1
1. Tên đề tài
“PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG PHẢN BIỆN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
CƠ SỞ TRONG DẠY HỌC TIẾNG ANH”
2. Đặt vấn đề
Trong một thời gian dài, thầy cô chúng ta được trang bị phương pháp để
truyền thụ kiến thức cho học sinh chủ yếu tập trung vào kỹ năng tư duy phân
tích, có nghĩa là dạy cho người học cách hiểu các khái niệm, thảo luận theo
phương pháp định sẵn, loại bỏ những hướng đi không đúng, tìm ra câu trả lời
đúng nhất. Phương pháp giảng dạy này đã làm mất đi một hình thái khác của tư
duy đó là tư duy sáng tạo. Tư duy sáng tạo tập trung vào khám phá các ý tưởng,
phát triển thành nhiều giải pháp, tìm ra nhiều phương án trả lời đúng thay vì chỉ
có một. Hậu quả của phương pháp giảng dạy cũ dẫn đến sự thụ động của học
sinh trong việc tiếp cận tri thức. Sự thụ động này là nguyên nhân tạo cho học
sinh sự trì trệ, ngại đọc tài liệu, ngại tranh luận, thiếu khả năng thuyết trình, lười
tư duy và thiếu tính sáng tạo trong tư duy.
Chính vì vậy trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước thực hiện đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ
XI, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,
đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế
quốc tế của đất nước. Ngày 06/4/2012, Bộ GD-ĐT quy định về tiêu chuẩn
“Hướng dẫn HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo và biết phản biện” để đánh
giá trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có
nhiều cấp học tại điểm c mục 2 điều 7 chương II theo Thông tư số: 13/2012/TTBGDĐT. Thủ tướng chính phủ ra Quyết định số 1400/QĐ-TTg ngày 30 tháng 9
năm 2008 phê duyệt Đề án “ Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc
dân giai đoạn 2008 – 2020” với mục tiêu chung đổi mới toàn diện việc dạy và
học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, nhằm đến năm 2020 đa số
thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực
ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi
trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh
của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực góp phần phát triển sự nghiệp
giáo dục đáp ứng được công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất đất nước,
hội nhập kinh tế quốc tế.
Đây chính là vấn đề tôi muốn chia sẽ và cũng chính vì lẽ đó mà tôi chọn đề
tài “Phát triển khả năng phản biện cho học sinh THCS trong dạy học tiếng
Anh”.
3. Cơ sở lý luận
3.1. “Phản biện” là dùng lý lẽ và dẫn chứng để lập luận chống lại một ý
kiến, quan điểm, cách nhìn nhận, đánh giá, hành động và việc làm nào đó nhằm
thuyết phục người nghe nhìn nhận, đánh giá vấn đề theo cách khác có sức thuyết
phục hơn, đúng hơn. Phản biện được xây dựng trên tinh thần đối thoại, và do đó,
có tính tích cực và xây dựng. Mục tiêu chính của phản biện là thúc đẩy mọi
người cân nhắc lựa chọn cái tối ưu. Mục tiêu thứ hai của phản biện là buộc đối
tượng bị phản biện phải tăng cường sự thuyết phục cho các quan điểm của họ.
Họ phải chứng minh là họ đúng hơn. Về phương diện chính trị và xã hội, với hai
mục tiêu ấy (tìm cái tối ưu và thuyết phục), phản biện rõ ràng là một điều cần
thiết không những để tránh những chính sách sai lầm mà còn để thúc đẩy quá
trình dân chủ hóa, quá trình hiện đại hóa của đất nước.
3.2. Theo định nghĩa của giáo sư Michael Scriven (Đại học Claremont
Graduate, Mỹ): “Tư duy phản biện là khả năng, hành động để thấu hiểu và đánh
giá những dữ liệu thu thập được thông qua quan sát, giao tiếp, truyền thông, và
3
tranh luận”. Có thể hiểu đơn giản rằng, tư duy phản biện bao gồm các kỹ năng
tìm kiếm, phân tích thông tin một cách khoa học để có thể đưa ra các phán đoán
và trên cơ sở đó đưa ra các quyết định đúng đắn mang tính xây dựng. Theo sơ đồ
tư duy phản biện dưới đây.
Sơ đồ tư duy phản biện
hội phát triển.
