2/10/2019
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Kết quả nghiên cứu
12/12/2018 lúc 17:42 (GMT)
Chia sẻ 0
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu
tư của các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường
chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
TS. PHẠM NGỌC TOÀN (Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh) và ThS.
NGUYỄN THÀNH LONG (Trường Cao đẳng Giao thông vận tải trung ương VI)
TCCT
TÓM TẮT:
Các hành vi đầu tư cá nhân liên quan đến các lựa chọn mua chứng khoán cho tài
khoản của chính mình. Mục tiêu của nghiên cứu là xác định các nhân tố ảnh hưởng
đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán thành
phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu được tiến hành trên quy mô mẫu 192 nhà đầu tư cá
nhân. Để thu thập dữ liệu, tác giả đã sử dụng bảng câu hỏi có cấu trúc và xử lý bằng
phần mềm SPSS. Phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng. Kỹ thuật
phân tích bao gồm thống kê mô tả, kiểm tra độ tin cậy thang đo, phân tích EFA, hồi quy
tuyến tính. Kết quả nghiên cứu cho thấy 5 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư
của các nhà đầu tư cá nhân: (1) Chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính; (2) Hình
ảnh công ty; (3) Ý kiến của các nhà tư vấn; (4) Tâm lý đám đông; (5) Sự tự tin thái quá.
Cuối cùng, nghiên cứu này gợi ý một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả ra quyết
định đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ
Chí Minh.
Từ khóa: Hành vi của nhà đầu tư, các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư.
2.2.1. Lý thuyết triển vọng
Lý thuyết triển vọng thuộc tài chính học hành vi là lĩnh vực tài chính sử dụng các lý
thuyết cơ bản dựa trên tâm lý con người để giải thích những hiện tượng bất thường
trên thị trường tài chính. Theo lý thuyết triển vọng của Kahneman and Tverskys (1979),
nhà đầu tư có khuynh hướng xem khả năng bù đắp một khoản lỗ quan trọng hơn khả
năng kiếm được nhiều lợi nhuận. Khi khoản đầu tư có khuynh hướng mang lại lợi
nhuận, nhà đầu tư thường nắm chắc ngay cơ hội có lợi nhuận hiện tại hơn là cố gắng
tiếp tục đầu tư để có lợi nhuận nhiều hơn trong tương lai. Nhưng ngược lại, khi khoản
đầu tư có nguy cơ bị thua lỗ, nhà đầu tư lại cố gắng duy trì với hy vọng sẽ nhận được
khoản lời trong tương lai, mặc dù lúc này rủi ro là rất cao. Điều này đã giải thích được
xu hướng mua bán cổ phiếu của nhà đầu tư: bán quá nhanh khi có lời và nắm giữ cổ
phiếu lỗ quá lâu.
2.2.2. Lý thuyết thông tin bất cân xứng
Akerlof (1970) lần đầu tiên giới thiệu về lý thuyết thông tin bất cân xứng. Thông tin bất
cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có ít thông tin hơn bên đối tác hoặc có thông tin
nhưng thông tin không chính xác. Điều này khiến cho bên có ít thông tin có những
quyết định không chính xác khi thực hiện giao dịch, đồng thời bên có nhiều thông tin
sẽ có những hành vi gây bất lợi cho bên kia khi thực hiện các giao dịch.
Trên thị trường chứng khoán, đối với phần lớn nhà đầu tư, sự quan tâm hàng đầu của
họ là lợi nhuận. Nhà đầu tư thường có ít thông tin về doanh nghiệp hơn nhà quản lý
nên có thể có những bất lợi hơn so với nhà quản lý. Do đó, nếu nhà đầu tư không xác
định chính xác lợi nhuận kỳ vọng của công ty niêm yết thì sẽ định giá cổ phiếu không
chính xác và nếu định giá cao hơn giá trị thực của cổ phiếu thì sự bất lợi hoàn toàn
thuộc về nhà đầu tư trong việc ra các quyết định đầu tư.
