Luận văn tốt nghiệp Đại Học GVHD: ThS- GVC Trần Quốc Tuấn SVTH: Tạ Thị
Tân
i
Lời cảm ơn
Sau một thời gian dài nghiên cứu em đã hoàn thành
luận văn của mình. Đó là kết quả của sự cố gắng của bản
thân trong những năm tháng trên giảng đường Đại Học;
sự hướng dẫn tận tình của quý thầy cô trong những năm
vừa qua.
Để ghi nhớ công ơn trên.em xin chân thành cảm ơn
tất cả các thầy cô trường Đại Học Cần Thơ, Khoa Sư
Phạm và Bộ Môn Vật lí đã truyền đạt những kiến thức
và kinh nghiệm.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn ThS-GVC Trần
Quốc Tuấn đã tận tình chỉ dẫn cho em trong suốt quá
trình thực hiện luận văn.
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng cũng không
tránh khỏi hạn chế và thiếu sót. Em rất mong nhận được
những ý kiến quý báu của quý thầy cô và bạn bè để đề
tài được hoàn thiện hơn.
Cuối lời, xin kính chúc thầy cô và các bạn dồi dào
sức khỏe và công tác tốt.
Em xin chân thành cảm ơn !
Lời cảm ơn
Sau một thời gian dài nghiên cứu em đã hoàn thành luận
văn của mình. Đó là kết quả của sự cố gắng của bản thân trong
những năm tháng trên giảng đường Đại Học; sự hướng dẫn tận
tình của quý thầy cô trong những năm vừa qua.
Để ghi nhớ công ơn trên.em xin chân thành cảm ơn tất cả
các thầy cô trường Đại Học Cần Thơ, Khoa Sư Phạm và Bộ
Môn Vật lí đã truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm.
Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2014 ThS – GVC Trần Quốc Tuấn
ii
Luận văn tốt nghiệp Đại Học GVHD: ThS- GVC Trần Quốc Tuấn SVTH: Tạ Thị
Tân
Chương 2. PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 24
KẾT LUẬN 92
iii
Luận văn tốt nghiệp Đại Học GVHD: ThS- GVC Trần Quốc Tuấn SVTH: Tạ Thị Tân
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Thời đại khoa học – kỹ thuật – công nghệ và kinh tế thị trường đang phát triển
mạnh mẽ không những ở ngoài nước mà trong nước cũng đang có sự chuyển biến một
cách nhanh chóng nên xã hội rất cần những người có tính năng động tích cực và tư duy
trong công việc. Muốn được như thế thì đòi hỏi con người phải có tri thức, kỹ năng và
sự sáng tạo, ấy là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội. Vì thế cần có sự phát triển
dụng vào thực tiễn một cách có hiệu quả nhất, nhằm phục vụ tốt nhất cho công cuộc
đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay của nước ta.
Từ những yêu cầu trên, cùng với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng DH
vật lí ở trường phổ thông, em quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Áp dụng một số
phương pháp nhận thức khoa học nhằm bồi dưỡng và phát triển năng lực sáng tạo
cho học sinh khi giảng dạy Vật lí 12 nâng cao”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng một số PPNT khoa học nhằm bồi dưỡng và phát triển năng lực
sáng tạo cho học sinh khi giảng dạy vật lí 12 NC.
3. Giả thuyết khoa học
Vận dụng lý luận hiện đại, có thể áp dụng một số PPNT khoa học nhằm bồi dưỡng
và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh khi giảng dạy vật lí 12 NC.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
• Nghiên cứu lý luận về đổi mới PPDH vật lí ở trường THPT.
• Nghiên cứu lý luận về bồi dưỡng và phát triển năng lực sáng tạo cho HS trong dạy
học vật lí.
• Nghiên cứu một số PPNT khoa học của khoa học vật lí và áp dụng các PP khoa học
đó trong DH vật lí.
• Nghiên cứu chương trình vật lí 12 NC. Vận dụng một số phương pháp nhận thức
khoa học, soạn giảng thử nghiệm một số bài nhằm bồi dưỡng và phát triển năng lực
sáng tạo cho HS.
