Header Page 1 of 258.
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI năm 2013 của Đảng
Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách
hàng đầu” đồng thời nhấn mạnh: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo là đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp”. Trong nghị quyết số
29-NQ/TW năm 2013 đã đề cập: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình
giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực
và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành: lý luận gắn với thực tiễn…”.
Nghị quyết cũng đã đưa ra nhiệm vụ: “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương
pháp dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và
vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt
một chiều,…Tập trung dạy cách học, cách nghĩ…tạo cơ sở để người học tự
cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực”. Với mục tiêu
và nhiệm vụ đặt ra, giáo dục cần tạo ra những cá nhân tích cực, năng động,
độc lập và có tư duy tốt.
Bên cạnh đó, xu thế trong nước và thế giới hiện nay đang nghiên cứu
nhiều về lý thuyết dạy học, phương pháp dạy học, vận dụng những thành
tựu hiện đại về tâm lý giáo dục học, lý luận dạy học vào trong quá trình dạy
học, trong đó có việc nghiên cứu, hình thành và phát triển năng lực tư duy
cho học sinh (HS) đặc biệt là tư duy phản biện (TDPB) (hoặc gọi là tư duy
phê phán (TDPP)) [6, tr.5; 7, tr.154]. Theo các nhà giáo dục học, TDPB là
một trong những năng lực tư duy cần có ở HS trung học phổ thông
(THPT). Trong hoạt động dạy học Toán ở trường phổ thông hiện nay, cần
hướng người học thực hiện các hành động nhận thức một cách tích cực,
hướng HS tái tạo lại kiến thức, kinh nghiệm xã hội, biến kiến thức thành
vốn liếng của mình, biến đổi bản thân, hình thành và phát triển ở họ những
Hơn thế, môn Toán về cơ bản được xây dựng theo văn phong của phương
pháp tiên đề nên trong trình bày rất cần sự lập luận (suy luận) hợp logic.
Trong nhiều trường hợp, người học toán, làm toán thường hay vi phạm quy
tắc suy luận. Nhưng muốn nhận ra được sự vi phạm, sự thiếu chặt chẽ, cần
có hiểu biết về kiến thức toán và hiểu biết về các quy tắc suy luận, quy tắc
Footer Page 2 of 258.
Header Page 3 of 258.
3
kết luận logic…mới có thể nhận ra sai lầm trong tình bày lời giải của một
bài toán, hay trình bày một chứng minh…Như thế môn Toán tiềm ẩn cơ hội
để phát triển TDPB. Và, các sai lầm trong lập luận giải toán, hay chứng
minh thường khó nhận ra, nhất là tự mình nhận ra sai lầm của chính bản
thân mình. Vì thế, rất cần có người đọc lại, rồi chỉ ra sai lầm thông qua
tranh luận hay đối thoại…Theo đó, môn Toán tiềm ẩn nhiều cơ hội cho
việc phát triển TDPB. Do đó, vấn đề đặt ra là chúng ta làm thế nào để giáo
dục cho HS có thể đối phó với những thay đổi trong cuộc sống, trong nghề
nghiệp của mình sau này và trong một xã hội liên tục có nhiều biến động?
Chúng ta nên sử dụng cách tiếp cận nào trong giáo dục toán học để HS làm
quen với các mô hình thực hành chuyên nghiệp sau này?