Chính vì lẽ đó để cải thiện chất lượng dạy và học tập bộ môn tiếng Anh
hiện nay, giáo viên cần tích cực, chủ động trong việc phát huy khả năng phản
biện cho học sinh.
4. Cơ sở thực tiễn
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và sự hội nhập quốc tế đang là xu thế của thời
đại và trong bối cảnh đổi mới, mở cửa hướng ra thế giới, là bạn với các nước trên
thế giới, chúng ta đã nhận thấy tiếng Anh là cầu nối quan trọng trên con đường
hội nhập của Việt Nam. Nhưng để có được những con người toàn diện, năng
động, sáng tạo trong công việc thì việc phát huy khả năng phản biện cho học
sinh trong dạy học tiếng Anh lại cần hơn bao giờ hết. Tuy nhiên rào cản lớn nhất
cho việc phát huy khả năng phản biện của học sinh trong dạy học nói chung và
dạy học tiếng Anh nói riêng có lẽ là tư duy phản biện ở cả thầy và trò. Dường
như những quan điểm dạy học truyền thống với những bức tường thành tích
khổng lồ vẫn chưa sẵn sàng đón tiếp tư duy phản biện. Một số giáo viên hiện
nay, khi đứng trên bục giảng đều không muốn học sinh phản biện lại những gì
mình nêu ra. Với nhiều lí do khác nhau như danh dự, uy tính, hạn chế về chuyên
môn (ở một bộ phận giáo viên). Thậm chí, có người gay gắt hơn thì coi phản
biện của học sinh là hành vi vô lễ (cãi thầy). Giáo viên không có thói quen nhận
lỗi trước học trò (khi có lỗi) mà chỉ quen “luôn đúng”, duy nhất đúng trước
chúng. Vì lẽ đó mà học sinh cũng ít biểu hiện (ít dám) phản biện, chưa kể phản
biện gay gắt. Nói đúng ra thì học sinh Việt Nam đặc biệt là học sinh miền núi
chưa có thói quen nghi ngờ kiến thức.
5
Trường Trung học cơ sở Nguyễn Huệ đóng tại thôn 1 xã Trà Giang, xã
thuộc một trong những xã đặc biệt khó khăn của huyện Bắc Trà My với nhiều
thành phần dân tộc khác nhau đa số sinh sống bằng nghề nông nghiệp, nương
rẫy; đời sống nhân dân tuy có phát triển nhưng chưa được đồng bộ, vẫn còn một
năng phản biện của học sinh trong dạy học tiếng Anh.
5.2. Thời gian tạo ra giải pháp
6
Tôi thấy tâm đắc với phương pháp dạy học này nên sau tháng 8/2014, tôi
đã tiến hành nghiên cứu về hiệu quả của nó trong dạy học tiếng Anh và tôi đã lập
kế hoạch như sau:
- Tháng 8/ 2014:
Chọn đề tài và khảo sát học sinh
- Tháng 9/2014: Dự giờ và trao đổi với đồng nghiệp trong và ngoài nhà
trường về việc áp dụng áp dụng phương pháp phát huy tư duy phản biện của học
sinh trong dạy học tiếng Anh, phối hợp với đồng nghiệp trong việc thực nghiệm
đề tài. Nghiên cứu tài liệu liên quan đến đề tài.
- Tháng 10/2014: Đăng ký tên đề tài với Phòng giáo dục
- Tháng 11/2014 đến tháng 2/2015: thu thập thông tin và lập dàn ý cho đề
tài
- Tháng 3/2015 : Viết và chuẩn bị hoàn tất đề tài
6. Nội dung nghiên cứu
6.1 Tính mới trong việc vận dụng đề tài
Căn cứ vào cơ sở lí luận, thực tiễn về chất lượng học tiếng Anh của học
sinh; căn cứ vào mục tiêu và chiến lược phát triển giáo dục 2011 –2020, Đề án
“Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 –
2020”, tôi nhận thấy mặc dù kỹ năng nói tiếng Anh đã đưa vào chương trình dạy
học ở bật THCS nhưng việc kỹ năng nói của học sinh đang phát triển theo những
gì có sẵn trong giáo trình thiếu tính tư duy và phản biện. Căn cứ vào những cơ sở
nêu trên, tôi đề xuất một số giải pháp cùng một số biện pháp cụ thể nhằm khắc
phục những hạn chế mà tôi đã nghiên cứu.