- Bài 3: Momen động lượng. Định luật bảo toàn momen động lượng
- Bài 4: Động năng của vật rắn quay quanh một trục cố định
- Bài 21: Dao động điện từ
- Bài 35: Tán sắc ánh sáng
- Bài 36: Nhiễu xạ ánh sáng. Giao thoa ánh sáng
• Thực nghiệm sư phạm.
2
Luận văn tốt nghiệp Đại Học GVHD: ThS- GVC Trần Quốc Tuấn SVTH: Tạ Thị Tân
5. Phương pháp nghiên cứu
8. Các chữ viết tắt trong đề tài
Học sinh: HS
Giáo viên: GV
Công nghệ thông tin: CNTT
Chương trình: CT
Dạy học: DH
Đánh giá: ĐG
Giáo dục: GD
Giải quyết vấn đề: GQVĐ
Học tập: HT
Kiểm tra: KT
Nâng cao: NC
Năng lực: NL
Phương pháp: PP
Nhận thức: NT
Phương tiện: PT
Sách giáo khoa: SGK
Suy luận: SL
Thiết bị: TB
Thực nghiệm: TN
Tương tự: TT
Trung học phổ thông: THPT
Vật lí: VL
4
Luận văn tốt nghiệp Đại Học GVHD: ThS- GVC Trần Quốc Tuấn SVTH: Tạ Thị Tân
Chương 1. ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THPT
1.1. Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục ở trường THPT
1.1.1. Mục tiêu đổi mới của giáo dục nước ta
a) Mục tiêu dạy học trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt
triển nhanh chóng, toàn diện và hài hòa của xã hội.
b) Mục tiêu của chương trình Vật lí
Vật lí học ở trường phổ thông chủ yếu là vật lí thực nghiệm, trong đó có sự kết hợp
nhuần nhuyễn giữa quan sát, thí nghiệm và suy luận lý thuyết để đạt được sự thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn. Chính vì vậy cần:
∗ Trang bị cho HS những kiến thức phổ thông cơ bản, hiện đại, có hệ thống, gồm:
- Các khái niệm về các sự vật, hiện tượng, và các quy tắc vật lí.
- Các định luật, định lý, các nguyên lý vật lí cơ bản.
- Nội dung chính của một số thuyết VL quan trọng nhất trong đời sống và sản xuất.
- Các ứng dụng quan trọng nhất của vật lí.
- Các PP chung của nhận thức khoa học và những PPNT khoa học cơ bản của vật lí,
trước hết là PP thực nghiệm, PP giải quyết vấn đề và PP tương tự.
∗ Phát triển tư duy khoa học ở HS, rèn luyện và phát triển các kỹ năng :
- Quan sát các hiện tượng và các quy tắc vật lí; điều tra, sưu tầm, thu thập các
thông tin cần thiết cho việc học tập vật lí.
- Sử dụng các dụng cụ đo phổ biến của vật lí, kỹ năng lắp ráp và tiến hành các thí
nghiệm vật lí đơn giản.
- Phân tích, tổng hợp, xử lý thông tin rút ra kết luận, đề ra các dự đoán về các mối
quan hệ hay về bản chất của các hiện tượng, quy tắc vật lí, đề xuất phương án thí
nghiệm để kiểm tra dự đoán …
- Vận dụng kiến thức: mô tả, giải thích các hiện tượng, quy tắc vật lí, giải các bài
tập vật lí… giải quyết các vấn đề đơn giản của đời sống, sản xuất.
- Sử dụng các thuật ngữ VL, biểu bảng, trình bày rõ ràng, chính xác những kết quả
thu được.
∗ Hình thành và rèn luyện các thái độ tình cảm sau:
- Bồi dưỡng cho HS thế giới quan duy vật biện chứng, giáo dục lòng yêu nước, thái
độ đối với lao động, đối với cộng đồng và những đặc tính khác của người lao động trên
cơ sở những kiến thức vật lí vững chắc.
- Hứng thú HT môn VL, yêu thích, trân trọng những đóng góp của VL học…
- Có thái độ khách quan, trung thực, tác phong cẩn thận, chính xác, tinh thần HT tốt.