Ngoài ra, theo các nhà kiến tạo xã hội, tương tác xảy ra khi HS giao
tiếp các ý tưởng toán học là môi trường để phát triển nhận thức, và tư duy
con người bộc lộ qua ngôn ngữ. Dựa trên nghiên cứu của Vygotsky, Voigt
(1994) cho rằng, thông qua sự chia sẻ và tranh luận giữa HS với HS, giữa
HS và GV trong quá trình học toán, HS tham gia tích cực vào hoạt động
học tập [121, tr.199]; bên cạnh đó, quan điểm của Cobb (1995) lại xem xét
việc học toán của HS chính là việc tích cực kiến tạo kiến thức toán học của
phản biện cho học sinh thông qua đối thoại trong dạy học môn toán ở
trường trung học phổ thông”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về TDPB và vai trò của
đối thoại trong dạy học toán, đề xuất được một số biện pháp nhằm phát
triển TDPB cho HS THPT thông qua đối thoại, góp phần nâng cao chất
lượng dạy học môn Toán.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể của nghiên cứu này là quá trình dạy học môn Toán ở
trường THPT; đối tượng của nghiên cứu này là quá trình sử dụng đối thoại
trong dạy học toán để phát triển TDPB.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và thực hiện được một số biện pháp sử dụng đối thoại
trong quá trình dạy học môn Toán ở trường THPT thì có thể phát triển
được TDPB cho HS, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán.
Footer Page 4 of 258.
Header Page 5 of 258.
5
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu về vấn đề này, luận án cần trả lời
được những câu hỏi như:
- Những biểu hiện đặc trưng của TDPB trong dạy học môn Toán là
gì?
- Đối thoại có tác dụng phát triển tư duy toán học cho HS, đặc biệt là
TDPB như thế nào?
- Sử dụng các biện pháp nào để phát triển TDPB thông qua đối thoại
chúng tôi tìm hiểu về đối thoại, các cách đối thoại thành công, và các biện
pháp đưa đối thoại vào trong quá trình dạy học để tích cực hóa hoạt động
học tập cho HS, chúng tôi nhận thấy thông qua đối thoại, TDPB được phát
triển một cách mạnh mẽ.
7.2. Phương pháp điều tra – quan sát
Khi sử dụng phương pháp này chúng tôi đã thực hiện một số công
việc sau:
Để có cái nhìn thực tiễn về việc phát triển TDPB cho HS ở trường
THPT, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp một số HS, GV tại 11
trường THPT tỉnh An Giang, đồng thời phát phiếu hỏi trên hai đối tượng là
HS , GV tại tỉnh An Giang.
Từ số liệu thu thập được, chúng tôi có cái nhìn khái quát và chân
thực về hiện trạng phát triển TDPB cho HS tại các trường THPT ở tỉnh An
Giang. Phương pháp quan sát được tiến hành song song trong quá trình thu
thập số liệu điều tra và thực nghiệm sư phạm. Ở đây, các quan sát viên đã
tiến hành quan sát thái độ của HS, GV khi tham gia điều tra, thực nghiệm.
Bên cạnh đó, trong quá trình thực nghiệm các quan sát viên đã quan
sát hoạt động học của HS, hoạt động dạy của GV và tiến hành ghi chép đầy
đủ các nhận định nhằm có cơ sở cho các nhận xét về sau.
7.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp thực nghiệm sư phạm được tiến hành ngay sau bước
thăm dò thực tiễn vừa tiến hành. Chúng tôi đã tổ chức dạy học và ghi âm,
ghi hình một số hoạt động đã diễn ra nhằm mục đích kiểm định lại các kỹ
Footer Page 6 of 258.
Header Page 7 of 258.
7
Header Page 8 of 258.
8
lý luận về TDPB (quan niệm, tính chất, các KN cơ bản có thể phát triển
thông qua đối thoại); lý luận về đối thoại trong dạy học môn toán (quan
niệm, các hình thức, các dạng, các cấp bậc, các công cụ để đối thoại,…).
- Phân tích và làm rõ vai trò của đối thoại trong việc rèn luyện và phát triển
TDPB thông qua đối thoại cho HS THPT trong dạy học môn Toán.
- Đề xuất một số biện pháp để phát triển TDPB thông qua đối thoại trong
dạy học môn Toán.
- Những biện pháp đã đề xuất có tác dụng, có tính khả thi và hiệu quả trong
việc phát triển TDPB.
10. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận án gồm ba chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2. Phát triển tư duy phản biện thông qua đối thoại trong dạy
học toán.
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm.
Footer Page 8 of 258.
Header Page 9 of 258.
