Luận án tiến sĩ kinh tế hoàn thiện tổ chức kiểm toán nội bộ trong tổng công ty sông đà - Pdf 57

1

1

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản Luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
tài liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong Luận án là trung thực. Những kết luận
khoa học của Luận án chưa từng được ai công bố ở bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Đỗ Quốc Việt


2

LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới GS.TS. Nguyễn Đình Đỗ; PGS.TS.
Đỗ Minh Thành - người hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn tác giả
trong suốt quá trình thực hiện Luận án.
Tác giả xin bày tỏ sự cảm ơn tới Học viện Tài Chính, Khoa đào tạo Sau đại
học Học viện Tài chính đã giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên
cứu Luận án.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình và quý báu trong quá
trình thu thập số liệu, phiếu điều tra của các nhà quản lý tại các doanh nghiệp
thuộc Tổng công ty Sông Đà, các thành viên Ban Kiểm soát nội bộ, các cán bộ
các Ban: Tài chính - Kế toán, Tổ chức nhân sự, Kinh tế, Quản trị rủi ro… tại
Công ty mẹ và các doanh nghiệp thành viên thuộc Tổng công ty Sông Đà.
Cuối cùng, tác giả muốn bày tỏ sự cảm ơn tới những người thân trong gia
đình đã động viên, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu Luận án.


QTRR
SDC
SOX
SXKD
TCT
TGĐ
TNHH MTV

Biên bản kiểm toán
Báo cáo kiểm toán
Báo cáo kiểm soát
Báo cáo tài chính
Ban kiểm soát
Ủy ban chống gian lận BCTC - Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ
Công ty cổ phần
Doanh nghiệp nhà nước
Hội đồng quản trị
Hội đồng thành viên
Hệ thống kiểm soát nội bộ
Liên đoàn Kế toán quốc tế
Viện Kiểm toán nội bộ
Kết quả kinh doanh
Kiểm soát chất lượng
Kiểm soát nội bộ
Kiểm soát viên nội bộ
Kiểm toán độc lập
Kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nhà nước
Kiểm toán viên nội bộ
Kế hoạch kiểm toán

hình quản trị tại TCT Sông Đà còn bộc lộ một số điểm chưa bắt kịp với sự phát
triển của kinh tế thị trường; một số dự án do TCT làm chủ đầu tư chưa phát huy
được hiệu quả; hoạt động kiểm tra, kiểm soát tại Công ty mẹ và Công ty con còn
hạn chế.
Hiện tại, TCT đang trong quá trình triển khai thực hiện đề án tái cơ cấu với
mục tiêu: Xây dựng một Tổng công ty có cơ cấu hợp lý, tập trung vào ngành
nghề kinh doanh chính với quy trình quản lý, quản trị công ty theo thông lệ tốt
nhất; nâng cao sức cạnh tranh, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của Tổng
công ty. Để thực hiện được các mục tiêu đó một trong những giải pháp TCT
Sông Đà cần phải thực hiện đó là hoàn thiện bộ máy quản lý, thiết lập một hệ
thống KSNB hoạt động hiệu quả, phát huy tối đa hiệu quả trong việc huy động
và sử dụng tối ưu các nguồn lực. Hệ thống KSNB chỉ phát huy được hiệu quả
khi được thiết kế phù hợp với những đặc thù của doanh nghiệp và phải được
đánh giá thường xuyên nhằm phát hiện những điểm yếu để khắc phục. Vì vậy,
trong cơ cấu tổ chức của TCT Sông Đà cần phải có một bộ phận thực hiện chức
năng đánh giá hiệu quả hệ thống KSNB và đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu
lực của tất cả các hoạt động nhằm đưa ra ý kiến tư vấn cho các cấp lãnh đạo
trong quá trình ra quyết định. Bộ phận đảm nhận trách nhiệm này chính là
KTNB.
Có thể thấy sự cần thiết phải hoàn thiện tổ chức KTNB tại TCT Sông Đà
theo hai khía cạnh cơ bản như sau:
a. Sự cần thiết khách quan phải hoàn thiện tổ chức KTNB tại Tổng công ty
Sông Đà
Quá trình hội nhập kinh tế thế giới cùng với sự phát triển mạnh mẽ của
nhiều thành phần kinh tế đã đặt các doanh nghiệp vào môi trường cạnh tranh
khốc liệt. Để giữ vững được sức cạnh tranh thì các doanh nghiệp cần phải duy trì
hệ thống KSNB tốt nhằm phòng ngừa rủi ro đồng thời phát huy tối đa hiệu quả