2.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư cá
nhân trên thị trường chứng khoán TP. Hồ Chí Minh như sau
a- Chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính:
Malmendier và Shanthikumar, (2003) cho rằng các nhà giao đầu tư cá nhân bị ảnh
hưởng đến việc ra quyết định đầu tư từ các khuyến nghị tích cực từ các nhà tư vấn,
bao gồm cả các nhà phân tích. Krishnan và Booker, (2002) phân tích các yếu tố ảnh
hưởng đến quyết định của nhà đầu tư sử dụng các khuyến nghị của nhà phân tích để
đưa ra quyết định ngắn hạn để nắm giữ hoặc bán cổ phiếu. Các kết quả chỉ ra rằng
một dạng báo cáo giới thiệu tóm tắt của nhà phân tích tốt sẽ là một thông tin bổ sung
hỗ trợ tích cực cho việc ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân.
Giả thuyết H3 được đưa ra là: Các ý kiến của các nhà tư vấn ảnh hưởng tích cực đến
quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán TP. Hồ Chí
Minh.
d- Tâm lý đám đông:
Tâm lý đám đông không chỉ giới hạn ở những nhà đầu tư có kinh nghiệm mà sẽ xuất
hiện trong những tình huống không chắc chắn và mơ hồ. Trong những tình huống như
vậy, hành động theo đám đông sẽ khiến các nhà đầu tư cảm thấy an tâm hơn (Ghosh
and Ray, 1997). Như vậy, tâm lý đám đông luôn tồn tại trong quá trình ra quyết định
của các nhà đầu tư không phân biệt là có kinh nghiệm hay không. Đặc biệt, tâm lý đám
đông được thể hiện rõ khi nhà đầu tư bị buộc phải đưa ra quyết định nhanh chóng,
chưa có đầy đủ thông tin cần thiết.
Giả thuyết H4 được đưa ra là: Tâm lý đám đông ảnh hưởng tích cực đến quyết định
của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán TP. Hồ Chí Minh.
e- Sự tự tin thái quá:
Hầu hết các nhà đầu tư quá tự tin thường đánh giá cao bản thân của mình hơn những
gì người khác đánh giá và thường phóng đại sự hiểu biết của mình (Fischhoff et al.,
1977). Odean (1998) cho rằng, sự tự tin của nhà đầu tư có liên quan đến hành vi đầu
tư của họ, cụ thể là những nhà đầu tư quá tự tin sẽ giao dịch nhiều hơn những nhà
đầu tư khác. Những nhà đầu tư quá tự tin thường ít tham khảo ý kiến từ những nguồn
khác, luôn cho rằng quyết định của họ đúng đắn nên đôi khi dẫn đến những sai lầm do
thừa các nghiên cứu trước bao gồm 5 nhân tố như sau:
Y = β + β1X1+ β2X2+ β3X3+ β4X4+ β5X5+ μ
Trong đó: β là Hằng số, X1 là Chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính, X2 là Hình
ảnh công ty, X3 là Ý kiến của các nhà tư vấn, X4 là Tâm lý đám đông, X5 là Sự tự tin
thái quá, X6 là Quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán
TP. Hồ Chí Minh, μlà Sai số các yếu tố không quan sát được.
3. Kết quả nghiên cứu
Sau khi kiểm định độ tin cậy của các thang đo của các biến độc lập và biến phụ thuộc.
Tác giả đánh giá mức độ phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính như sau:
Bảng 3.1 cho thấy, giá trị hệ số R2 = 0.627> 0.5, do vậy, đây là mô hình thích hợp để
sử dụng đánh giá mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập. Ngoài ra, giá
trị hệ số R2 hiệu chỉnh là 0.623, nghĩa là mô hình hồi quy tuyến tính đã xây dựng phù
hợp với dữ liệu 62.3%.