9
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu vấn đề của luận án
Các nghiên cứu về TDPB đã có từ rất lâu. Vào thời cổ đại, khoảng
phát triển các phương pháp của ông, Platon, Aristote, Greek đã đưa ra
những phương pháp tư duy để đánh giá bản chất của sự vật.
Một câu hỏi được đặt ra: Ta học được gì từ Socrates? Ta hãy nhớ đến để có
thể rút ra mấy kinh nghiệm hay [133]:
- Biết nghe và biết hỏi là yếu tố cơ bản để thành công. Nhưng, hỏi không
phải để truy bức, để bắt bí mà để người được hỏi có dịp suy nghĩ và tự
trả lời: câu trả lời và giải pháp là do chính họ tìm ra;
- Kiểm tra có phê phán sự hiểu biết của chính mình;
- Nền móng của đối thoại là sự trung thực và minh bạch, là sự tin cậy lẫn
nhau: “lắng nghe một cách lễ độ, trả lời một cách rõ ràng, cân nhắc
một cách hợp lý và quyết định một cách vô tư”;
- Tránh mọi sự cực đoan: “Sự cực đoan bao giờ cũng tạo ra sự cực đoan
ngược lại”.
1.1.1. Những kết quả nghiên cứu trên thế giới
Về lịch sử nghiên cứu TDPB, chúng tôi kế thừa nghiên cứu của Phan
Thị Luyến (2008) [34, Tr.9-10] và bổ sung thêm một số vấn đề khác, cụ thể
như sau:
Đến thời kỳ phục hưng ( khoảng thế kỷ XV và XVI ), một số trí thức
ở Châu Âu (như Colette, Erasmus và Thomas Moore) bắt đầu suy nghĩ một
cách có phê phán về tôn giáo, nghệ thuật, xã hội, tự nhiên. Francis Bacon
đã đặt nền móng cho khoa học hiện đại với việc nhấn mạnh về quá trình thu
thập thông tin. Những luận điểm của ông đã chứa đựng những vấn đề
truyền thống của TDPB. Khoảng 50 năm sau đó, Descartes đã viết cuốn
“Rules For the Direction of Mind” (Những quy tắc định hướng suy nghĩ).
Trong tác phẩm này, tác giả bàn về việc cần có sự rèn luyện trí óc một cách
có hệ thống để định hướng tư duy và phát triển phương pháp suy nghĩ phê
phán dựa trên nguyên tắc nghi ngờ. Cuốn sách này được xem là cuốn sách
thứ hai về TDPB.
léo, chính xác và nghiêm ngặt nhất có thể, theo một cách mà nó dẫn đến
những kết luận chắc chắn, hợp logic và đáng tin cậy nhất, mà dựa trên đó
người ta có thể đưa ra những quyết định có trách nhiệm cho cuộc sống,
hành vi và những hành động của mình với kiến thức đầy đủ cho những giả
Footer Page 11 of 258.
Header Page 12 of 258.
12
định và hệ quả của những quyết định này. Raymond S. Nickerson (1987),
đã chỉ ra 16 đặc trưng của một nhà TDPB tốt trên phương diện kiến thức,
các năng lực, thái độ và các cách thức theo thói quen [104].
Sự liệt kê này dĩ nhiên là chưa hoàn chỉnh, nhưng nó cũng giúp chỉ
ra kiểu tư duy và cách tiếp cận đối với cuộc sống mà TDPB được xem như
đã có. Những mô tả tương tự về các thuộc tính của TDPB có thể tìm thấy
trong các tài liệu rất phong phú về TDPB như là: Giảng dạy các kĩ năng tư
duy (1987) của J. B. Baron and R. J. Steinberg; Phát triển các trí tuệ (1985)
của A. L. Costa; Giảng dạy về tư duy (1985) của R. S. Nickerson và cộng
sự; TDPB (ấn bản lần thứ 5, 1998) của B. N. Moore và Richard Parker; và
TDPB (ấn bản lần 2, 1990) của John Chaffe.