(J.Piaget) [3, tr 43]. Theo kiểu DH này, trung tâm chú ý là nội dung các kiến thức cần
dạy. Song, nếu chỉ quan tâm tới bản thân nội dung kiến thức được trình bày thì dù tốt
đến đâu vẫn chưa phải là sự xác định một cách cụ thể HS cần đạt được những khả năng
gì trong hoặc sau khi học, và bằng cách nào đảm bảo cho HS đạt được các khả năng
đó. Chính vì vậy nó hạn chế chất lượng và hiệu quả DH. Như vậy việc khắc phục lối
7
Luận văn tốt nghiệp Đại Học GVHD: ThS- GVC Trần Quốc Tuấn SVTH: Tạ Thị Tân
truyền thụ một chiều là một hoạt động có tính cách mạng nhằm chống lại thói quen đã
có từ lâu, chống lại đặc quyền của GV . Những GV tâm huyết với nghề hết lòng yêu
thương trẻ em thì sẵn lòng hi sinh đặc quyền của mình, tự cải tạo mình, tự nguyện thu
hẹp quyền uy của mình, dành cho HS vị trí chủ động trong HT. Nhưng không ít GV
còn bảo thủ không từ bỏ được thói quen và đặc quyền trên, không thích ứng được với
đòi hỏi mới.
Chuyển lối dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, GV không còn đóng vai
trò đơn giản là người truyền đạt kiến thức mà trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng
dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để HS tự lực chiếm lĩnh nội dung HT,
chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình.
HS tham gia tích cực vào việc giải quyết các vấn đề, tình huống HT …Trên lớp,
HS hoạt động là chính, GV có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn GA, GV đã
phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể
thực hiện bài lên lớp với vai trò là người “gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, dẫn dắt,
trọng tài” trong các hoạt động tìm tòi, hào hứng, tranh luận sôi nổi của HS, GV phải có
trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức,
hướng dẫn các hoạt động của HS mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của GV.
Bên cạnh đó, việc đổi mới SGK, thiết bị thí nghiệm, áp dụng các PPNT khoa học,
tăng cường sử dụng các phương tiện DH hiện đại… cũng đóng vai trò quan trọng
không kém góp phần bồi dưỡng và phát triển năng lực sáng tạo cho HS.
b. Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh
Thực tế cho thấy bất cứ một việc HT nào đều phải thông qua hoạt động tự học của
người học thì mới có thể có kết quả sâu sắc và bền vững. Hơn nữa, một đặc trưng quan
giải quyết một khó khăn rất lớn là: mâu thuẫn giữa một bên là những yêu cầu cao về
việc bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng và một bên là sự hạn hẹp và thời gian dành cho
mỗi môn học. GV phải tính toán cân đối giữa nội dung DH trên lớp và nội dung dành
cho HS tự tìm hiểu ở nhà. Có thể không cần chuyển tải từ A đến Z của nội dung bài
học trên lớp, mà nên dành một phần nội dung nào đó cho HS tự tìm hiểu ở nhà rồi sau
đó sẽ KT sự tự học của các em.
Tuy nhiên, những vấn đề này trước đây chưa được chú ý đúng mức, HS đã quen học
tập thụ động, dựa vào sự giảng giải tỉ mỉ, kỹ lưỡng của GV, ít chịu tự lực tìm tòi
nghiên cứu. Do đó kỹ năng tự học đã yếu lại càng yếu thêm. Cần phải nhanh chóng
khắc phục tình trạng này ngay từ những lớp dưới chứ không chỉ áp dụng cho những
HS ở các lớp trên.
c. Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học
9
Luận văn tốt nghiệp Đại Học GVHD: ThS- GVC Trần Quốc Tuấn SVTH: Tạ Thị Tân
Muốn rèn luyện được nếp tư duy sáng tạo của người học thì điều quan trọng nhất
là phải tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS tích cực, tự lực tham gia vào quá
trình tái tạo cho mình kiến thức mà nhân loại đã có, tham gia giải quyết các vấn đề học
tập, qua đó mà phát triển năng lực sáng tạo. HS học bằng cách tự làm, làm một cách
chủ động say mê hứng thú, chứ không phải bị ép buộc. Vai trò của GV không còn là
giảng giải, minh họa nữa mà chủ yếu là tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS hoạt
động, thực hiện thành công các hoạt động học đa dạng mà kết quả là giành được kiến
thức và phát triển được năng lực. Muốn vậy GV cần:
- Tổ chức, hướng dẫn HS tham gia giải quyết các vấn đề, tình huống học tập…
- Tổ chức cho HS tham gia vào quá trình tái tạo kiến thức.
