Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Khoa Giáo dục Tiểu học
Lí luận dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học (học phần 1)
TIỂU LUẬN
THIẾT KẾ HỆ THỐNG CÂU HỎI TÌM HIỂU BÀI
CHO CÁC BÀI TẬP ĐỌC THEO CHỦ ĐỀ NHẰM
PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHẢN BIỆN CHO TRẺ
Giảng viên phụ trách: Th.s Nguyễn Thị Phú
Sinh viên: Trần Ngọc Như Mai
Mã số sinh viên: 41.01.901.095
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2017.
2
BẢNG DANH MỤC VIẾT TẮT
GV:
giáo viên
HS:
học sinh
TDPB:
1.1.
1.2.
1.3.
Lý do chọn đề tài.......................................................................................................
Mục tiêu muốn hướng đến ........................................................................................
Phạm vi nghiên cứu...................................................................................................
Chương 2: Những nội dung nghiên cứu.................................................................
2.1.
2.2.
2.3.
Cơ sở khoa học..........................................................................................................
Phân tích thực tế........................................................................................................
Phân tích hiệu quả ....................................................................................................
Chương 3: Đánh giá và kết luận.............................................................................
3.1.
3.2.
3.3.
Đánh giá ...................................................................................................................
Đề xuất .....................................................................................................................
Kết luận ....................................................................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................
Chương 1: Mở đầu
1.1.
dần thay đổi cách truyền thụ của mình theo hướng phát huy khả năng của các em hơn,
giáo viên chỉ đóng vai trò là người hỗ trợ, hướng dẫn chứ không còn dẫn dắt nữa. Nhất là
đối với các giờ Tập đọc, giáo viên không nên gò bó các em theo những câu hỏi cơ bản
của sách giáo khoa, mà phải khéo léo lồng ghép thêm những câu hỏi nhằm phát huy tư
duy phản biện cho học sinh một cách tốt nhất để các em có thể mạnh dạn trình bày những
nhận định của mình về các vấn đề trong bài học.
Mục tiêu giáo dục hiện nay của chúng ta là đào tạo những con người toàn diện, năng
động, sáng tạo trong công việc. Vậy nên việc rèn luyện và phát huy khả năng tư duy phản
biện cho các em ngay từ khi còn ở cấp Tiểu học là điều thiết thực và cần thiết hơn bao giờ
hết.
Vì những lí do trên nên tôi lựa chọn đề tài “Thiết kế hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài cho
các bài tập đọc nhằm phát triển tư duy phản biện cho trẻ”.
Mục tiêu hướng đến
2
Đề tài hướng đến việc phát huy tối đa năng lực tư duy phản biện cho cả người dạy và
người học thông qua việc tạo lập và giải quyết các câu hỏi trong các bài Tập đọc môn
Tiếng Việt ở tiểu học. Đồng thời tạo được các tiết học tích cực, năng động, dân chủ, góp
phần làm nên sức hấp dẫn cho việc chiếm lĩnh tri thức tiếng Việt ở cấp Tiểu học.
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài bàn đến việc rèn luyện kỹ TDPB cho học sinh Tiểu học. Đây là một kỹ năng cần
được rèn luyện thường xuyên ở tất cả các môn học trong nhà trường, vì đó là năng lực
chứ không phải thiên bẩm. Tuy nhiên, do khả năng hạn chế của người viết, tôi chỉ giúp
cho người đọc hiểu rõ hơn về tư duy phản biện, biết cách tạo lập hệ thống câu hỏi nhằm
phát huy khả năng PB cho học sinh trong một số bài ở phân môn Tập đọc, một phân môn
giúp học sinh rèn luyện TDPB tốt nhất của bộ môn Tiếng Việt ở cấp Tiểu học.
1.3.
-
để giúp trẻ đi đến câu trả lời. Câu hỏi có mức độ từ dễ đến khó, phù hợp với lứa tuổi của
trẻ, không nên đặt những câu hỏi ngoài tầm hiểu biết của trẻ quá nhiều.
Giúp trẻ biết phân tích sâu và rộng. Phân tích sâu là phân tích từng bộ phân nhỏ của vấn
đề, còn phân tích những điều có liên quan đến vấn đề đó là phân tích rộng. Hướng dẫn trẻ
biết cách lập luận từng bước một, luôn quan sát, đánh giá, phân tích và tìm thông tin khi
gặp vấn đề.