6

luôn tồn tại những hạn chế vốn có của nó và phát sinh thêm yếu điểm trong quá
trình vận hành. KTNB là một yếu tố cấu thành HTKSNB nhưng giữ chức năng
kiểm soát của kiểm soát, tức là chức năng đánh giá, phát hiện và khắc phục
những tồn tại, hạn chế của HTKSNB; duy trì một HTKSNB đủ mạnh để giảm
thiểu những gian lận, sai sót trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Vì vậy,
việc hoàn thiện KTNB không chỉ giúp SDC hoàn thiện HTKSNB của mình mà
còn đảm bảo sự phát triển bền vững theo cả ba khía cạnh như đã nêu trên.
Thứ ba, xuất phát từ nhiệm vụ tái cơ cấu quản trị doanh nghiệp theo hướng
hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế
Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt “Đề án tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà


7

nước giai đoạn 2011-2015” đã đưa ra nhiệm vụ tái cơ cấu quản trị doanh nghiệp:
Áp dụng các nguyên tắc quản trị theo thông lệ quản trị doanh nghiệp quốc
tế; hoàn thiện cơ chế kiểm soát, kiểm toán nội bộ, chú trọng kiểm soát rủi ro tài
chính để kịp thời có biện pháp phòng ngừa, hạn chế, khắc phục và điều chỉnh kế
hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp; tăng cường năng lực, quyền hạn của ban
kiểm soát, kiểm soát viên và kiểm toán nội bộ;
Quyết định số 50/QĐ-BXD ngày 151/2/103 của Bộ Xây dựng về phê duyệt
Đề án “Tái cấu trúc Tổng công ty Sông Đà giai đoạn 2012-2015, tầm nhìn đến
2020” đã nêu rõ nhiệm vụ tái cấu trúc quản trị doanh nghiệp tập trung vào nội
dung: Áp dụng nguyên tắc quản trị doanh nghiệp theo thông lệ quốc tế hiện đại;
tăng cường công tác kiểm soát nội bộ; quản trị sự thay đổi; quản trị rủi ro, tài
chính, nhân sự, chiến lược, thương hiệu...”
Như vậy, việc tái cơ cấu quản trị doanh nghiệp là một trong những nội dung
bắt buộc TCT phải thực hiện trong quá trình tái cơ cấu. Một trong những thông
lệ tốt trong quản trị doanh nghiệp tại các quốc gia thuộc OECD đó là thành lập

Năm
2012
38.134
17.938
1.969
1.605

2013
39.080
17.783
2,668
2.417

2014
38.244
16.682
1.970
1.664


8

STT
5
6
7
8
9
10
11


1.845
0,71
0,11
0,09
95

2.235
0,77
0,15
0,14
95

2.100
0,78
0,14
0,12
156

VLĐ ròng
Nguồn VCSH

(Nguồn: Tác giả tính toán, tổng hợp từ BCTC hợp nhất đã kiểm toán của
TCT Sông Đà)
Có thể thấy, Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu đã vượt ngưỡng an toàn (là 3
theo quy định của Bộ Tài chính); tiền và các khoản tương đương tiền, tiền và
các khoản đầu tư tài chính không bù đắp được nợ ngắn hạn; khả năng thanh
toán rất thấp, tình trạng mất cân đối dòng tiền trả nợ diễn ra trong nhiều năm
và đặc biệt TCT Sông Đà đang mất cân bằng tài chính nghiêm trọng khi vốn
lưu động ròng âm 3.849 tỷ đồng, tiềm ẩn nguy cơ phá sản. Lợi nhuận, tỷ suất