- Áp dụng rộng rãi một số PPNT khoa học của vật lí như PP thực nghiệm, PP giải
quyết vấn đề, PP tương tự,… vào trong quá trình DH.
d. Áp dụng các phương pháp tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại vào
quá trình giảng dạy
Theo quan điểm thông tin, học là một quá trình thu nhận thông tin có định hướng,
có sự tái tạo và phát triển thông tin và giúp người học thực hiện quá trình trên một cách
Các bình diện của hoạt động
nhận thức
Các ví dụ về việc các PTDH tạo điều kiện cho
hoạt động nhận thức của HS
Bình diện hành động
đối tượng – thực tiễn.
- Các thí nghiệm của HS với các thiết bị thí
nghiệm.
Bình diện trực quan trực tiếp - Các vật thật, các bức ảnh chụp.
- Các thí nghiệm của GVvới các thiết bị thí
nghiệm.
- Phim học tập (quay các cảnh thật).
Bình diện trực quan gián tiếp - Các thí nghiệm mô hình
- Các phim hoạt họa.
- Các phần mềm máy vi tính mô phỏng các hiện
tượng, quá trình vật lí.
- Các mô hình vật chất.
- Các hình vẽ, sơ đồ.
Bình diện nhận thức khái
niệm- ngôn ngữ.
- SGK, sách bài tập, sách tham khảo.
-Các phần mềm máy vi tính dùng cho việc ôn tập.
Luận văn tốt nghiệp Đại Học GVHD: ThS- GVC Trần Quốc Tuấn SVTH: Tạ Thị Tân
• Giảm đến tối thiểu việc giảng giải, minh họa của giáo viên, tăng cường việc tổ
chức cho học sinh tự lực, tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập
PPDH truyền thống trong một thời gian dài đã đạt được những thành tựu quan
trọng. Tuy nhiên PP đó nặng về truyền thụ một chiều, thầy giảng giải, minh họa, trò
lắng nghe, ghi nhớ và bắt chước làm theo. Có nhiều điều HS đọc hay làm theo SGK
cũng có thể hiểu được nhưng GV vẫn giảng. Cách giảng đó thể hiện một sự thiếu tin
tưởng ở HS và nguy hại hơn nữa là không cho HS có cơ hội để suy nghĩ, càng không
mạnh mẽ hơn cả.
PP tìm tòi nghiên cứu giải quyết vấn đề một cách sáng tạo thường theo quy trình
chung như sau:
- Phát hiện, xác định vấn đề, nêu câu hỏi.
- Nêu câu trả lời dự đoán (mô hình, giả thuyết) có tính chất lí thuyết, tổng quát.
- Từ dự đoán suy ra hệ quả lôgic có thể kiểm tra trong thực tế.
- Tổ chức thí nghiệm kiểm tra xem hệ quả đó có phù hợp với thực tế không. Nếu
phù hợp thì điều dự đoán là đúng. Nếu không thì dự đoán là sai, phải xây dựng dự
đoán mới.
- Phát biểu kết luận.
Muốn thực hiện được các khâu của PP này, HS phải thực hiện việc thu thập thông
tin, xử lí thông tin, khái quát kết quả tìm tòi nghiên cứu. Trong quá trình này có hai
lĩnh vực luôn luôn kết hợp với nhau: hiện tượng thực tế cụ thể quan sát được và những
kết luận trừu tượng phản ánh thực tế đó. Sự kết hợp đó thực hiện thông qua các suy
luận lôgic như: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, cụ thể hóa…
• Rèn luyện cho học sinh các phương pháp nhận thức khoa học Vật lí
Một trong những nét đặc trưng của tư duy khoa học là phải biết phương pháp hành
động rồi mới hành động, chứ không hành động mò mẫm, ngẫu nhiên.