Cơ sở lí luận cho TDPB được William T. Daly (1990) giải thích
trong một bài báo ngắn “Phát triển các kĩ năng phê phán” với những nhận
định như phong trào TDPB trong nước Mỹ được nâng đỡ và xác nhận bởi
nhu cầu muốn hoàn thiện của cộng đồng kinh doanh trong một nền kinh tế
toàn cầu. Các cấp độ kĩ năng tổng quát cần thiết nơi lực lượng lao động
đang tăng lên trong khi các cấp độ kĩ năng của những nhân công tiềm năng
lại đang hạ xuống dần. Dẫn đến là, phong trào cải cách giáo dục đặc thù
này… sẽ vẫn mang tính quyết định đối với sự giáo dục cho lực lượng lao
thoại, TDPB sẽ có nhiều cơ hội để phát triển.
Thật vậy, kể từ sau nghiên cứu đáng kể của Wilkinson (1971) về lớp
học truyền thông và sự tương tác thông qua nói chuyện trong học tập [127],
hàng loạt các dự án khác ở Úc cũng đã được phát triển mạnh mẽ như các
dự án của Cormack, Wignell, Nichols, Bill và Lucas (1998) [80]. Các dự án
này đã tìm cách mô tả thực hành trong lớp học, tăng cường nghe và nói
thông qua các môn học khác nhau. Kết quả dự án đã chứng minh được khả
năng sử dụng nói chuyện để học hỏi và hỗ trợ cho việc học tập của HS là
rất khả quan, đặc biệt kết quả cũng cho thấy GV có ảnh hưởng rất lớn trong
việc định hình các cuộc nói chuyện nhằm hỗ trợ HS học tập [116].
1.1.2. Những kết quả nghiên cứu ở Việt Nam
Vào đầu thế kỷ XXI đã có một số nghiên cứu về TDPB trong giáo
dục. TDPB cần được rèn luyện cho HS từ cấp tiểu học đến THPT. Một số
công trình trong nước đã được công bố như: “ Rèn luyện TDPP của HS
Footer Page 13 of 258.
Header Page 14 of 258.
14
THPT qua dạy học chủ đề phương trình và bất phương trình” của Phan Thị
Luyến (2008) [34], “Rèn luyện TDPP cho HS thông qua dạy Toán 4” của
Trương Thị Tố Mai (2007) [35], “Tư duy phản biện” của Lê Tấn Huỳnh
Cẩm Giang (2011) [14].…
Trong luận án của mình, Phan Thị Luyến (2008) [34] đã (1) hệ thống
hóa và đi sâu nghiên cứu các vấn đề lý luận có liên quan đến TDPP và việc
rèn luyện TDPP của người học; (2) đưa ra các dấu hiệu của năng lực TDPP
và dấu hiệu năng lực TDPP trong môn Toán, nghiên cứu được mối quan hệ
giữa việc rèn luyện TDPP với việc phát huy tính tích cực học tập của HS;
Qua các nhận xét trên cho thấy, hầu hết các tác giả đều khẳng định
việc rèn luyện và phát triển TDPB của HS là rất cần thiết, các tác giả đã
đưa ra các biện pháp để rèn luyện và phát triển TDPB, nhưng vẫn chưa đề
cập nhiều đến việc tạo điều kiện cho HS được trao đổi, thảo luận, bàn bạc
với nhau. Vì lẽ trong môi trường đối thoại đó HS được trình bày ý kiến của
mình, nhận xét và đánh giá ý kiến của người khác một cách tích cực hơn.