rất nhiều rủi ro.
Theo kế hoạch SXKD giai đoạn 2016-2020 của TCT Sông Đà thì ngành,
nghề sản xuất kinh doanh chính là: (1) Tổng thầu xây dựng và tổng thầu EPC;
(2) Đầu tư, sản xuất và kinh doanh điện; (3) Phát triển nhà ở và đô thị. Với ba
lĩnh vực này rủi ro có thể đến từ rất nhiều yếu tố như: chính trị, pháp luật, vốn,
nhân sự, tiến độ, trượt giá, thiên tai... mà mỗi yếu tố đều ảnh hưởng rất lớn đến
kết quả SXKD của TCT.
Hiện tại, Công ty mẹ và các đơn vị thành viên đã thành lập Phòng/Ban
QTRR tuy nhiên, theo nguyên tắc Ba vòng bảo vệ trong doanh nghiệp thì bộ
phận này vẫn đang ở cấp độ bảo vệ thứ hai: giám sát rủi ro, vẫn cần triển khai
cấp bảo vệ thứ ba: Bảo đảm độc lập. Với chức năng đưa ra những đánh giá độc
lập đối với tất cả các hoạt động của doanh nghiệp, KTNB sẽ đánh giá tính hiệu
quả, nhất quán của mô hình QTRR và hệ thống KSNB, quản trị doanh nghiệp
một cách độc lập.
Thứ ba, Tăng cường độ tin cậy của thông tin đối với các nhà đầu tư, cổ
đông trong và sau quá trình cổ phần hoá
Theo kế hoạch, TCT Sông Đà sẽ tiến hành cổ phần hoá trong năm 2016,
tuy nhiên với thực trạng tài chính như đã trình bày ở trên, nếu TCT không có các
biện pháp cải thiện hoặc nâng cao lòng tin của nhà đầu tư đối với các thông tin
tài chính thì nhiều khả năng quá trình IPO của TCT sẽ khó đạt được kết quả
mong muốn. Các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy: doanh nghiệp có bộ phận
KTNB thường cung cấp thông tin, BCTC đúng hạn và có mức độ minh bạch,
chính xác cao, khả năng gian lận thấp và trên hết là hoạt động SXKD đạt hiệu
quả cao hơn so với các doanh nghiệp không có phòng KTNB. Vì vậy, việc tổ
chức bộ phận KTNB hoạt động có hiệu quả không những sẽ mang lại lợi ích cao
cho TCT Sông Đà trong bối cảnh tình hình tài chính gặp nhiều khó khăn mà còn
giúp TCT tìm kiếm được nhiều nhà đầu tư chiến lược có thể hỗ trợ về vốn, về
kinh nghiệm và hoàn thành mục tiêu IPO đã được nhà nước giao.
Trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt với sự xuất hiện ngày càng
nhiều các Tập đoàn xây dựng lớn trong và ngoài nước thì việc tăng cường kiểm

Ngoài ra, có thể kể đến các nghiên cứu tương tự như: Tác giả Ann Neale
(1991) về "Hệ thống kiểm toán: Lý thuyết và thực hành"; Tác giả John A. Edds
(1980) về "Kiểm toán quản trị: Khái niệm và thực hiện"; Tác giả J.C. Shaw
(1980) về "Kiểm toán nội bộ - Một yếu tố cần thiết cho hoạt động quản lý hiệu
quả"; Tác giả Lawrence B. Sawyer, Mortimer Dittenhofe, James H. Scheiner
(2003) về "Thực hành kiểm toán nội bộ hiện đại"; Tác giả Robert Moeller
(2005) về "Kiểm toán nội bộ hiện đại theo quan điểm của Brink"... Về cơ bản,
những nghiên cứu này chưa đưa đề cập đến các mô hình tổ chức bộ máy KTNB,
xác định vị trí có thể có của KTNB trong cấu trúc doanh nghiệp từ đó đánh giá
ưu nhược điểm, tính độc lập, khách quan trong hoạt động tương ứng với từng
mô hình và chưa có phương án xác định số lượng nhân sự KTNB.
Tuy nhiên, cũng đã có một số nghiên cứu nêu tương đối đầy đủ về vấn đề
tổ chức bộ máy KTNB như: Sách chuyên khảo: “Kiểm toán nội bộ” (tác giả
Thịnh Văn Vinh và Phạm Tiến Hưng, NXB Tài chính, 2012); Luận án tiến sĩ kinh
tế của các tác giả: Phan Trung Kiên (2008) với đề tài “Hoàn thiện tổ chức KTNB
trong các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam”, Nguyễn Thị Hồng Thuý (2010) với
đề tài “Tổ chức KTNB trong các Tập đoàn kinh tế Việt Nam”, Lê Thị Thu Hà
(2011) với đề tài “Tổ chức KTNB tại các công ty tài chính”; Vũ Thuý Hà (2017)
với đề tài “Hoàn thiện KTNB tại các TCT thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam”… xét theo khía cạnh tổ chức bộ máy KTNB, nội dung các


11

công trình nghiên cứu trên đã tập trung vào các nội dung:
- Nghiên cứu khái quát, hệ thống hoá và phát triển lý luận về KTNB, xác
định rõ nội dung cơ bản của tổ chức KTNB trong doanh nghiệp gồm tổ chức bộ
máy và tổ chức hoạt động, đưa ra một số điểm mới về vai trò, chức năng, nhiệm
vụ của KTNB trong đó chú trọng đến việc nâng cao hiệu quả công tác quản trị rủi
ro, hướng KTNB đến kiểm toán hoạt động, kiểm toán liên kết (luận án của tác giả
Phan Trung Kiên);

hướng dẫn cụ thể trong quá trình thực hiện kiểm toán đối với từng lĩnh vực hoạt
động mà KTNB quan tâm (sản xuất, kinh doanh, hành chính sự nghiệp) như:


12

kiểm toán quá trình mua hàng - vận chuyển - nhận hàng - lưu kho và phế liệu;
hoạt động sản xuất - bảo dưỡng; kiểm soát chất lượng - kỹ thuật… Ngoài ra, cuốn
sách còn đề cập đến KTNB trong các cơ quan chính phủ và các tổ chức phi lợi
nhuận. Mặc dù tác phẩm đã khẳng định tầm quan trọng của KTNB trong việc hỗ
trợ công tác quản lý, tuy nhiên cũng mới chỉ tập trung vào khía cạnh tài chính.
Cuốn sách “Sổ tay Kiểm toán nội bộ” của tác giả Martin Grimwood (bản
dịch của Đặng Kim Cương - NXB Giao thông vận tải - 2007) đã đưa ra hướng
dẫn xác định chỉ số rủi ro: “Kiểm toán viên phải kết hợp các thành tố với trọng số
của chúng trong một công thức có thể sử dụng để tính toán chỉ số rủi ro. Trong
việc chọn trọng số, KTV phải tránh đưa xu hướng không công bằng vào công
thức. Một ví dụ về công thức có thể sử dụng là:
Chỉ số rủi ro = Aa + Bb + Cc + Dd + Ee + Ff
A-F: là những thành tố
a-f: là trọng số”.
Luận án tiến sĩ kinh tế của các tác giả: Phan Trung Kiên (2008) với đề tài
“Hoàn thiện tổ chức KTNB trong các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam”, Nguyễn
Thị Hồng Thuý (2010) với đề tài “Tổ chức KTNB trong các Tập đoàn kinh tế Việt
Nam”, Vũ Thuỳ Linh (2014) với đề tài “Hoàn thiện quá trình và tổ chức bộ máy
KTNB trong các ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam”: Mặc dù các tác giả
đã hướng KTNB tiếp cận trên cơ sở phân tích rủi ro tuy nhiên trong nội dung
nghiên cứu vẫn mang nhiều đặc điểm của phương pháp tiếp cận hệ thống, chú
trọng vào kiểm toán tài chính và chưa đưa ra mô hình đánh giá, phân tích, xếp
loại rủi ro.
Và nhiều công trình nghiên cứu khác tập trung vào các khía cạnh khác nhau

dụng trong thực tế đối với các tổ chức, doanh nghiệp;
- Xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của KTNB với
các bộ phận khác. Đặt ra những yêu cầu cơ bản về tính độc lập khách quan trong
việc thực hiện nhiệm vụ của KTNB.
- Đưa ra những yêu cầu cơ bản về yêu cầu đối với các KTVNB như: trình
độ, kỹ năng, kinh nghiệm và nguồn bổ sung nhân sự cho bộ phận KTNB.
* Về tổ chức hoạt động KTNB
Các nghiên cứu đã đạt được những kết quả cụ thể như sau:
- Đã nghiên cứu và đề xuất phương pháp tiếp cận KTNB trên cơ sở phân
tích rủi ro áp dụng đối với toàn bộ quy trình kiểm toán; định hướng phát triển
loại hình kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ;
- Xác định cụ thể quy trình kiểm toán gồm các bước: Chuẩn bị kiểm toán,
thực hiện kiểm toán, lập biên bản kiểm toán và kiểm tra thực hiện kiến nghị
kiểm toán;
- Bước đầu đã có những hướng dẫn đánh giá, phân tích và xếp loại rủi ro
làm cơ sở lập KHKT năm, đánh giá rủi ro khi thiết kế và thực hiện các thủ tục
kiểm toán;
- Đặt ra yêu cầu đối với việc kiểm soát chất lượng kiểm toán trong tất cả
các giai đoạn thực hiện kiểm toán: trong đó nêu rõ trách nhiệm của người đứng
đầu, trách nhiệm của các bộ phận có liên quan đến việc kiểm soát chất lượng
kiểm toán.
2.3.2. Xác định khoảng trống nghiên cứu
Ngoài các kết quả như đã nêu trên, các công trình nghiên cứu vẫn còn một
số vấn đề chưa được nghiên cứu, bao gồm:
Nghiên cứu về tổ chức KTNB trong TCT Sông Đà, là doanh nghiệp có mô
hình tổ chức nhiều cấp (bao gồm các công ty cấp I, II, III), hoạt động trong lĩnh
vực tiềm ẩn nhiều rủi ro và kết quả nghiên cứu hướng đến tính ứng dụng thực