Về phương pháp thực nghiệm: GV có thể làm thí nghiệm để thu thập thông tin hoặc
củng cố bảng số liệu kết quả TN. Còn sau đó việc xử lí thông tin rút ra kết quả nên
dành cho HS làm. Ở khâu thí nghiệm kiểm tra, cụ thể GV yêu cầu HS đề xuất phương
án TN kiểm tra bằng những thiết bị cụ thể, GV có thể làm thí nghiệm biểu diễn.
Về phương pháp giải quyết vấn đề: Dựa theo những cách mà các nhà bác học
thường dùng để giải quyết các vấn đề khoa học kỹ thuật, có thể có những kiểu hướng
dẫn HS GQVĐ sau: Hướng dẫn tìm tòi qui về kiến thức, phương pháp đã biết; hướng
dẫn tìm tòi sáng tạo từng phần; hướng dẫn tìm tòi sáng tạo khái quát.
Về PP tương tự : PPTT là PPNT khoa học, trong đó sử dụng sự tương tự và phép
suy luận TT để rút ra tri thức mới về đối tượng khảo sát.
13
Luận văn tốt nghiệp Đại Học GVHD: ThS- GVC Trần Quốc Tuấn SVTH: Tạ Thị Tân
- Công nghệ thông tin với vai trò phương tiện dạy học, thiết bị dạy học.
14
Luận văn tốt nghiệp Đại Học GVHD: ThS- GVC Trần Quốc Tuấn SVTH: Tạ Thị Tân
Thế giới bước vào kỉ nguyên mới nhờ tiến bộ nhanh chóng của việc ứng dụng
CNTT vào tất cả các lĩnh vực. Trong giáo dục và đào tạo, CNTT đã góp phần hiện đại
hóa PTDH, TBDH góp phần đổi mới phương pháp dạy học.
Sử dụng CNTT như công cụ DH cần được đặt trong toàn bộ hệ thống các PPDH
nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống đó. Mỗi PPDH đều có những chỗ
mạnh và chỗ yếu. Ta cần phát huy chỗ mạnh hạn chế chỗ yếu của mỗi phương pháp.
Bên cạnh đó cần phát huy vai trò của người thầy trong quá trình sử dụng CNTT
như PTDH, TBDH, nghĩa là không thủ tiêu vai trò của người thầy mà trái lại còn phát
huy hiệu quả hoạt động của thầy giáo trong quá trình dạy học có sử dụng CNTT.
Sử dụng CNTT như một PTDH, TBDH, không phải chỉ để thực hiện dạy học với
trang thiết bị của CNTT mà còn góp phần thúc đẩy việc đổi mới PPDH ngay cả trong
điều kiện không có máy.
1.3. Đổi mới việc thiết kế bài học (soạn giáo án)
1.3.1. Các yêu cầu đối với việc soạn giáo án.
Việc chuyển trọng tâm từ thiết kế các hoạt động của GV sang thiết kế các hoạt
động của HS là yêu cầu nổi bật đối với công việc soạn giáo án của người GV.
Khi soạn giáo án, GV phải suy nghĩ trả lời các câu hỏi sau:
- Trong bài học HS sẽ lĩnh hội được những kiến thức, kĩ năng nào? Mức độ đến đâu?
- Sự chiếm lĩnh những kiến thức, kỹ năng của HS sẽ diễn ra theo con đường nào? HS
cần huy động những kiến thức, kỹ năng nào đã có? Những hoạt động đó của HS diễn
ra dưới hình thức làm việc cá nhân hay làm việc theo nhóm?
- GV phải chỉ đạo như thế nào để đảm bảo cho HS chiếm lĩnh được những kiến thức,
kỹ năng đó một cách chính xác, sâu sắc và đạt được hiệu quả giáo dục?
- Hành vi ở đầu ra mà HS cần thể hiện được sau khi học là gì?