hỏi trước một vấn đề đặt ra; hướng dẫn học sinh hỏi đúng trọng tâm, biết cách
đặt câu hỏi đúng chỗ, đúng lúc; khêu gợi trong học sinh sự mong muốn tìm hiểu
sự thật; yêu cầu học sinh đưa ra nhận xét cá nhân, xét đoán hoặc đánh giá vấn đề
ngay tại lớp; yêu cầu học sinh giải thích lý do, lập luận, chứng minh cho quan
điểm của mình; khuyến khích học sinh xem xét cả mặt tích cực lẫn tiêu cực, mặt
phải, mặt trái của một vấn đề; giúp học sinh tìm ví dụ để hỗ trợ cho đánh giá của
họ về một vấn đề; đưa thông tin phản hồi cho học sinh.
6.2.3. Làm mẫu tư duy phản biện cho học sinh
Học sinh THCS hiện nay chưa được hình thành như thế nào là tư duy một
cách phản biện bởi vì chúng không được sinh ra với khả năng tư duy phản biện
và các lớp học ở cấp tiểu học cũng không yêu cầu chúng về tư duy này. Do vậy
giáo viên muốn bồi dưỡng tư duy phản biện cho học sinh đầu tiên cần phải làm
mẫu trong các hoạt động. Học sinh phải học cách tư duy một cách phản biện
trước khi chúng có thể áp dụng kỹ năng này vào trong quá trình phản biện. Làm
mẫu có thể diễn ra trong hoạt động thảo luận bằng cách đặt câu hỏi nhằm giúp
học sinh học và làm quen với quá trình tư duy phản biện. Hơn thế nữa hoạt động
tư duy phản biện được dựa trên cấu trúc bao gồm 4 yếu tố: "ill-structured
problems, criteria for assessing thinking, student assessment of thinking, and
improvement of thinking". "Ill-structured problems” là những câu hỏi, sự nghiên
cứu dựa trên đối tượng và hoàn cảnh cụ thể, chuỗi sự kiện tương lai không có
đáp án đúng hoặc sai. Chúng bao gồm những vấn đề đang tranh luận cần đến sự
sự quyết đoán có sự phán quyết mang tính quyết định.
Ví dụ: Tiếng Anh 9, Unit 2: Writing
Trong phần Post writing giáo viên yêu cầu học sinh đánh giá việc mặc
đồng phục và việc mặc thường phục đến trường (How do you think about
wearing uniform and casual cloths to school?), yêu cầu học sinh nghĩ về ưu
điểm và nhược điểm của nó (Think about their benefits and drawbacks). Câu trả
lời đúng hay sai của học sinh không quan trọng miễn sao học sinh có lý do cho
sự chọn lựa của mình một cách logic và thuyết phục.
Trong quá trình vận dụng tư duy phản biện, bất cứ ở tại thời điểm nào,
người học cũng phải sẵn sàng động não, suy luận và đánh giá; những hoạt động
này sẽ tạo thành một phong cách tư duy, luôn luôn sẵn sàng lắng nghe, nhưng
trước khi chấp nhận bất cứ ý kiến nào, người học phải chủ động phân tích và
đánh giá. Hoạt động của não bộ theo phong cách này sẽ giúp người học hình
thành vững vàng tư duy độc lập và tư duy phản biện. Với tư duy độc lập và tư
10
duy phản biện như nền tảng, và với kiến thức tích lũy thành hệ thống, học sinh sẽ
có điều kiện phát triển tư duy sáng tạo của mình.
Ta thấy ngay, kết quả của học tập và vận tốc phát triển trí tuệ phụ thuộc
mạnh mẽ vào phương pháp học tập của học sinh. Học sinh nắm vững phương
pháp tư duy phản biện, thì chất lượng học tập càng cao và trí tuệ càng phát triển
vững chắc.
Tư duy phản biện không thể có ngay lập tức mà cần có quá trình. Trước hết,
công việc này phải làm thường xuyên, liên tục qua tất cả các môn học chứ không
chỉ có môn tiếng Anh. Dần dần mới trở thành thói quen tư duy phản biện.