14

cứu, kế thừa, phát triển những mặt đã làm được cả về lý luận và thực tiễn của
các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, luận án tập trung
nghiên cứu, phát triển một số vấn đề như sau:
Nghiên cứu, phân tích, lựa chọn mô hình tổ chức KTNB tối ưu, phù hợp
với đặc thù sở hữu vốn của các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp có vốn
nhà nước chi phối nói riêng tại Việt Nam và thực tế tại TCT Sông Đà. Nghiên
cứu, đề xuất một số nội dung liên quan đến công tác tuyển dụng, bổ nhiệm cũng
như mối quan hệ của KTNB với các bộ phận khác nhằm tăng cường tính độc
lập, khách quan của bộ phận này;


15

Nghiên cứu phương pháp xác định định biên lao động, xây dựng mô hình
tính định biên lao động áp dụng cho bộ phận KTNB tại TCT Sông Đà;
Định hướng xây dựng và xây dựng mẫu bảng mô tả công việc, tiêu chuẩn
chức danh của một số KTVNB;
Nghiên cứu, xây dựng mô hình đánh giá, phân tích, xếp loại rủi ro hướng
đến hai nhóm hoạt động chính: (1) Đánh giá rủi ro trong quá trình lập KHKT
năm nhằm lựa chọn chủ đề, đơn vị, nhóm hoạt động được kiểm toán; (2) Đánh
giá rủi ro trong quá trình lập KHKT chi tiết nhằm lựa chọn cụ thể hoạt động
được kiểm toán đồng thời thiết kế chương trình kiểm toán, xây dựng tiêu chí
đánh giá kiểm toán hoạt động;
Nghiên cứu, đề xuất định hướng xây dựng Sổ tay KTNB; xây dựng hệ
thống hồ sơ, mẫu biểu áp dụng cho các cuộc KTNB;
Nghiên cứu lý thuyết, đề xuất phương án hoàn thiện tổ chức kiểm soát chất
lượng kiểm toán từ khâu lập kế hoạch đến khâu kiểm tra thực hiện kiến nghị
kiểm toán.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu tổng quát

- Đề tài nghiên cứu các lý luận cơ bản về KTNB và tổ chức KTNB trong
doanh nghiệp. Trong phạm vi luận án này, thuật ngữ “Tổ chức” được hiểu là bao
gồm hai nội dung: tổ chức bộ máy và tổ chức hoạt động.
- Đối tượng nghiên cứu cụ thể tại Công ty mẹ - TCT Sông Đà và các đơn vị
thành viên:
+ Tại Công ty mẹ: Nghiên cứu, đánh giá tổ chức bộ máy và tổ chức hoạt động
của Ban KSNB, các hoạt động thanh kiểm tra của các ban chuyên môn;
+ Tại các Công ty con: (1) Đối với đơn vị đã thành lập bộ phận KTNB:
Nghiên cứu, đánh giá tổ chức bộ máy và tổ chức hoạt động KTNB; (2) Đối với các
đơn vị chưa thành lập bộ phận KTNB: Nghiên cứu, đánh giá tổ chức bộ máy và tổ
chức hoạt động của Ban KSNB, các hoạt động thanh kiểm tra của các bộ phận
chuyên trách hoặc kiêm nhiệm.
- Nghiên cứu kết quả, kinh nghiệm về tổ chức KTNB theo thông lệ quốc tế và
một số tập đoàn lớn trên thế giới.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài đi sâu nghiên cứu tổ chức bộ máy và quy trình
KTNB và tại Công ty mẹ và các công ty con của TCT Sông Đà; nhận diện, đánh
giá thực trạng tổ chức, hoạt động thực hiện chức năng KTNB (KSNB, thanh,
kiểm tra) trong TCT Sông Đà, thông qua khảo sát thực tế tại Công ty mẹ và 14
Công ty con theo Đề án tái cơ cấu đã được Bộ Xây dựng phê duyệt tại Quyết
định số 50/QĐ-BXD ngày 15/1/2013. Đối với việc thực hiện quy trình KTNB,
KSNB, thanh, kiểm tra: luận án chỉ đánh giá việc xây dựng, ban hành và tình
hình thực hiện quy trình mà không đề cập đến những phát hiện, đánh giá, nhận
xét, kết luận, kiến nghị của các cuộc KTNB, KSNB, thanh kiểm tra.
- Về thời gian: Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu khảo sát thực trạng tổ
chức KTNB, KSNB, thanh kiểm tra của các đơn vị nêu trên trong giai đoạn
2012 - 2015, có cập nhật tình hình cổ phần hoá đến hết 31/12/2018 và các nội
dung liên quan đến Nghị định số 05/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính
phủ về Kiểm toán nội bộ.
5. Phương pháp nghiên cứu