Hướng dẫn, hỗ trợ trẻ thu thập thông tin sau khi phân tích. Cần cho trẻ biết phải tìm kiếm
thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để sáng suốt hơn trong việc đưa ra ý kiến cá nhân,
kết luận cuối cùng. Tuy nhiên cần khuyên trẻ phải biết kiểm chứng những thông tin tìm
hiểu được từ những nguồn nào, có đáng tin cậy không. Sau đó người lớn cần lắng nghe
thật kỹ và nhận xét những lập luận của trẻ.
Khuyến khích trẻ nhìn nhận vấn đề từ nhiều chiều. Luôn có tâm thế cởi mở, thoải mái với
những quan điểm của người khác, không được nghĩ lúc nào mình cũng đúng. Sau khi
nghe được những ý kiến phản biện về lập luận của trẻ, người lớn cần hỗ trợ trẻ trong việc
bảo vệ ý kiến của trẻ hoặc tiếp thu, sửa chữa nếu ý kiến phản biện của ng ười khác là
-
đúng.
Luôn khuyến khích trẻ đọc thật nhiều sách, vì sách là kho tàng kiến thức vô giá. Th ường
xuyên đọc sách sẽ giúp trẻ ngày càng mở mang tri thức, hiểu biết giúp cho việc rèn luyện
TDPB của trẻ ngày một tốt hơn.
Cách tạo ra hệ thống câu hỏi phát huy TDPB cho học sinh Tiểu học ?
Tư duy phản biện có tính chủ động, do đó khi một người có TDPB họ sẽ tự nảy ra câu
hỏi, tự đi tìm các thông tin liên quan, quan sát, nhìn nhận, đánh giá vấn đề hơn là học hỏi
thụ động từ người khác. Vì thế cách đặt câu hỏi để kích hoạt tư duy phản biện rất quan
trọng, đặc biệt là đối với trẻ em. Ngoài gia đình, môi trường tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc
GV trình bày, biết đặt ra và trả lời được các câu hỏi như “Tại sao lại như vậy?”, “Như thế
thì đã thực sự đúng đắn chưa?”…; không tiếp thu kiến thức một cách thụ động, một chiều
mà phải chủ động, chọn lọc, luôn luôn hướng tới chân lí của vấn đề. Nhìn nhận, đánh giá
vấn đề một cách biện chứng. Người học phải biết “bất thường” (cách nói của đạo diễn Lê
Hoàng), nhìn nhận, đánh giá mọi vấn đề theo những cách mới mẻ, thậm chí, khi cần thiết
có thể phủ nhận lại cách đánh giá của GV. Muốn PB được, HS cần có hiểu biết sâu rộng
về vấn đề. HS cũng phải có kĩ năng lập luận (bao gồm các kĩ năng phân tích, tổng hợp, so
sánh…) mới có thể PB tốt vấn đề. Trong phản biện, cần thuyết phục được người khác
hướng tới những kết luận chính xác hơn. PB phải mang tính khách quan, khoa học, tránh
lấy “phản đối” làm “PB”. Phản biện cần có tâm sáng, tầm cao, cách đúng.
GV cần coi tư duy PB là tư duy của con người hiện đại, việc PB của HS là việc bình
thường trong dạy và học; không nên tự cho mình luôn đúng; cũng không nên thấy xấu hổ,
ngại ngùng khi một HS đưa ra cách giải quyết vấn đề thuyết phục hơn thầy. Trong trường
hợp này, quan hệ thầy – trò phải thực sự thân thiện, chân lí của vấn đề phải được đưa lên
hàng đầu. GV tạo môi trường thuận lợi cho những PB của HS, bằng các biện pháp động
viên, khích lệ làm cho HS thấy tự tin, hào hứng. PB của HS có thể chưa đạt đến chân lí
thì GV cũng nên kết thúc bằng những lời động viên, tránh chỉ trích gây căng thẳng.
2
2.
Phân tích thực tế
Nhằm minh họa cụ thể cho những cơ sở khoa học đã nêu ở trên, tôi chọn 1 cụm bài Tập
đọc thuộc chủ đề “Nam và nữ” trong SGK Tiếng Việt lớp 5, tập 2 để thiết kế hệ thống các
câu hỏi nhằm phát triển TDPB cho trẻ theo từng bài.
