PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, với những bước tiến nhảy vọt của cuộc
cách mạng khoa học - công nghệ, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống
vật chất và tinh thần của xã hội; kinh tế tri thức ngày càng đóng vai trò quan
trọng, thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất. Đó là những cơ hội và cũng là
những thách thức lớn cho mọi quốc gia. Trong bối cảnh đó, giáo dục được xem
là một trong những nhân tố quyết định tương lai của các dân tộc. Điều đó đòi
hỏi giáo dục phải phù hợp với thời đại. Hầu hết các nước trên thế giới đã và
đang tiến hành cải cách giáo dục, nhằm đáp ứng một cách năng động, hiệu quả
hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu phát triển đất nước.
Nghị quyết Số: 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 của Ban chấp hành Trung
ương Đảng chỉ rõ Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới
những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục
tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện;
đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản
trị của các cơ sở Giáo dục và Đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng,
xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học.
Chất lượng giáo dục là vấn đề quan trọng hàng đầu của hoạt động giáo dục.
Chất lượng giáo dục phản ánh mức độ thực hiện mục tiêu giáo dục, nội dung,
phương pháp giáo dục, quá trình tổ chức và thực hiện các hoạt động giáo dục.
Chất lượng giáo dục không tốt thì mục tiêu giáo dục không đạt được. Trong thời
gian gần đây, chất lượng giáo dục đã được sự quan tâm, chú ý của mọi người
trong xã hội. Giáo dục ngày càng phát triển cả qui mô, phương thức giáo dục và
mạng lưới các cơ sở giáo dục. Đối với công tác Giáo dục và Đào tạo thì đội ngũ
giáo viên chủ nhiệm lớp đóng một vai trò hết sức quan trọng. Chính vì vậy, xây
dựng và phát triển đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp là một trong những nhiệm
vụ cấp thiết của ngành giáo dục và của tất cả các nhà trường.
Ở trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS, người GVCNL có vai trò hết sức
giáo dục toàn diện cho học sinh. Chất lượng giáo dục là chất lượng của sản
phẩm của nhà trường và chất lượng sản phẩm này phải đáp ứng yêu cầu sử
dụng của xã hội trong từng thời kỳ.
Với những lý do trên, tôi chọn Sáng kiến kinh nghiệm "Biện pháp quản
lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng trường Phổ thông Dân
tộc Nội trú THCS ở tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay" để nghiên cứu.
2.Thời gian thực hiện và triển khai SKKN
Sáng kiến kinh nghiệm được thực hiện và triển khai từ tháng 1/2017 đến
tháng 3/2018.
PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận về công tác Giáo viên chủ nhiệm lớp và việc Quản lí công
tác Giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ
sở.
1.1. Những khái niệm cơ bản của SKKN.
a. Giáo dục và Giáo dục toàn diện
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền
đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có
giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá dân tộc của
nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không
ngừng tiến lên. Các nhà nghiên cứu giáo dục đã đưa ra nhiều định nghĩa về giáo
dục:
- Theo “Từ điển Giáo dục” (NXB Từ điển bách khoa): “Giáo dục là hoạt động
hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm
truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi
dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát
triển năng lực, phẩm chất, nhân cách, phù hợp với mục đích , mục tiêu chuẩn bị
cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội”
đặc điểm đặc thù của từng cấp học, bậc học”
“Thực hiện giáo dục toàn diện nhằm đào tạo những người lao động có lý
tưởng xã hội chủ nghĩa, có đạo đức, có tri thức văn hoá, có sức khỏe và có kỷ
luật. “Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh
sinh viên”. Giáo dục truyền thống cách mạng, văn hoá dân tộc xuyên suốt các
hoạt động và mọi hình thức giáo dục. Ở đây, việc chú trọng cải tiến nâng cao
chất lượng, hiệu quả giảng dạy và học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước phù hợp với từng bậc
học, cấp học là hết sức quan trọng, quan tâm đến việc tăng cường học ngoại
ngữ, tin học”
b. Quản lý, chức năng quản lý
Quản lý: Mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển
đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, bất luận tổ chức có mục đích gì, cơ
cấu và qui mô ra sao, đều cần đến hoạt động quản lý và có người quản lý để tổ
chức hoạt động và đạt được mục đích của mình. Vậy hoạt động quản lý là gì ?