theo khía cạnh tổ chức bộ máy và tổ chức hoạt động.
Tại công ty mẹ: Câu hỏi phỏng vấn được thiết kế hướng đến nội dung
thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát, đánh giá và tư vấn của các Ban để
có cơ sở nhận diện, đánh giá các hoạt động mang tính chất KTNB. Chi tiết
bảng câu hỏi điều tra tại Công ty mẹ và bảng tổng hợp được trình bày tại Phụ
lục số 02.
Tại công ty con: Với các câu hỏi điều tra về nội dung tổ chức bộ máy và tổ
chức hoạt động KTNB. Bảng khảo sát được gửi trực tiếp tới những người giữ
chức vụ quan trọng trong các đơn vị như Thành viên HĐQT/HĐTV, Phó TGĐ,
Kế toán trưởng, Trưởng Ban kiểm soát/Kiểm soát viên đến các chuyên viên tác
nghiệp trong doanh nghiệp như chuyên viên kế toán - tài chính, quản trị rủi ro,
tổ chức - hành chính, kinh tế - kế hoạch, dự án. Nội dung câu hỏi khảo sát được
chia thành 2 phần:
Phần 1: Thông tin chung về hoạt động của doanh nghiệp và đối tượng khảo sát.


18

Phần 2: Câu hỏi khảo sát chia làm 05 nhóm chính:
- Nhóm câu hỏi về KTNB (áp dụng đối với các đơn vị đã thành lập bộ phận
KTNB): các câu hỏi được chia thành Tổ chức bộ máy KTNB (15 câu) và Tổ
chức hoạt động KTNB (40 câu);
- Nhóm câu hỏi về KSNB (áp dụng đối với các đơn vị chưa thành lập bộ
phận KTNB nhưng đã có Ban KSNB): các câu hỏi được chia thành Tổ chức bộ
máy KSNB (16 câu) và Tổ chức hoạt động KSNB (41 câu);
- Nhóm câu hỏi về bộ phận thanh, kiểm tra chuyên trách (áp dụng đối với
các đơn vị chưa thành lập bộ phận KTNB, KSNB nhưng đã thành lập bộ phận
thanh, kiểm tra chuyên trách): các câu hỏi được chia thành Tổ chức bộ máy
thanh, kiểm tra (17 câu) và Tổ chức hoạt động thanh, kiểm tra (42 câu);
- Nhóm câu hỏi về hoạt động thanh, kiểm tra (10 câu, áp dụng đối với các

được thiết kế sẵn, tác giả đã sử dụng phần mềm Excel để tổng hợp số liệu. Trên
cơ sở nhận diện, phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức KTNB tại Công ty mẹ
TCT Sông Đà và các công ty thành viên, tác giả sử dụng phương pháp chuyên
gia, tổng hợp và phân tích, tư duy độc lập trong việc vận dụng các quan điểm,
định hướng chiến lược phát triển của TCT Sông Đà, tiếp cận các kết quả nghiên
cứu của các tác giả trong và ngoài nước, vận dụng các kiến thức có được trong
công tác kiểm toán tại Kiểm toán nhà nước cũng như trong quá trình khảo sát
thực tế các Tập đoàn kinh tế trong và ngoài nước để đề xuất các giải pháp nhằm
hoàn thiện tổ chức KTNB trong TCT Sông Đà.
6. Những đóng góp mới của luận án
Những đóng góp của Luận án thể hiện ở cả hai mặt lý luận và thực tiễn:
6.1. Về lý luận
Luận án đã cụ thể hóa để làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về KTNB trong
doanh nghiệp. Phân tích các quan điểm khác nhau về KTNB, từ đưa ra các ưu,
nhược điểm của từng mô hình tổ chức KTNB khác nhau; vai trò, chức năng,
nhiệm vụ của KTNB.
Luận án đã phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến việc thiết kế và vận
hành KTNB trong các doanh nghiệp bao gồm: hành lang pháp lý, sự phát triển
của hội nghề nghiệp; quan điểm của nhà quản trị; đặc điểm tổ chức, hoạt động
(địa vị pháp lý, cơ cấu tổ chức, quy mô và phạm vi hoạt động, ngành nghề lĩnh
vực kinh doanh, chế độ sở hữu).
Luận án đã đi sâu nghiên cứu tổ chức KTNB theo thông lệ quản trị quốc tế
và cụ thể tại hai tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới là General Motor và Poste
Italiane. Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nói chung và
TCT Sông Đà nói riêng.
6.2. Về thực tiễn
Luận án đã khảo sát, nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động
KTNB và các hoạt động thực hiện chức năng KTNB tại TCT Sông Đà. Kết quả
đánh giá chỉ ra những mặt đạt được, đặc biệt là những tồn tại và nguyên nhân
của những tồn tại, từ đó đề xuất phương án hoàn thiện tổ chức KTNB tại TCT

