để học sinh phát triển năng lực, thể hiện được sự phê
phán, độc lập sáng tạo hay sự nhạy bén thì học sinh phải có môi
trường và điều kiện để rèn luyện, có cơ hội để phát triển. Để học
sinh tương tác với nhau một cách tự nhiên, thoải mái, giáo viên cần
trao cho học sinh những công cụ hỗ trợ. Những công cụ đó không
chỉ là kiến thức mà có thể còn là những mẫu câu để các em sử dụng
thuận lợi trong quá trình tương tác như:
6
Làm rõ
Không đồng tình
- Em có thể trình bày cho tôi
- Nói cách khác, ý kiến của em
- Y nhận định rằng…
là…
- Vâng và hơn thế…
- Vậy ý em là…
- Thực ra em tin rằng…
- Tôi nghe em nói rằng…
7
Tạo điều kiện thuận lợi để học sinh tương tác là việc giáo viên
kết hợp các phương pháp dạy học như thảo luận nhóm, thảo luận cả
lớp, ghép đôi, dạy học dự án… để học sinh có điều kiện để trao đổi
với nhau và với giáo viên. Tạo ra môi trường thuận lợi cho học sinh
tương tác sẽ hóp phần bồi dưỡng kiến thức, giáo dục tư tưởng, thái
độ và phát triển toàn diện học sinh. Trong quá trình đó, học sinh sẽ
bộc lộ, thể hiện quan điểm của bản thân mình. Đó chính là điều kiện
để phát triển năng lực phản biện cho học sinh trong dạy học lịch sử
nói riêng và dạy học trong nhà trường nói chung.
- Những điều kiện đủ
Thứ nhất sử dụng các phương pháp dạy học phù hợp để tổ
chức học sinh phát triển năng lực phản biện.
Để phát triển năng lực phản biện cho học sinh thì người giáo
viên phải kết hợp đa dạng và tổng hợp tất cả các phương pháp dạy
học, bên cạnh đó, người giáo viên cũng không ngừng đổi mới, học
9
Trong quá trình dạy và học, học sinh luôn là chủ thể của hoạt
động này. Chính vì vậy, để phát triển năng lực phản biện, bản thân
học sinh phải có sự chủ động, quyết tâm, đam mê và có thái độ
học tập đúng đắn. Đây là không chỉ là yếu tố quan trọng mà còn là
tiền đề, động lực cho mọi quá trình học tập hay làm việc của HS.
Nếu học sinh có sự đam mê trong lịch sử, tự bản thân các em
sẽ có động lực để học tập, tìm hiểu kiến thức. Trong quá trình hăng
say tìm hiểu kiến thức và có quyết tâm thái độ đúng đắn nghiêm túc
trong học tập đó, các em sẽ có tư duy độc lập trong học tập, có sự
nhạy bén trong việc đặt mình trong các bối cảnh lịch sử để lí giải
kiến thức cũng như có sự chú ý trong học tập, dũng cảm nói lên
quan điểm của bản thân. Như vậy, chính thái độ, tinh thần của các
em là điều kiện tiên quyết và quan trọng hàng đầu để hình thành và
phát triển năng lực phản biện cho học sinh trong quá trình dạy học
lịch sử.
- Xác định những nội dung lịch sử Việt Nam lớp 11 góp
phần phát triển năng lực phản biện cho học sinh
- Vị trí
Lịch sử lớp 11 phần Việt Nam từ năm 1858 - 1918 có vai trò
qua trọng trong tiến trình lịch sử dân tộc. Phần này sẽ cung cấp cho
học sinh kiến thức lịch sử về tình hình Việt Nam từ năm 1858 đến
10
cuối thế kỉ XIX bao gồm diễn biến của cuộc kháng chiến chống
Pháp xâm lược của nhân dân ta từ năm 1858 đến trước năm 1873,
chiến sự lan rộng ra cả nước với sự đầu hàng của nhà Nguyễn và
ý nghĩa của phong trào Cần Vương trong phong trào yêu nước
chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong những năm cuối thế kỉ
XIX.
- Tóm tắt được những chính sách của Pháp trong cuộc khai
thác thuộc địa lần thứ nhất năm 1897.
- Trình bày được những biến chuyển về kinh tế, xã hội Việt
Nam dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất năm
1897.
12
- Trình bày được những phong trào yêu nước và cách mạng ở
Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến chiến tranh thế giới thứ nhất năm
1914.
- So sánh được sự giống và khác nhau trong xu hướng bạo
động của Phan Bội Châu và xu hướng cải cách của Phan Châu
Trinh.
- Phân tích nguyên nhân thất bại và ý nghĩa của được những
phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến
chiến tranh thế giới thứ nhất năm 1914.
- Trình bày được tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam trong
những năm chiến tranh thế giới thứ nhất từ 1914 - 1918.