Ví dụ: Tiếng Anh 7, Unit 7: The world of work, A4: Reading
Giáo viên tổ chức lớp theo hoạt động cặp đôi để khuyến khích học sinh
tham gia học tích cực và có cơ hội tư duy phản biện. Trong phần Post reading
giáo viên tổ chức thảo luận với chủ đề “ Students’ lives”. Học sinh hoạt động
theo cặp thảo luận theo qui trình tư duy phản biện ở trên. Gói câu hỏi dự bị nếu
học sinh gặp khó khăn giáo viên có thể tư vấn cho học sinh như sau:
• Sample questions:
- What do you think about students’lives?
- Why do you think it is difficult/easy?
- What does it mean?
luận điểm theo các trình tự logic khác nhau; tìm kiếm minh chứng cho luận
điểm. Lập luận phản biện phải rõ ràng, logic, đầy đủ bằng chứng, tỉ mỉ và công
tâm.
Ngoài ra, học sinh cũng cần rèn luyện khả năng mở rộng vấn đề. Không chỉ
bó hẹp trong nguồn tài liệu mà giáo viên cung cấp, học sinh cần học cách tự tìm
những tư liệu mới để phục vụ cho chủ đề. Từ đó, phát huy khả năng tự phân tích
và đưa ra cách nhìn nhận riêng đối với mỗi chủ đề được đặt ra.
Như vậy, có thể nói lập luận phản biện có vai trò quyết định trong phản
biện của học sinh. Và kỹ năng này không phải ngày một ngày hai mà có được mà
phải luyện tập trong một thời gian dài, đòi hỏi sự cố gắng và nỗ lực rất cao của
giáo viên. Nếu có phương pháp hợp lý, tôi tin rằng học sinh sẽ tiến bộ nhanh
chóng và sử dụng phản biện một cách sắc bén và hiệu quả.
6.2.5. Tạo môi trường cho học sinh phát triển khả năng phản biện
6.2.5.1. Môi trường lớp học:
Học sinh chia sẽ trách nhiệm trong giờ học bằng kỹ thuật học tập phối hợp
trong cặp, nhóm, cả lớp, học tập dựa trên dự án.
Lớp học có không khí chất vấn và cởi mở: Học sinh đưa ra dự đoán, thu
thập thông tin, tổ chức phản biện và đặt câu hỏi. Giáo viên kịp thời khuyến khích
và đư ra lời khuyên hơn là chỉ trích và đánh giá.
Học sinh không những được hỗ trợ mà còn được thách thức để tư duy một
cách độc lập trong phản biện. Giáo viên chú ý đến việc học sinh tư duy như thế
nào. Giáo viên động viên học sinh thảo luận và giao tiếp.
Sắp xếp không gian lớp học thuận lợi cho học sinh làm việc cùng với nhau
theo hình vòng móng ngựa hoặc theo nhóm.
Sự động viên, khuyến khích của giáo viên rất quan trọng để giúp những
học sinh nhút nhát, không giám hay e ngại phản biện. Tùy theo tình huống giáo
viên có thể đưa ra những lời động viên khác nhau.
Ví dụ:
Động viên học sinh phản biện: “What can you add?” or “What is your
opinion?”
mình. Ngoài bồi dưỡng kiến thức, các chuyên đề ngoại khóa còn rèn luyện cho
học sinh kĩ năng trình bày, lập luận một vấn đề theo quan điểm của riêng mình.
Đây cũng là cơ hội để giáo viên đánh giá khả năng phản biện của học sinh
và chất lượng học tập của bộ môn.
6.2.5.3. Các tiết học chủ đề tự chọn:
Đây là cơ hội để giáo viên bồi dưỡng khả năng phản biện và kiến thức
chuyên sâu cần cho tất cả các đối tượng học sinh theo mức độ. Làm sao cho hiệu
quả mà không gây áp lực, căng thẳng cho học sinh.
Độ sâu của kiến thức sẽ là thước đo khả năng phản biện của học sinh. Có
nhiều cách bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu cho học sinh như: hướng dẫn trực
tiếp qua các chủ đề tự chọn (1 tiết/ tuần); các buổi bồi dưỡng, ôn luyện; làm các
dự án dạy học dưới dạng các bài tập nghiên cứu. Biện pháp này có vẻ rất khó vận
13
dụng bởi đa số học sinh không tha thiết với môn tiếng Anh đặt biệt là học sinh
miền núi. Nhưng không thể thấy khó mà bỏ. Chúng ta sẽ linh hoạt với từng đối
tượng. Bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu là cách nâng cao dần chất lượng bộ môn
cho học sinh.