lý tạo điều kiện cho sự phát triển của KTNB trong doanh nghiệp nói chung và
KTNB tại TCT Sông Đà nói riêng.
Kết quả nghiên cứu này rất hữu ích đối với:
- TCT Sông Đà: với giải pháp hoàn thiện tổ chức KTNB tại Công ty mẹ và
các đơn vị thành viên.
- Đối với Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước: hoàn thiện hệ thống
các văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động KTNB tại các doanh nghiệp nói chung
và doanh nghiệp nhà nước nói riêng.
7. Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các công trình của tác giả đã công bố liên
quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của
luận án được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về tổ chức kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng tổ chức kiểm toán nội bộ trong Tổng công ty Sông Đà
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm toán nội bộ trong Tổng công
ty Sông Đà.


21

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG
DOANH NGHIỆP
1.1. Khái quát về KTNB.
1.1.1. Sự hình thành và phát triển lý thuyết KTNB.
a. Giai đoạn sơ khai của KTNB
Theo các tài liệu nghiên cứu về kiểm toán thì từ thời Ai Cập, La Mã và Hy
Lạp cổ đại đã có những hoạt động KTNB đơn giản; tại Trung Quốc, các nhà
nghiên cứu cũng cho rằng KTNB sơ khai đã hình thành từ hàng nghìn năm trước
Công nguyên. Lúc này, hoạt động kiểm tra được các vị Vua giao cho một cận

22

được thực hiện ở các công ty con, các chi nhánh đặt trên toàn thế giới. Bộ phận
thực hiện công việc kiểm tra, giám sát đó chính là bộ phận KTNB và các cá nhân
thuộc bộ phận đó là các KTVNB.
Trong giai đoạn này, cuộc đại suy thoái kinh tế 1929-1933 đã làm hoạt
động sản xuất kinh doanh trên toàn cầu bị ảnh hưởng nghiêm trọng, việc phục
hồi sản xuất sau khủng hoảng cũng đặt ra yêu cầu cho các nhà quản lý như: kiểm
tra, giám sát, đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả của các hoạt động, tối ưu hóa việc
sử dụng các nguồn lực… Một trong những phương án được các nhà quản lý lựa
chọn là tăng cường các hoạt động nội kiểm, tuy nhiên đây chỉ là hoạt động tự
phát bên trong các doanh nghiệp mà chưa có cơ sở lý luận, các quy tắc nghề
nghiệp chưa được ban hành cũng như chưa có một hiệp hội nghề nghiệp.
Năm 1941, sự ra đời của IIA và cuốn sách: “KTNB hiện đại” đã đánh dấu
KTNB đã chính thức có hệ thống cơ sở lý luận đầu tiên và được công nhận như
một nghề nghiệp.
Giai đoạn này, hoạt động KTNB được chi phối bởi các nguyên tắc nghề
nghiệp do IIA soạn thảo và công bố năm 1941. Sự mở rộng phạm vi hoạt động
của IIA thể hiện tính chuyên nghiệp ngày càng tăng của KTNB. Theo đó, năm
1952, Hiệp hội KTVNB ở Úc được thành lập tại Sydney. Để tiêu chuẩn hóa, vào
năm 1972 IIA bắt đầu thực hiện việc kiểm tra và cấp chứng chỉ KTVNB (CIA).
c. Giai đoạn KTNB phát triển mạnh mẽ
Tuy đã có lịch sử hình thành và hệ thống lý luận từ những năm 40 của thế kỷ
20, nhưng KTNB chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ từ sau các vụ gian lận tài chính
ở các công ty lớn tại Mỹ (Công ty Worldcom và Enron) vào những năm 2000 2001 và sự sụp đổ của Tập đoàn bách hoá Hà Lan Royal Ahold vào năm 2003.
Đạo Luật Sarbanes - Oxley ra đời tại Mỹ ngày 30/7/2002 được coi là cải
cách quan trọng nhất trong luật pháp về chứng khoán Mỹ kể từ sau chương trình
kinh tế New Deal do Tổng thống Franklin D. Roosevelt khởi xướng những năm
1930 với quy định: các Công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ phải
báo cáo về hiệu quả của hệ thống KSNB trong công ty. Theo đó, KTNB đã được