1. 1.3. Vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Gần đây, một nghiên cứu lớn đã được tiến hành trong năm quốc gia
Anh, Mỹ, Nga, Pháp và Ấn Độ (Alexander, 2000) [116]. Nghiên cứu đặc
biệt tập trung chú ý vào việc đối thoại trong lớp học. Họ cho rằng giữa các
quốc gia này có nhiều điểm tương đồng về ngoại cảnh, nhưng GV ở Pháp
và Nga đã sử dụng phương pháp đối thoại nhiều hơn một cách đáng kể,
điều này đem đến lợi ích cho kết quả học tập của HS, cũng như sự phát
triển xã hội và các hành vi trong lớp học. Robin Alexander và các đồng
nghiệp của ông trong nghiên cứu “Five Nations” (2005) đã nghiên cứu về
vấn đề đối thoại trong lớp học. Nghiên cứu này đã đề cập đến cách thức tổ
chức lớp học tương tác và phong cách khác nhau của cuộc nói chuyện họ
gặp phải trong lớp học tiểu học ở Anh, Mỹ, Nga, Pháp và Ấn Độ có nhiều
điểm chung, bên cạnh đó giữa các quốc gia cũng có sự cân bằng giữa các
nguyên tắc tổ chức, chiến lược học tập và các loại thảo luận khác nhau.
Ở Việt Nam, từ lâu các GV cũng đã tăng cường sử dụng đối thoại
trong dạy học Toán, nhưng chưa có một nghiên cứu nào thật sự sâu về vấn
đề này mà chỉ sử dụng một số phương pháp dạy học có liên quan đến đối
thoại ví dụ như dạy học đàm thoại và giải quyết vấn đề, sử dụng câu hỏi có
Footer Page 15 of 258.
Header Page 16 of 258.
16
Footer Page 16 of 258.
Header Page 17 of 258.
17
của một số tác giả để có cái nhìn tổng thể về TDPB. Sau đó, chúng tôi sẽ
đưa ra ý kiến của chúng tôi về TDPB. Dưới đây là một số giải thích cũng
như một số quan niệm của các tác giả:
TDPB là tư duy có suy xét, cân nhắc để quyết định hợp lý khi hiểu
hoặc thực hiện một vấn đề (J. B. Baron và R. J. Sternberg [2] ).
TDPB là khả năng phân tích thực tế, tổng quan và tổ chức các ý
tưởng, ủng hộ các ý kiến, đưa ra sự so sánh, rút ra kết luận, đánh giá
những lập luận và giải quyết vấn đề (Chance, 1986).
TDPB là cách lập luận đòi hỏi phải chứng minh một cách đầy đủ để
những người có lòng tin và cả những người không có lòng tin đều bị thuyết
phục (Tama, 1989).
TDPB là suy nghĩ một cách có lý tập trung vào việc giải quyết vấn đề
nhằm tạo được niềm tin hoặc hành động (Ennis, 1993).
TDPB là sự quyết định một cách cẩn thận và có tính toán việc liệu có
chấp nhận, bác bỏ hoặc tạm ngừng đánh giá (Moore & Parker, 1994).
TDPB là loại tư duy có mục đích, được trình bày một cách lôgic và
hướng tới thực hiện mục tiêu. Tư duy đó bao gồm giải quyết vấn đề, đưa ra
những kết luận chính xác, có hệ thống, tính đến những khả năng có thể xảy
ra (Halpern, Diane F. 1996).
TDPB là quyết định dựa trên lý trí xem tin tưởng hoặc không tin
tưởng cái gì (Norris, Stephen P).
Theo Richard Paul, có hai điểm cốt yếu trong TDPB: (i)TDPB không
chỉ là suy nghĩ mà là suy nghĩ tự cải thiện; (ii) Những cải thiện này có từ
những KN trong việc dùng những tiêu chuẩn bởi một cách đánh giá tư duy
định, lập kế hoạch và giải quyết vấn đề. TDPB là thuộc tính của những
người thành đạt và các nhà khoa học. TDPB là một nền tảng cần thiết và
quan trọng cho mỗi cá nhân có thể độc lập trong xã hội. Ngoài kiến thức và
những KN TDPB trong cuộc sống hàng ngày, tức là TDPB tổng thể, trong
từng lĩnh vực còn đòi hỏi nền tảng lý thuyết và những KN cụ thể hơn.
Hầu hết các định nghĩa hình thức mô tả đặc trưng của TDPB như là
sự vận dụng có chủ ý các KN tư duy duy lý, ở bậc cao hơn, như: phân tích,
Footer Page 18 of 258.
Header Page 19 of 258.