6.2.6. Kết hợp những hình thức, phương pháp, biện pháp, kĩ thuật dạy
học khác như: đối thoại; dự án; tổ chức trò chơi; sơ đồ tư duy, kỹ thuật bể
cá …
Việc phối kết hợp giữa các hình thức, phương pháp, biện pháp, kĩ thuật dạy
học khác nhau trong một giờ dạy là cần thiết. Điều đó mang lại sự cộng hưởng
tác dụng trong dạy học, nhất là khi chúng ta phát huy được thế mạnh, ưu điểm
của từng hình thức, phương pháp, biện pháp, kĩ thuật dạy học.
Sự phối hợp này không phải kiểu hỗn độn như chè thập cẩm mà phải căn cứ
vào hoàn cảnh cụ thể của tiết học như: nội dung chủ đề, mục tiêu, đối tượng học
sinh, thời gian cho phép, các phương tiện hỗ trợ …. Căn cứ vào đó, người giáo
viên phải xác định được sử dụng hình thức, phương pháp, biện pháp, kĩ thuật dạy
thú học tập rất cao cho học sinh. Trường hợp học sinh không phát hiện ra, không
có những phản biện thuyết phục thì giáo viên phải gợi ý nhiều hơn, cụ thể hơn,
đi gần hơn đến vấn đề.
Biện pháp này sẽ có tác dụng rèn luyện tư duy phản biện, tạo thói quen
phản biện cho học sinh.
6.2.8. Đổi mới cách kiểm tra, đánh giá
Tăng cường kiểm tra bằng hỏi-đáp. Học sinh được kiểm tra qua các hoạt
động trên lớp như trả lời các câu hỏi ngắn, miêu tả tranh, kể lại truyện, thuyết
trình, hùng biện, thảo luận, tranh luận, phát biểu, phỏng vấn, đóng vai, và các
hoạt động ngôn ngữ phù hợp khác. Cần chú trọng tới định hướng giao tiếp và
khả năng thực hiện các yêu cầu đàm thoại. Khuyến khích kiểm tra bằng hỏi-đáp
tích hợp với các hoạt động luyện tập trong giờ học của học sinh.
Giáo viên có thể chọn các dạng bài Question and Answer; Picture
description; Story-telling/Narrative; Guided Speech; Dialogue; Situation;
Interview/Role-play; Presentation; Debate; Dicussion; Simulation
Trong mỗi học kỳ giáo viên giao cho học sinh vận dụng kiến thức trong
chương trình học để phát hiện vấn đề và đưa ra giải pháp để giải quyết vấn đề
nảy sinh trong thực tiễn về một trong các chủ đề sau: gia đình; sở thích; chăm
sóc sức khỏe; bảo vệ môi trường; an toàn thực phẩm; an toàn giao thông; sử
dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; kỹ năng sống;... Sản phẩm thực hành có
thể là 01 bài viết hoặc 01 video clip do học sinh thực hiện bằng tiếng Anh; cũng
có thể tổ chức trình bày sản phẩm thực hành theo hình thức "Hùng biện tiếng
Anh" hoặc sử dụng các hình thức phối hợp giữa kỹ năng viết và nói như “Hồ sơ
học tập”; “Nhật kí học tập”; “Dự án”; và “Bài nghiên cứu” đã được tập huấn để
đánh giá khả năng phản biện của học sinh.