động KTNB. Đến tháng 6 năm 1978, Chuẩn mực thực hành kiểm toán chuyên
nghiệp cho KTNB (Standards for professional practice of internal auditing) mới
được IIA ban hành, chuẩn mực này đưa ra định nghĩa về KTNB: “KTNB là một
chức năng thẩm định độc lập được thiết lập bên trong một tổ chức để kiểm tra
và đánh giá các hoạt động của tổ chức đó, với tư cách là một sự trợ giúp đối với
tổ chức đó. Đó là một loại hình kiểm soát được thực hiện bằng cách kiểm tra và
đánh giá sự đầy đủ và tính hiệu lực của các loại hình kiểm soát khác. Mục tiêu
của KTNB là giúp đỡ cho các thành viên của tổ chức thực hiện một cách có hiệu
quả nhiệm vụ; để đạt được mục tiêu này, KTNB cung cấp cho các thành viên
của tổ chức các phân tích, thẩm định, kiến nghị, tư vấn và các thông tin liên
quan tới các hoạt động đang được xem xét, mục tiêu kiểm toán bao gồm việc đề
xuất khung kiểm soát hiệu quả ở mức chi phí hợp lý” [58, tr6]. Từ định nghĩa
này có thể đưa ra 04 điểm chủ yếu: Thứ nhất, KTNB là quá trình đánh giá một
cách có hệ thống và khách quan các hoạt động và các thủ tục kiểm soát trong tổ
chức; Thứ hai, hoạt động của KTNB là độc lập; Thứ ba, hoạt động của KTNB là
hoạt động phục vụ cho tổ chức với mục tiêu giúp đỡ các thành viên của tổ chức
hoàn thành nhiệm vụ hiệu quả; Thứ tư, đề xuất các thủ tục kiểm soát hiệu quả ở
mức chi phí hợp lý.
Như vậy, có thể thấy rằng IIA đã đưa ra một khái niệm khá đầy đủ về chức
năng, nhiệm vụ của KTNB, phù hợp với sự phát triển của KTNB tại thời điểm
đó. Theo đó, KTNB không chỉ đơn thuần là việc kiểm tra độ tin cậy của các
thông tin tài chính và hỗ trợ cho các KTV bên ngoài mà đã trở thành một công


24

cụ của các nhà quản lý. Bên cạnh đó, định nghĩa của IIA đã phần nào chỉ ra ba
chức năng cơ bản của KTNB đó là: kiểm tra, đánh giá và đề xuất.
Theo Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) thì: “KTNB là một hoạt động đánh
giá được lập ra trong doanh nghiệp như là một dịch vụ cho doanh nghiệp đó, có

đánh giá và điều chỉnh chiến lược kinh doanh sao cho có hiệu quả nhất. KTNB
cũng là công cụ để phân tích, đánh giá chất lượng của hệ thống kế toán và hệ
thống KSNB” [4, tr13]. Quan điểm này có thể xét trên các khía cạnh: Thứ nhất,
KTNB hoạt động với chức năng kiểm soát, đánh giá và tư vấn. Như vậy, nếu
KTVNB chỉ có năng lực chuyên môn về kiểm toán là chưa đủ mà phải am hiểu


25

sâu sắc về hoạt động được kiểm toán mới có thể đưa ra tư vấn cho khách thể
kiểm toán về tình hình hoạt động của doanh nghiệp và chiến lược kinh doanh;
Thứ hai, hoạt động của KTNB không nhất thiết phải do một bộ phận độc lập của
doanh nghiệp thực hiện, theo xu hướng hiện đại, hoạt động này có thể được thực
hiện bởi các chuyên gia bên ngoài; Thứ ba, đối tượng của KTNB là toàn bộ các
hoạt động trong doanh nghiệp từ hoạt động sản xuất kinh doanh, chiến lược kinh
doanh cho đến hệ thống kế toán và hệ thống KSNB.
Như vậy, mỗi tổ chức khác nhau đều có các khái niệm của riêng mình về
KTNB, các khái niệm trên có cách diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung đều chỉ
rõ những điểm sau:
Thứ nhất: KTNB là một loại hình kiểm toán được hình thành từ yêu cầu quản
lý và phục vụ cho yêu cầu này, do đó đối tượng phục vụ của KTNB có thể là Giám
đốc, HĐQT với các yêu cầu khác nhau. Về bản chất, KTNB cũng là một loại kiểm
soát trong số nhiều các hoạt động kiểm soát được nhà quản lý sử dụng với nhiệm
vụ đo lường, đánh giá các hoạt động của doanh nghiệp kể cả hệ thống KSNB.
Thứ hai: Chức năng của KTNB là kiểm tra, đánh giá và tư vấn. Chức năng
này được cụ thể hóa trong từng loại hình kiểm toán khác nhau, với từng tổ chức
khác nhau. Quá trình thực hiện chức năng của mình, đối tượng của KTNB có thể
là toàn bộ các hoạt động trong doanh nghiệp.
Thứ ba: KTNB là một hoạt động nội kiểm có tính độc lập trong một tổ
chức. Mặc dù là hoạt động nội kiểm nhưng ngày nay hoạt động này có thể được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status