19
tổng hợp, nhận biết vấn đề và giải quyết vấn đề, suy luận và đánh giá”
[118, tr. 6]
Theo Phan Thị Luyến, TDPB (TDPP) là tư duy có suy xét, cân nhắc,
đánh giá và liên hệ mọi khía cạnh của các nguồn thông tin với thái độ hoài
nghi tích cực, dựa trên những tiêu chuẩn nhất định để tìm ra những thông
tin phù hợp nhất nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra.
TDPB là quá trình tư duy biện chứng gồm phân tích và đánh giá một
thông tin đã có theo các cách nhìn khác cho vấn đề đã đặt ra nhằm làm sáng
tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề [141].
Theo Angela Jones, TDPB là một phạm trù chỉ suy luận theo lối mở,
không bị hạn chế, số lượng các giải pháp là không giới hạn, bao hàm cả
việc xây dựng các điều kiện, các quan điểm và ý tưởng đúng đắn để đi đến
kết luận vấn đề. [142, tr.45].
TDPP là quá trình vận dụng tích cực trí tuệ vào việc phân tích, tổng
hợp, đánh giá sự việc, xu hướng, ý tưởng, giả thuyết từ sự quan sát, kinh
nghiệm, chứng cứ, thông tin và lý lẽ nhằm mục đích xác định đúng – sai,
+ Lập luận có căn cứ: là những lập luận dựa trên những tiền đề đúng, phù
hợp với thực tiễn và hợp logic.
1.2.2. Một số biểu hiện đặc trưng của tư duy phản biện
Đã có một số nghiên cứu về biểu hiện đặc trưng của TDPB. Chẳng hạn:
K. B. Beyer (1995) nêu lên các đặc điểm thiết yếu của người có TDPB
[73], đó là:
- Không có thành kiến (biết lắng nghe và chấp nhận ý kiến trái ngược với
mình, biết xem xét các quan điểm khác nhau và sẽ thay đổi quan điểm
khi suy luận cho thấy phải thay đổi);
- Biết vận dụng các tiêu chuẩn (cần phải có các điều kiện được thỏa mãn
nhất định để một phát biểu trở thành có thể tin cậy được);
- Có khả năng tranh luận (đưa ra các lý lẽ với các bằng chứng hỗ trợ, biết
nhận dạng, đánh giá và xây dựng các lý lẽ);
- Có khả năng suy luận (có khả năng rút kết từ một hoặc nhiều chi tiết (để
làm được điều này cần phải thấy được mối quan hệ logic giữa các dữ
liệu));
Footer Page 20 of 258.
Header Page 21 of 258.
21
- Xem xét vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau (cần tiếp cận hiện tượng
từ nhiều quan điểm khác nhau);
- Áp dụng các thủ thuật tư duy khác nhau như đưa ra phán đoán, thiết lập
các giả định, đặt câu hỏi [73]…
Mathew Lipman (2003) đã liệt kê 10 đặc điểm quen thuộc của TDPB [95]
là:
- Sử dụng các bằng chứng một cách am hiểu, không thiên lệch;
- Nhìn thấy và phân biệt được nét khác biệt trong sự tương đồng, không
bị nhầm lẫn bởi các dấu hiệu bề ngoài;
- Có thể dựng lại cấu trúc không chính thức của vấn đề đã được trình bày
trong cách thức mà kỹ thuật chính thức có thể được dùng để giải quyết
chúng; hiểu sự khác biệt giữa thắng và thua trong sự tranh cãi và có
chân lý;
- Nhận thức rằng các vấn đề trong thực tiễn có thể có nhiều hơn một giải
pháp và những giải pháp đó khác nhau về một vài phương diện và có thể
khó chọn ra giải pháp tốt nhất;
- Có khả năng lược bỏ các câu chữ hay lý lẽ ít liên quan;
- Nhạy cảm với sự khác nhau giữa sự có thể chấp nhận được và sức mạnh
của một niềm tin;
- Có thể trình bày lại các quan điểm khác nhau mà không thay đổi cường
điệu hay tô vẽ thêm;
- Nhận thức rằng sự hiểu biết của cá nhân luôn luôn là hạn chế cho nên
với một thái độ không quan tâm tìm hiểu và học hỏi thì thường xuyên là
phải lầm lẫn.