Bài “Một vụ đắm tàu”
•
động cao thượng của em có thể sẽ đem đến may mắn cho em ở kiếp sau, em sẽ có cuộc
sống tốt hơn.
2
2/ Đây là câu hỏi mang tính phân tích và đánh giá. Các em phải biết chọn lọc những
thông tin có trong bài học, sau đó phân tích, tư duy để đưa ra những đánh giá đúng đắn.
Việc trả lời cho câu hỏi này, sẽ giúp các em dần hoàn thiện kỹ năng đánh giá một người,
một vấn đề trong cuộc sống tốt hơn. Tuy nhiên, để HS đưa ra được những nhận định hợp
lý nhất, GV nên gọi ý điều chỉnh suy nghĩ của các em khi HS trình bày. Ở câu hỏi này,
GV có thể mời một số em HS đứng lên phát biểu về việc đánh giá tính cách của 2 nhân
vật, sau đó mời các em khác bổ sung. GV chỉ là người hỗ trợ, sau cùng chốt lại các ý
trọng tâm để HS khắc sâu kiến thức. Bằng những quan sát tỉ mỉ và phán đoán nhạy bén,
các em HS có thể đưa ra những kết luận về tính cách của 2 nhận vật qua những hành
động: Giu-li-ét-ta khi thấy bạn bị thương thì hoảng hốt chạy lại và nhanh chóng băng vết
thương cho bạn khẳng định rằng em có tấm lòng thương người, biết quan tâm bạn bè; khi
nghe người ta bảo xuồng cứu nạn chỉ còn 1 chỗ cho đứa nhỏ hơn, em sững sờ và tuyệt
vọng vì nghĩ người ta sẽ chọn Ma-ri-ô chứng tỏ cô gái này biết nhìn nhận sự thật, không
gian dối (bởi trong truyện tác giả có miêu tả rằng em cao hơn Ma-ri-ô, khi nghe người
lớn bảo thế em có thể la lên em nhỏ hơn vì em là con gái nhưng em lại thẫn thờ vì em
biết em có thân hình to cao hơn Ma-ri-ô), khóc nức nở và chào vĩnh biệt Ma-ri-ô cho thấy
em rất quý trọng tình bạn đẹp này; Ma-ri-ô không kể về hoàn cảnh của mình cho Giu-liét-ta nghe chứng tỏ cậu là chàng trai mạnh mẽ, biết giấu nỗi buồn của mình vào bên
trong; hành động nhường bạn xuống xuồng cứu nạn cho thấy em là cậu bé có tấm lòng
cao thượng, sẵn sàng hy sinh bản thân mình, nhường sự sống cho bạn.
3/ Đây là câu hỏi mang tính tổng hợp, các em HS sau khi đọc xong câu chuyện, tóm tắt
được những ý quan trọng, đánh giá về tính cách của 2 nhân vật chính, nhận thấy rằng cả 2
đều là người tốt, vì thế các em HS sẽ mong muốn có 1 cái kết tốt đẹp dành cho cả 2. Việc
đưa ra những cái kết khác còn giúp các em HS phát huy tính sáng tạo, trí tưởng tượng
phong phú. GV có thể gọi một số HS xung phong, một số HS nhận xét. Sau cùng, GV có
HS sẽ phân tích và đưa ra nhìn nhận của bản thân về quan niệm này. Mỗi HS sẽ có những
suy nghĩ, những ý kiến riêng. Những suy nghĩ có thể được HS đưa ra như: trong gia đình,
nhất thiết phải có con trai để nối dõi, để gánh vác gia đình; những việc lớn trong gia đình
hay ngoài xã hội, đều phải do con trai đảm nhiệm, con gái chỉ nên làm những việc nhỏ,
vừa sức; con trai phải được tôn trọng hơn con gái;…Sẽ có những HS đồng tình với quan
niệm trên, vì các em nhận thấy trong gia đình, người cha luôn là trụ cột gánh vác, còn
người mẹ chỉ lo các việc bên trong. Thế nên người cha luôn có tiếng nói hơn người mẹ;
hay các chức vị quan trọng của bộ máy quản lý nhà trường, nhà nước đều do đàn ông
đảm nhiệm. Bên cạnh đó, vẫn sẽ có những HS không đồng tình với quan niệm trên, vì
trong gia đình hay ngoài xã hội, nam và nữ vẫn phải luôn được đối xử công bằng. Bởi lẽ
nếu thiếu 1 trong 2, thì gia đình sẽ không toàn vẹn, bộ máy cũng không được hoàn thiện.