- Theo Đại từ điển tiếng Việt, quản lý là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của
một đơn vị, một cơ quan: quản lý lao động, quản lý cán bộ, quản lý công việc’’
hoặc quản lý là: “Trông coi, giữ gìn, theo dõi việc gì: quản lý hồ sơ lý lịch, quản
lý vật tư.”
- Quản lý có thể xét theo ngữ nghĩa: Quản lý = Quản + Lý, quá
trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”, quá
trình “Lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp đổi mới hệ vào thế “phát triển”. Nếu
người đứng đầu tổ chức chỉ lo việc “Quản”, tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn
thì tổ chức dễ trì trệ, tuy nhiên, nếu chỉ quan tâm đến việc “Lý” tức là chỉ lo
việc sắp xếp tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định thì
sự phát triển của tổ chức không bền vững. Trong “Quản” phải có “Lý”,
trong “Lý” phải có “Quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động: Hệ vận
động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố
khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến các trường, các cơ sở
giáo dục khác,...) nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục xã hội chủ nghĩa cho
thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những qui luật chung của chủ nghĩa
xã hội, cũng như của các qui luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể
lực và tâm lý của trẻ em, thiếu niên và thanh niên.
- Đối với cấp vi mô: Trường học là một thiết chế xã hội trong đó có diễn ra quá
trình đào tạo, giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố: “Thầy –
Trò”. Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của Hệ
thống giáo dục quốc dân nó là đơn vị cơ sở.
Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ
chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác,
cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo
dục và đào tạo trong nhà trường.
Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi
trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục
để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế
hệ trẻ, với từng học sinh.
Tóm lại, quản lý trường học về bản chất là quản lý con người (tập thể cán bộ,
giáo viên và học sinh) và quản lý các nguồn lực cơ sở vật chất – thiết bị giáo
dục của nhà trường. Do đó, có thể hiểu quản lý trường học là những tác động tối
ưu của chủ thể quản lý (lãnh đạo trường học) đến giáo viên, học sinh và các cán
bộ khác nhằm tận dụng các nguồn lực hướng vào đẩy mạnh các hoạt động của
nhà trường. Tiêu điểm là thúc đẩy quá trình đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất
lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mong
muốn.
d. Vai trò quản lý của Hiệu trưởng
- Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường,
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận.
thể và cá nhân học sinh, làm tăng hiệu quả của công tác GVCNL.
b Nội dung và phương pháp công tác giáo viên chủ nhiệm lớp
Nắm vững học sinh một cách toàn diện là nắm vững đặc điểm tâm sinh
lý của mỗi học sinh, điều kiện hoàn cảnh gia đình của học sinh, những mối
quan hệ của cá nhân học sinh, nắm vững tính cách và những hành vi đạo đức,
trình độ, khả năng của học sinh, tìm hiểu những nhu cầu năng lực của học
sinh…Qua đó người GVCNL có thể dự báo xu hướng phát triển nhân cách của
từng học sinh trong lớp để có phương hướng tổ chức hoạt động giáo dục và
dạy học phù hợp với điều kiện và khả năng của từng học sinh.