1.3.2. Những nội dung của việc soạn giáo án.
• Xác định rõ ràng, cụ thể mục tiêu bài học.
• Xác định những nội dung kiến thức của bài học: Nó thuộc loại kiến thức nào (khái
học và các phương pháp, PTDH thích hợp, xác định hình thức củng cố, vận dụng tri
thức đã học ở bài học vào việc tiếp nhận kiến thức mới hoặc vận dụng vào trong thực
tế cuộc sống. Hoạt động học của HS rất đa dạng, dựa theo cấu trúc khái quát của tiến
trình giải quyết các vấn đề có tính khoa học ta có thể chia thành các hoạt động sau:
16
Luận văn tốt nghiệp Đại Học GVHD: ThS- GVC Trần Quốc Tuấn SVTH: Tạ Thị Tân
• Hoạt động 1: Kiểm tra kiến thức cũ
• Hoạt động 2: Tiếp nhận nhiệm vụ học tập
Hoạt động của HS Hoạt động của GV
Nội dung ghi
bảng
- Quan sát, theo dõi GV đặt
vấn đề.
- Tiếp nhận nhiệm vụ HT.
- Tạo tình huống HT.
- Trao nhiệm vụ HT.
- Nội dung chính.
- Kiến thức trọng
tâm của bài.
• Hoạt động 3: Thu thập thông tin
Hoạt động của HS Hoạt động của GV
Nội dung ghi
bảng
- Nghe GV giảng. Nghe bạn
phát biểu.
- Đọc và tìm hiểu một số vấn
đề trong SGK.
- Tìm hiểu bảng số liệu.
- Quan sát hiện tượng tự
nhiên hoặc trong thí nghiệm.
kết luận.
- Báo cáo kết quả.
- Gợi ý hệ thống câu hỏi, cách
trình bày vấn đề.
- Gợi ý nhận xét, kết luận
bằng lời hoặc bằng hình vẽ.
- Hướng dẫn mẫu báo cáo.
- Nội dung
chính.
- Kiến thức
trọng tâm của
bài.
• Hoạt động 6: Củng cố bài giảng
Hoạt động của HS Hoạt động của GV
- Trả lời câu hỏi trắc nghiệm.
- Vận dụng vào thực tiễn.
- Ghi chép những kết luận cơ bản.
- Giải bài tập.
- Nêu câu hỏi, tổ chức cho HS làm việc
cá nhân hoặc theo nhóm.
- Hướng dẫn trả lời.
- Ra bài tập vận dụng.
- Đánh giá, nhận xét giờ dạy.
• Hoạt động 7: Hướng dẫn học tập ở nhà
18
Hoạt động của HS Hoạt động của GV
Nội dung ghi
bảng
-Thảo luận nhóm hoặc làm
việc cá nhân.
- Ghi những chuẩn bị cho bài sau.
- Nêu câu hỏi, bài tập về nhà.
- Dặn dò, yêu cầu HS chuẩn bị bài sau.
1.3.4. Cấu trúc của giáo án soạn theo các hoạt động học tập
Tên bài: …………………………………………………….
Tiết: …………………theo phân phối chương trình.
A. Mục tiêu (chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ)
1. Kiến thức
2. Kỹ năng
3. Thái độ
B. Chuẩn bị (thiết bị dạy học, phiếu học tập, các phương tiện dạy học…)
1. GV
2. HS
3. Gợi ý ứng dụng công nghệ thông tin và các phương tiện dạy học hiện đại.
C. Tổ chức các hoạt động học tập
Hoạt động 1 (… phút): Kiểm tra bài cũ (nếu cần)
Hoạt động 2 (… phút): Đơn vị, kiến thức kĩ năng 1
Hoạt động 3 (… phút): Đơn vị, kiến thức kĩ năng 2
Hoạt động i (… phút): Đơn vị, kiến thức kĩ năng i
Hoạt động n-1 (… phút): Vận dụng, củng cố.
Hoạt động n (… phút): Hướng dẫn về nhà.
D. Rút kinh nghiệm
Ghi những nhận xét của GV sau khi dạy xong.