Thực tế cho thấy, những người phụ nữ hiện nay vừa có thể lo toàn vẹn các việc bên ngoài
mà vẫn đảm bảo hạnh phúc gia đình. Các em sẽ dùng những lập luận của mình mà bảo vệ
luận điểm mình đưa ra, đồng thời phản biện được những nhận xét của các bạn khác. Việc
2
đặt câu hỏi này sẽ tạo tâm thế cho học sinh, giúp các em hứng thú khi tiếp cận bài học
hơn, GV dẫn dắt vào bài học tốt hơn.
2/ Ở câu hỏi mang tính phân tích và diễn giải này, sẽ có 2 nhóm ý kiến trái ngược nhau
được đưa ra. 1 nhóm nghĩ là cần thiết, nhóm còn lại sẽ nghĩ không cần thiết. Các nhóm sẽ
dựa vào những kiến thức có trong bài học như: phản ứng của mọi người khi biết mẹ của
Mơ sinh con gái, cách tụi con trai trong xóm trêu Mơ, Mơ đã cố gắng làm những việc gì
để chứng tỏ bản thân, để làm bố mẹ vui lòng. Từ đó, HS sẽ đưa ra nhìn nhận về sự cố
gắng của Mơ. Nhóm nghĩ việc cố gắng của Mơ là cần thiết, bởi lẽ nếu là con trai, em đã
không khiến bố mẹ phải buồn lòng. Vì thế, em phải chứng tỏ mình không thua kém bất
cứ đứa con trai nào, thậm chí có thể hơn. Nhóm nghĩ việc cố gắng của Mơ là không cần
thiết, bởi lẽ con trai hay con gái đều phải được yêu thương như nhau. Chỉ cần luôn cố
gắng học tập thật tốt, biết hiếu thảo với bố mẹ, phụ giúp gia đình thì đó đã là một đứa con
công việc của những người có nhiệm vụ rải truyền đơn như nhân vật Út trong bài, học
sinh biết được sự nguy hiểm những người làm nhiệm vụ này và câu thoại của chị Út:
“Anh phải chỉ vẽ, em mới làm được chớ”, học sinh trả lời được rằng: chị Út thấy lo sợ bị
bắt và lo lắng vì chưa biết phải thực hiện công việc này như thế nào”.
2/ Đây là câu hỏi mang tính tổng hợp. Dựa vào chi tiết trong bài: “Nhận công việc vinh
dự đầu tiên này”, cộng thêm nhận thức được vai trò cao cả và quan trọng của những
người rải truyền đơn đối với chiến thắng trong kháng chiến chống Mỹ, và chi tiết: “đúng
cái nơi anh giao việc cho ba tôi ngày trước”, học sinh trả lời được rằng: nguyên nhân bởi
vì chị Út rất mong muốn và tự hào khi được nhận nhiệm vụ này, nhiệm vụ mà ba chị đã
đảm đương ngày trước, chị cũng nhận thức được vai trò của nhiệm vụ và mong muốn
cống hiến cho sự nghiệp giải phóng đất nước.
3/ Đây là câu hỏi mang tính phân tích và đánh giá. Học sinh sẽ suy luận từ những kiến
thức mà các em có được trong cuộc sống qua sách báo, những lời kể của người lớn mà
đánh giá xem việc “thoát li” ấy có phù hợp với với đứa bé nhỏ tuổi như chị Út không.