7. Kết quả nghiên cứu
Xuất phát từ quan điểm đổi mới mục tiêu và nội dung dạy học, đổi mới
đánh giá với triết lý lấy người học làm trung tâm nhằm phát huy cao độ tính tự
giác, tích cực, độc lập, sáng tạo, tư duy phản biện và khả năng phản biện của
người học, đòi hỏi người giáo viên phải tìm tòi những phương pháp dạy học phù
trên 3 lần
Lập luận phản
biện
Tính sáng tạo
được chấp nhận
20
5 HS
2
1
Nhìn vào bảng trên chúng ta thấy số lượt học sinh tham gia phát biểu là 20
lượt/sĩ số 35. Vậy là tích cực. Nhưng tôi quan tâm đến 2 lập luận phản biện của
học sinh. Topic: cloths to school : Gv nêu câu hỏi: How do you think about
wearing uniform or casual cloths to school? Giáo viên yêu cầu học sinh nghĩ về
ưu điểm và nhược điểm của nó. Luồng ý kiến thứ nhất như sau: I think wearing
uniform encourage me proud of my school. Chưa có sự sáng tạo. Bởi vì, lâp luận
này đã có trong sách giáo khoa. Luồng ý kiến thứ hai phản biện lại luồng ý kiến
thứ nhất cho rằng có sự sáng tạo độc đáo. Lập luận phản biện như sau: I’m
afraid I can't agree with you. I think that I like wearing casual cloths to school
because they make me feel self-confident and make me feel comfortable. For
example, I can join in some games at recess when I’m in casual cloths. Một lập
luận như thế không thể không công nhận. Khá thuyết phục!
Kết quả khảo sát học sinh lớp 7
Tiếng Anh 7, Unit 7: The world of work, Lesson: A4: Reading Những biện
16
Lớp 7/2: 19 hs
10
1
0
0
Ba phản biện trong tiết học này gồm có hai phản biện của học sinh với học
sinh, một phản biện của học sinh với giáo viên. Do khuôn khổ của sáng kiến bị
hạn chế, chúng tôi chỉ xin đi sâu phân tích một phản biện tiêu biểu và hay của
học sinh trong đợt khảo sát này. Giáo viên đã vận dụng thành công một trong số
những biện pháp tại mục 6.2.6 (đối thoại). Giáo viên tổ chức lớp theo hoạt động
cặp đôi để khuyến khích học sinh tham gia học tích cực và có cơ hội tư duy phản
biện. Trong phần Post reading giáo viên tổ chức thảo luận với chủ đề “Students’
lives”. Học sinh hoạt động theo cặp thảo luận theo qui trình tư duy phản biện tại
mục 6.2.4. Giáo viên gợi mở để học sinh đối thoại, tranh luận, phản biện. GV
khéo léo động viên để các em đưa ra lập luận của mình.
• Quá trình phản biện:
Linh: What do you think about students’lives?
Ngọc: I think students have an easy life.
Linh: Why do you think it is easy?
Ngọc: It is easy because students work only a few hours a day.
Linh: I totally don’t agree with you. I think students have a difficult life.
Số lượt
phát biểu
HS Phát biểu
trên 3 lần
Lập luận phản
biện
Tính sáng tạo
được chấp nhận
32
6 HS
5
4
Ở đợt khảo sát này, số lượt học sinh tham gia phát biểu nhiều hơn và số
lập luận phản biện của học sinh cũng tăng. Tính sáng tạo được công nhận vẫn
được duy trì. Như vậy có thể nói, khi học sinh quen dần với cách học phản biện
thì sẽ tích cực, chủ động hơn trong học tập.
Sáu phản biện trong tiết học này gồm có 5 phản biện của học sinh với học
sinh, một phản biện của học sinh với giáo viên. Giáo viên đã vận dụng thành
công biện pháp thứ 6.2.7 (phép thử). Giáo viên đã cố ý nói chệch vấn đề khi định
hướng học sinh nói về “How to protect the environment”. Sau khi giới thiệu ví
dụ trong sách giáo khoa trong phần pre-speaking, giáo viên đối thoại mẫu với
học sinh (cố ý giảng chệch vấn đề):
bị động, thiếu tính sáng tạo, tư duy, phân tích và phản biện. Đồng thời phát triển
đất nước và nâng cao chất lượng tiếng Anh của người Việt ngang tầm với các
nước trong khu vực.
9. Đề nghị
9.1. Đối với học sinh
- Khuyến khích các em tư duy một cách phản biện để phát triển khả năng
phản biện.
- Động viên các em nghĩ đến một số chủ điểm liên quan đến bài học,
chuản bị cho quá trình phản biện và luyện nói ở nhà hoặc ở lớp để dần dần tự tin
nói rành mạch và bảo vệ quan điểm của mình.
9.2. Đối với giáo viên và tổ bộ môn
- Tạo cho các em có một tình yêu, đam mê với môn tiếng Anh cũng như
nhận thức được tầm quan trọng của tiếng Anh trong cuộc sống.
- Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo công văn số
1388/SGDĐT-GDTrH ngày 31/10/2014 của SGD&ĐT Quảng Nam về việc
Hướng dẫn thực hiện việc kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực
môn tiếng Anh cấp trung học từ năm học 2014-2015.
- Không ngừng đầu tư, mở rộng kiến thức trở thành nhân tố kích thích trí
tò mò của học viên, mài sắc thêm năng lực nghiên cứu độc lập, tăng cường khả
năng tổ chức, sử dụng kiến thức và khả năng sáng tạo. Giáo viên cần áp dụng
các phương pháp giảng dạy mới, cần phải có những tài liệu dạy học mới. Những
tài liệu này phải gắn với các phương pháp kiểm tra mới nhằm khuyến khích
không chỉ khả năng nhớ mà cả khả năng hiểu, các kỹ năng thực hành và sáng tạo
của học viên. Đổi mới cách nhìn nhận về phía học sinh, dám nhìn nhận khuyết
điểm, lắng nghe học sinh phản biện và đổi mới phương pháp dạy học. Tăng
cường hướng dẫn cho học sinh cách phản biện với các vấn đề liên quan đến nội
dung bài học.
- Tiếp tục học tập nhằm nâng cao trình độ chuyên môn đạt với chuẩn của
giáo viên tiếng Anh hiện nay.
- Tổ chuyên môn cần thường xuyên tổ chức dự giờ thăm lớp và nghiêm
• * SOCRATIC QUESTIONING STRATEGIES
Questions for Clarification
What do you mean by _____?
What is your main point?
How does _____ relate to _____?
Could you put it another way?
What do you think is the main issue here?
Let me see if I understand you: you mean ____ or _____?
Jane, could you summarize in your own words what Richard has said?
Richard, is that what you meant?
Could you give me an example?
Would this be an example: _____?
Could you explain that further?
Questions about the Initial Question or Issue
How can we find out?
What does this question assume?
Would ____ put the question differently?
Can we break this question down at all?
Does this question lead to other questions or issues?
Questions that Probe Assumptions
What are you assuming?
What could we assume instead?
You seem to be assuming _____. Do I understand you correctly?
21
How would you justify taking this for granted?
Is this always the case? Why do you think the assumption holds here?
Questions that Probe Reasons and Evidence
What would be an example?
Hình ảnh học sinh sinh hoạt
Câu lạc bộ tiếng Anh
Hội thi tiếng Anh cấp trường
năm học 2014-2015
Hình ảnh học sinh thảo luận phản biện bằng sơ đồ tư duy
23
11. Tài liệu tham khảo
- Công văn số 1388/SGDĐT-GDTrH ngày 31/10/2014 của SGD&ĐT
Quảng Nam về việc hướng dẫn thực hiện việc kiểm tra đánh giá theo định hướng
phát triển năng lực môn tiếng Anh cấp trung học từ năm học 2014-2015.
- Critical Thinking: Teaching Methods & Strategies from Mark Jon Snyder
CEO, MSA Consulting Group Adjunct Professor, Elon University.
- Dạy và rèn luyện kỹ năng tư duy phản biện cho sinh viên của Bộ GD&ĐT
của tác giả PGS.TSKH. Bùi Loan Thùy.
- John Dewey (Phạm Anh Tuấn dịch) Dân chủ và giáo dục của nhà xuất
bản Tri thức, H. 2008.
- Kabilan, K M ‘Creative and Critical Thinking in Language Classroom.
The Internet TESL Journal. VI, 2000.
- Quyết định số 1400/QĐ-TTg ngày 30 tháng 9 năm 2008 phê duyệt Đề
án “ Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 –
2020”
- Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng
chính phủ về việc phê duyệt ''Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020"
- Sách giáo khoa 7,8,9
6. Nội dung nghiên cứu
Trang 5-12
7. Kết quả nghiên cứu
Trang 13-16
8. Kết luận
Trang 16
9. Đề nghị
Trang 16
10. Phần phụ lục
Trang 17
11. Tài liệu tham khảo
Trang 19
12. Mục lục
Trang 20
13. Phiếu đánh giá xếp loại SKKN
5. Đánh giá, xếp loại:
Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH
Trường:.....................................................................................................................
........................................... thống nhất xếp loại : .....................