- Phân tích được nguyên nhân ra đi tìm đường cứu nước của
Nguyễn Tất Thành.
- Phân biệt được các khái niệm: kháng chiến, khởi nghĩa, bạo
động, cải cách.
* Về kĩ năng:
- Rèn luyện kĩ năng khai thác, sử dụng hình ảnh, bản đồ.
- Rèn luyện kĩ năng phân tích, đánh giá, so sánh.
- Phân tích vấn đề từ nhiều góc độ
- Đưa ra kết luận.
Đây cũng chính là một trong những khâu của quá trình hình
thành và phát triển của năng lực phản biện. Từ đây, học sinh có khả
năng phân tích vấn đề và quan trọng hơn, khi đã có khả năng phân
tích, so sánh đánh giá, học sinh sẽ có bản lĩnh để lí giải vấn đề cũng
như tranh luận, bác bỏ ý kiến về sự kiện nào đó khi được đưa ra.
Nhờ đó, năng lực phản biện được hình thành và phát triển trong quá
trình học tập.
- Các biện pháp phát triển năng lực phản biện cho học
sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 11 trường THPT
Chuyên Bắc Giang.
- Tạo tâm thế nhập cuộc cho học sinh thông qua tình
huống phản biện.
Khi hướng dẫn học sinh nắm kiến thức cơ bản, giáo viên cần
chú ý đến “nhu cầu tư duy” của học sinh khi học sinh tiếp thu kiến
15
thức mới, hoặc muốn hiểu sâu sắc, làm phong phú hơn kiến thức đã
biết. Trong trường hợp này, các em xẽ xuất hiện những thắc mắc,
những vấn đề được đặt ra để giải quyết. Như thế giáo viên đã tạo
tâm thế nhập cuộc cho học sinh thông qua tình huống phản biện là
một biện pháp sử dụng hệ thống các lời dẫn, câu hỏi để đặt cho học
sinh, trong đó nội dung dẫn dắt và các câu hỏi đặt ra cho học sinh
mang tính chất mới lạ, chứa nhiều điều mâu thuẫn hoặc khác với
những gì học sinh đã được học được nghe trước đó. Những câu hỏi,
những tình huống mà giáo viên đưa ra luôn có tính khách quan và
chủ quan. Tính khách quan được thể hiện ở những sự kiện lịch sử
thân để giải quyết vấn đề được đặt ra, hoặc giáo viên có thể đưa ra
những ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về một sự kiện,
vấn đề lịch sử để học sinh phân tích, đánh giá và tìm ra ý kiến đúng
đắn. Có như vậy các em sẽ thoát nhanh ra khỏi ức chế ban đầu và
tiếp nhận yêu cầu mới. Việc tạo tâm thế nhập cuộc cho học sinh
được sử dung gồm 3 yếu tố:
+ Trình bày nêu vấn đề: đưa ra lời dẫn dắt và câu hỏi Vì sao?
17
+ Tình huống nêu vấn đề: hoặc đưa ra 2 ý kiến trái ngược nhau
buộc học sinh phải lựa chọn và lí giải hoặc đưa ra một câu hỏi yêu
cầu học sinh giải quyết rõ vấn đề.
+ Bài tập nhận thức - bài tập nêu vấn đề: khái quát kiến thức
toàn bài.
Giáo viên có thể vận dụng 3 yếu tố trên vào bài giảng hoặc lựa
chọn 1 trong 3 yếu tố trên để giúp học sinh phát triển và tăng cường
năng lực phản biện trong quá trình giảng dạy môn Lịch sử.
Giáo viên có rất nhiều cách để tạo tâm thế nhập cuộc cho học
sinh thông qua tình huống phản biện trong mọi giờ học tại một số
thời điểm cụ thể:
* Đầu giờ học: thường là đưa học sinh vào tình huống có vấn
đề gây sự mâu thuẫn giữa những điều học sinh đã biết với những
điều học sinh chưa biết, từ đó có động cơ, hứng thú muốn tìm hiểu
để biết dần dần dẫn dắt học sinh vào bài. Có nhiều cách để xây dựng
những tình huống nhập cuộc như:
- Tình huống nhập cuộc liên quan đến việc tìm hiểu bản chất
của sự kiện lịch sử (nguyên nhân, tính chất, đặc điểm, so sánh…)
- VD1: Khi chuyển sang phẩn Lich sử Việt Nam từ 1858 đến
nhiệm đến đâu trong việc để mất nước ta vào cuối thế kỉ XIX?
- Tạo tâm thế nhập cuộc bằng tình huống có liên quan đến
đánh giá sự kiện lịch sử, liên hệ thực tế, rút ra bài học kinh nghiệm
lịch sử cho việc tiếp thu kiến thức mới và hoạt động thực tiễn.