Nhận thức được vai trò quan trọng của những người rải truyền đơn, một số học sinh sẽ có
ý kiến rằng chị Út muốn được “thoát li” sớm như vậy là đúng, chị thoát li sớm sẽ có
nhiều thời gian để tham gia vào hoạt động cách mạng hơn, có quá trình rèn luyện và tu
dưỡng bản thân, ban đầu, chị có thể đảm đương những công việc đơn giản, và từ từ đảm
đương những trọng trách quan trọng hơn. Một số học sinh khác cho rằng chị Út muốn
được “thoát li” sớm như vậy là sai, bởi vì các em ý thức được những khó khăn mà chị Út
sẽ gặp phải khi thoát li sớm, chị Út còn nhỏ tuổi, còn thiếu kinh nghiệm để thực hiện
nhiệm vụ nguy hiểm, chị nên ở nhà thêm một vài năm, tiếp tục rải truyền đơn và tích lũy
kinh nghiệm, từ từ đủ bản lĩnh tham gia hoạt động cách mạng chính thức.
4/ Đây là câu hỏi mang tính diễn giải, là cơ hội để học sinh bày tỏ quan điểm của mình,
cũng là cơ hội để giáo viên hiểu thêm về học sinh. Đa số học sinh sẽ trả lời là chấp nhận,
điều này cho thấy các em có mong muốn bảo vệ quê hương của mình như chị Út, các em
muốn thực hiện công việc vinh dự và khó khăn, mang lại cho các em cảm giác mình là
2
nông dân và người bộ đội và những chi tiết miêu tả sự gian khổ của người mẹ là nông
2
dân như: “Bầm ra ruộng cấy bầm run”; “Mưa phùn ướt áo tứ thân”; “Chưa bằng khó
nhọc đời bầm sáu mươi”,… thì cho rằng người mẹ sẽ cực khổ hơn, cả về thể chất lẫn tinh
thần là nôi xnhows con và nỗi cô đơn, hiu quạnh khi tuổi đã già mà con không ở bên.
Cũng có học sinh sẽ cho rằng cả hai người đều có nỗi khổ riêng.
3/ Đây là câu hỏi mang tính tổng hợp. Học sinh phải dựa vào chi tiết trong bài là: “Yêu
bầm yêu nước, cả đôi mẹ hiền.” và khả năng tư duy của bản thân, để đưa ra câu trả lời
hợp lý là: đất nước và mẹ cố vị trí ngang nhau trong lòng người chiến sĩ. Tuy người chiến
sĩ chọn xa mẹ để bảo vệ đất nước, nhưng bảo vệ đất nước cũng chính là bảo vệ người mẹ
của anh, ở nơi chiến trường xa xôi, trong tim anh luôn nhớ về người mẹ của mình và lấy
đó làm động lực chiến đấu và chiến thắng để về bên mẹ.
Ngoài các câu hỏi kích thích TDPB, cần có những câu hỏi tìm hiểu bài để học sinh
tiếp thu bài học được tốt hơn, cụ thể trình tự các câu hỏi sẽ được sắp xếp như sau:
Điều gì gợi cho anh chiến sĩ nhớ tới mẹ ? Anh nhớ hình ảnh nào của mẹ ?
Tìm những hình ảnh so sánh thể hiện tình cảm mẹ con thắm thiết, sâu nặng ?
Vì sao tác giả lại so sánh: “Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu.” ?
Anh chiến sĩ đã dùng cách nói như thế nào để làm yên lòng mẹ ?
Giữa hi sinh của chiến sĩ và hi sinh của người mẹ, ai hi sinh nhiều hơn ? Ai đáng trân
trọng hơn ?
Đất nước và mẹ có vị trí như thế nào trong lòng người chiến sĩ ?
Chương 3: Kết luận và kiến nghị
Kết luận:
Tư duy phản biện cần được rèn luyện cho trẻ càng sớm càng tốt, từ gia đình, nhà trường
đến xã hội. Thông qua các môn học ở trường, nhất là các giờ Tập đọc, học sinh cần được
rèn luyện năng lực phản biện thường xuyên để chuẩn bị hành trang tốt cho các cấp học
cao hơn.
Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Thị Ly Kha, Đặng Thị
Lanh, Lê Phương Nga, Lê Hữu Tỉnh (2010), Tiếng Việt 5 tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam, Hà Nội.
Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Thị Ly Kha, Đặng Thị
Lanh, Lê Phương Nga, Lê Hữu Tỉnh (2013), Tiếng Việt 5 tập 2 – Sách giáo viên, Nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội
Trang web:
/> />2
/> /> /> /> />
2