1.4. Đổi mới kiểm tra đánh giá
KT, ĐG được hiểu là sự theo dõi, tác động của người KT đối với người học nhằm
thu được những thông tin cần thiết để ĐG. “ĐG có nghĩa là xem xét mức độ phù hợp
giữa một tập hợp thông tin có giá trị, thích hợp và đáng tin cậy với mục tiêu đã được
đề ra để xác định thực trạng điểm mạnh, điểm yếu của người học và kết quả là đề ra
những quyết định kịp thời nhằm uốn nắn, điều chỉnh có hiệu quả đối với các hoạt động
dạy theo mục tiêu ấy, dành kết quả tối ưu.” (J.M.De ketele)
- Các lĩnh vực kiến thức, kỹ năng.
- Các kiến thức, kỹ năng của từng lĩnh vực theo mức độ từ thấp đến cao (nhận
biết, thông hiểu, vận dụng,…).
Bước 3: Xây dựng ma trận của đề kiểm tra.
Bước 4: Viết các câu hỏi theo ma trận.
Bước 5: Xây dựng đáp án và biểu điểm.
1.4.2. Yêu cầu về mức độ nhận thức khi ra đề
20
Luận văn tốt nghiệp Đại Học GVHD: ThS- GVC Trần Quốc Tuấn SVTH: Tạ Thị Tân
• Việc ra đề dựa trên cơ sở phát triển năng lực tư duy cho HS theo 6 mức độ nhận
thức của Bloom.Tùy theo tính chất yêu cầu của mỗi kì thi để định ra tỉ lệ kiến thức phù
hợp với từng mức độ nhận thức nhưng phải đầy đủ các mức độ khác nhau.
• Đề kiểm tra phải có độ khó phù hợp với thời gian làm bài. Đề kiểm tra phải đo
lường được mức độ nhận thức của HS.
• Nội dung đề kiểm tra phải rộng bao quát chương trình học.
1.4.3. Các mức độ nhận thức trong đề kiểm tra
Bloom đã xây dựng các cấp độ của mục tiêu giáo dục, thường được gọi là cách
phân loại Boom, trong đó lĩnh vực nhận thức được chia thành các mức độ hành vi từ
đơn giản nhất đến phức tạp nhất với sáu mức độ :
• Nhận biết là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây ; nghĩa là một người
có thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các
sự kiện đơn giản đến các lý thuyết phức tạp.
HS phát biểu đúng một định nghĩa, định lý, định luật nhưng chưa giải thích và vận
dụng được chúng.
Để KT mức độ biết của HS, GV có thể nêu câu hỏi bắt đầu bằng các động từ như:
mô tả, phát biểu, liệt kê, nhớ lại, nhận biết, xác định, kể tên, định nghĩa, nhận dạng,
gọi tên, nhắc lại, cho biết, trình bày,…; hoặc các từ để hỏi: như thế nào, ai, ở đâu, khi
nào, bằng cách nào, là gì…
• Thông hiểu là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, hiện
tượng, sự vật; giải thích được, chứng minh được; là mức độ cao hơn nhận biết nhưng
phê bình, phê phán, bảo vệ, phán đoán,…
1.4.4. Phối hợp các hình thức thi, kiểm tra trong việc đánh giá kết quả học tập
của học sinh
Các hình thức kiểm tra HS trong quá trình học tập gồm:
- Kiểm tra miệng: kiểm tra kiến thức, thái độ của HS ngay trên lớp, dạng vấn đáp.
- Kiểm tra thí nghiệm thực hành: kiểm tra kĩ năng thực hành của HS trong quá trình
làm các bài thực hành thí nghiệm, dạng vấn đáp, trình bày báo cáo kết quả.
- Kiểm tra viết: kiểm tra kiến thức, kĩ năng của HS, dạng kiểm tra 15 phút, 45 phút,
kiểm tra học kì. Đây là hình thức quan trọng nhất trong việc ĐG kết quả HT của HS.
- Kiểm tra đề tài: dạng bài tập lớn có thể là một vấn đề yêu cầu HS hoặc nhóm HS
phải thực hiện nhằm kiểm tra năng lực nhận thức của HS, đặc biệt là các HS giỏi.
22