- VD3: Khi dạy bài 23: Phong trào yêu nước và cách mạng ở
Việt Nam từ nửa đầu thế kỉ XX đến chiến tranh thế giới thứ nhất
1914, để tạo tâm thế cho học sinh, giáo viên có thể đặt một số câu
hỏi như sau:
+ Năm 1897, Chính phủ Pháp cử Pôn Đu-me sang làm toàn
quyền Đông Dương để hoàn thiện bộ máy thống trị và tiến hành
cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Điều này đã có tác động rất
lớn, làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của Việt Nam từ một nước
phong kiến trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến, vậy các
em sẽ dự đoán như thế nào về phong trào yêu nước và cách mạng
của Việt Nam trong giai đoạn này dưới tác động của cuộc khai thác
thuộc địa lần thứ nhất như thế nào? Liệu phong trào yêu nước và
cách mạng Việt Nam có tiếp tục được phát triển mạnh mẽ và diễn ra
sôi nổi như những thời kì trước? Với sự mất đi vai trò lãnh đạo của
triều đình và sự thất bại của phong trào yêu nước đi theo ngon cờ
phong kiến thì phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam trong
20
giai đoạn này sẽ phát triển và đi theo khuynh hướng cứu nước nào
để đáp ứng nhu cầu lịch sử?
- VD4: Khi dạy bài 19: Nhân dân Việt Nam kháng chiến
chống Pháp xâm lược từ năm 1858 đến trước năm 1873, để tạo tâm
thế cho học sinh, giáo viên có thể đặt một số câu hỏi như sau:
+ Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta, vậy các em khi
thế kỉ XIX. Chúng ta biết được rằng, sau hiệp ước Patơnốt kí vào
ngày 6/6/1884, nước ta đã chính thức trở thành đất nước thuộc địa
của thực dân Pháp, đặt dưới sự bảo hộ của thực dân Pháp. Nền độc
lập của dân tộc đã không còn. Vậy liệu rằng sau thất bại trong cuộc
kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta giai đoạn 1873 - 1884 với
sự đầu hàng đầy nhu nhược của triều đình nhà Nguyễn, các phong
trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta trong những năm sau đó
cuối thế kỉ XIX sẽ diễn ra như thế nào? Liệu rằng những phong trào
này còn diễn ra sôi nổi, dồn dập như những giai đoạn trước. Và liệu
22
rằng những phong trào này chỉ là những phong trào mang tính chất
tự phát của nhân dân hay có sự giúp đỡ của triều đình hay các lực
lượng lãnh đạo khác? Phong trào yêu nước tiêu biểu nhất của nhân
dân ta trong giai đoạn này là phong trào nào?
- VD2: Khi dạy bài 24: Phong trào yêu nước chống Pháp và
cách mạng ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến chiến tranh thế giới thứ
nhất năm 1914, mục 1: Phan Bội Châu và xu hướng bạo động, GV
có thể đặt một số các câu hỏi như sau để tạo tâm thế phản biện cho
học sinh:
+ Trong buổi học trước, các em đã nắm được diễn biến Phong
trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong những năm
cuối thế kỉ XIX và hoàn cảnh Xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác
thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp triển khai trên toàn Đông
Dương. Vậy, các em hãy sử dựng những kiến thức đã học minh họa
bước phát triển của phong trào đấu tranh của nhân dân và kiến thức
về xã hội Việt Nam giai đoạn lúc bấy giờ. Em có suy nghĩ gì về
cuộc phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ đầu thế kỉ
24
các từ khóa như: đánh giá, kết luận, cho điểm, quyết định, nhận
thấy…
- VD1: Khi dạy bài 19: Nhân dân Việt Nam kháng chiến
chống Pháp xâm lược từ năm 1858 đến trước năm 1873, để tạo tâm
thế cho học sinh, giáo viên có thể đặt một số câu hỏi như sau: năm
1858, thực dân Pháp nổ sung tiến hành xâm lược nước ta. Với
những kiến thức các em đã được học trong phần lịch sử thế giới cận
đại, các em có đánh giá gì về sự kiện này? Đây là sự kiện tất yếu
hay không tất yếu?
- VD2: Khi dạy bài 20: Chiến sự lan rộng ra cả nước. Cuộc
kháng chiến của nhân dân ta từ năm 1873 đến năm 1884. Nhà
Nguyễn đầu hàng. Để kết thúc bài học cũng như kiểm tra kiến thức
mà học sinh đã tích lũy và thu nhận được trong quá trình học tập,
giáo viên có thể đặt một số câu hỏi như sau:
+ 1873, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta mở
rộng địa bàn chiến đấu với quy mô cả nước. Vậy, việc mở rộng địa
bàn chiến đấu này thể hiện tinh thần chống Pháp quyết liệt của nhân
dân ta được lan rộng cả nước hay nó thể hiện sự thắng thế của Pháp
trong cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam? Các em hãy đánh giá
điều này?
25