/>
4/9
2/10/2019
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Căn cứ vào Bảng 3.2, phương trình hồi qui tuyến tính bội của các nhân tố ảnh hưởng
đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán TP. Hồ Chí
Minh với các hệ số chuẩn hóa như sau:
Y = 1.280+0.261X1+0.312X2+ 0.334X3 + 0.246X4 + 0.194X5
Kết luận: Mục đích của nghiên cứu này là xác định và đo lường mức ảnh hưởng của
các nhân tố tác động đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
2. Epstein, M.J. (1996) “Social disclosure and the individual investor”, Accounting,
Auditing & Accountability Journal, Vol.4. Malmendier và Shanthikumar, (2003).
3. Fischhoff, B. ,Lichtenstein, S., & Phillips, L. D. (1977). Calibration of probabilities:
The state of the art. In Decision making and change in human affairs (pp. 275-324).
Springer, Dordrecht.
4. Ghosh, S. K., Ray, P., Zhang, D. H., & Ray, A. (1997). Repression of interleukin-6
gene expression by 17 -estradiol. FEBS letters, 409(1), 79-85.
5. Krishnan,R.and Booker,D.M. (2002) “Investors use of Analysts recommendations”,
Behavioral Research in Accounting, Vol. 14.
6. Mouna, A., & Anis, J., (2015). Financial literacy and portfolio diversification: An
observation from the Tunisian stock market. International Journal of Bank Marketing,
33(6), 808-822.
7. Nguyễn Đức Hiển (2012). Hành vi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt
Nam (Doctoral dissertation, Đại học Kinh tế quốc dân). Kahneman, D., & Tversky, A.
(1984). Choices, values, and frames. American psychologist, 39(4), 341.
8. Nagy, R. A., & Obenberger, R. W. (1994). Factors influencing individual investor
behavior. Financial Analysts Journal, 50(4), 63-68.
9. Odean, T. (1998). Are investors reluctant to realize their losses?. The Journal of
finance, 53(5), 1775-1798.
10. Tabachnick, B. G., & Fidell, L. S. (2007). Using multivariate statistics. Allyn &
Bacon/Pearson Education.
/>
6/9
2/10/2019
Kết quả nghiên cứu
Cùng chuyên mục
Hoàn thiện chính sách phát triển hạn tầng
thương mại theo hướng đồng bộ, hiện đại
Kết quả nghiên cứu
Hoàn thiện chính sách phát triển
hạn tầng thương mại theo
hướng đồng bộ, hiện đại
/>
7/9
2/10/2019
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Kết quả nghiên cứu
Văn hóa doanh nghiệp ảnh hưởng đến cam kết của nhân viên với tổ chức
Kết quả nghiên cứu
Các yếu tố thu hút khách hàng của nhãn hàng riêng tại các siêu thị Thành phố Hồ Chí
Minh
Kết quả nghiên cứu
2/10/2019
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Tác động của các hoạt động trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp đến sự tin tưởng của khách hàng - Nghiên cứu trong
các hệ thống siêu thị bán lẻ tại Việt Nam
Tầm quan trọng của quản trị tài năng trong việc tạo ra tăng
trưởng và thành công của doanh nghiệp
Quảng cáo
Liên hệ với chúng tôi:
Gửi bài viết
Liên hệ tòa soạn
Đăng ký Newsletter
TẠP CHÍ CÔNG THƯƠNG - CƠ QUAN THÔNG TIN LÝ LUẬN CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG
Giấy phép hoạt động Báo Điện Tử số 232/GP-BTTTT do Bộ Thông Tin và Truyền Thông cấp ngày 23/5/2017.
Tổng Biên tập: ĐẶNG THỊ NGỌC THU - Phó Tổng Biên tập: NGÔ THỊ DIỆU THÚY
Ghi rõ nguồn "Tạp chí Công Thương" khi phát hành từ Website này.
/>
9/9