Từ đó, Matthew (2003) cũng đi sâu phân tích để đưa ra một số đặc điểm
bản chất của TDPB [95] như sau:
- Sản phẩm của TDPB là các phán đoán, hơn nữa là các phán đoán tốt, một
phán đoán tốt là kết quả của sự xem xét đến tất cả mọi vấn đề liên quan,
bao gồm cả chính phán đoán đó, một phán đoán tốt phải là sản phẩm của
một tiến trình tư duy thuần thục về kỹ năng và có sử dụng các thủ thuật và
công cụ hỗ trợ thích hợp;
- TDPB là loại TD dựa vào tiêu chuẩn; TDPB là loại TD tự điều chỉnh,
nghĩa là, việc phát hiện ra những mâu thuẫn, thiếu căn cứ, nhầm lẫn trong
Footer Page 22 of 258.
ngờ một cách tích cực về các quan điểm của chính mình và nỗ lực hiểu cả
Footer Page 23 of 258.
Header Page 24 of 258.
24
hai giả định có tính phê phán đối với những quan điểm đó và những ẩn ý
của các quan điểm; nhận thức được sự thật là sự hiểu biết của mình luôn
luôn bị giới hạn. Sự giới hạn này thường rõ hơn nhiều đối với người không
có thái độ tìm tòi; và nhận ra khả năng sai lầm của chính các ý kiến của
mình, nhận ra các tình huống có thể chứa đựng thành kiến trong các ý kiến
đó, nhận biết được sự nguy hiểm của việc xem xét các chứng cứ theo ý chủ
quan cá nhân.
Qua nghiên cứu, chúng tôi đưa ra một số biểu hiện đặc trưng của
TDPB như sau:
(1) Có thái độ hoài nghi tích cực, không dễ dàng chấp nhận những điều
chưa hiểu kỹ hoặc chưa được lý giải thỏa đáng.
(2) Có cái nhìn đa chiều đối với sự vật hiện tượng, biết xem xét vấn đề
dưới nhiều góc độ khác nhau, tiếp cận vấn đề từ nhiều quan điểm
khác nhau, nhiều phương diện khác nhau.
(3) Tôn trọng bằng chứng và lý lẽ, không thừa nhận bất cứ điều gì khi
chưa có bằng chứng; có khả năng suy luận, tranh luận để tìm ra
những bằng chứng xác thực và những lập luận có căn cứ.
(4) Nhận ra những khác biệt trong các kết luận, các giả thuyết. Phát
hiện những sai lầm, mâu thuẫn, sự thiếu căn cứ, không logic trong tư
duy và giải quyết vấn đề. Rút ra được các kết luận hợp lý.
(5) Có khả năng loại bỏ những thông tin sai lệch, không liên quan. Có
khả năng điều chỉnh ý kiến, có thể chấp nhận ý kiến trái ngược với
các tiêu chí đánh giá và vận dụng các ý tưởng; xây dựng hệ thống câu hỏi
rèn kỹ năng lập luận; tạo cơ hội cho HS trình bày và đánh giá các giải
pháp; và, phát hiện và khắc phục sai lầm [34].
Beyer (1995) đã đề nghị các cách tiếp cận để phát triển TDPB bằng
việc xác minh thực tế và độ tin cậy của những phát biểu đưa ra; xác định độ
tin cậy của nguồn dữ liệu; phát hiện và xác định nguồn gốc của các luận cứ;
xác định các giả thiết, hoặc các giả thuyết đưa ra; xác định các thắc mắc
hoặc các tranh luận mang tính chất không rõ ràng; nhận ra mâu thuẫn hoặc
sai lầm trong lập luận; và xác định sức mạnh của một tranh luận, đối thoại
[72].
Footer Page 25 of 258.