- GVCNL cần thăm hỏi gia đình học sinh, tìm hiểu và trò chuyện với các
bậc phụ huynh để nắm được những điều kiện ảnh hưởng tới học sinh. Việc tìm
hiểu nắm vững hoàn cảnh sống nói chung của từng học sinh là hết sức quan
trọng. Nó giúp GVCNL biết được nguyên nhân và các yếu tố tích cực hoặc tiêu
cực, những thuận lợi hay khó khăn đang tác động đến học sinh. Đồng thời biết
được phương pháp giáo dục của gia đình (tốt hay chưa tốt) để có thể tham mưu,
tư vấn và phối hợp với gia đình lựa chọn phương pháp tác động phù hợp.
- Giáo viên chủ nhiệm lớp phối hợp với cha mẹ học sinh, Hội phụ huynh học
sinh trong việc giáo dục
Hội phụ huynh học sinh là một trong những lực lượng giáo dục có ảnh
hưởng lớn đến quá trình học tập và rèn luyện của học sinh. Việc phối hợp chặt
chẽ giữa nhà trường và gia đình là cần thiết và tạo ra những điều kiện thuận lợi
để học sinh học tập và rèn luyện.
Gia đình là môi trường giáo dục - lực lượng giáo dục đầu tiên, ảnh hưởng
một cách sâu sắc đến học sinh. Vì vậy giáo dục gia đình trở thành một bộ phận
quan trọng trong việc giáo dục học sinh. Giáo dục gia đình có những đặc trưng
riêng, nên nhà trường phải liên kết với gia đình để đảm bảo tính thống nhất toàn
vẹn của quá trình giáo dục, có như vậy thì giáo dục gia đình mới phát huy được
ảnh hưởng và cùng với nhà trường giáo dục học sinh có hiệu quả. Chính
- Tổ chức các hoạt động giáo dục lao động và hướng nghiệp: căn cứ vào
kế hoạch chung của nhà trường, dựa vào tình hình cụ thể của lớp, GVCNL cần
xây dựng kế hoạch lao động cụ thể để giáo dục học sinh. Cần tổ chức các hoạt
động này một cách hệ thống, vừa sức với học sinh để vừa có hiệu quả giáo dục
vừa có hiệu quả kinh tế. GVCNL giúp các em tìm hiểu về nhu cầu nghề nghiệp
của xã hội, của địa phương. Đối với học sinh lớp 12 cần hướng dẫn, giúp đỡ các
em lựa chọn được nghề thích hợp với khả năng của các em và yêu cầu của xã
hội.
- Tổ chức các hoạt động văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi giải
trí: GVCNL cần quan tâm cố vấn cho cán bộ lớp, cán bộ đoàn tổ chức cho cả
lớp vui chơi, giải trí, rèn luyện sức khoẻ như: các trò chơi, các hoạt động thể
thao, văn nghệ, tham quan du lịch, cắm trại, xem triển lãm, xem phim tập thể,
thi thanh lịch, thi tìm hiểu về văn hoá xã hội, tìm hiểu về truyền thống nhà
trường, địa phương, hoạt động giao lưu văn hoá giữa các trường. Qua các hoạt
động này giúp các em sảng khoái tinh thần, mở mang trí tuệ, phát triển thể chất,
tăng cường sức khoẻ, hình thành các phẩm chất nhân cách cơ bản như: lòng yêu
nước, yêu quê hương, tình cảm thầy trò, tinh thần tập thể, lòng nhân ái. Đồng
thời hình thành các phẩm chất cá nhân: trung thực, kỷ luật, khiêm tốn, tự trọng,
kiên trì, dũng cảm, lễ phép, lịch sự, tế nhị, biết tự kìm chế tạo điều kiện cho học
sinh giao tiếp, hình thành ý thức, năng lực hoà nhập vào cộng đồng xã hội sau
này.
c .Những yêu cầu đối với giáo viên chủ nhiệm lớp
GVCNL là người giáo viên bộ môn, được hiệu trưởng phân công phụ
trách quản lý một tập thể lớp về mọi mặt, do vậy người GVCNL trước hết phải
có phẩm chất của người giáo viên (nhà sư phạm): có phẩm chất đạo đức tốt, có
trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có khả năng và năng lực vững vàng, có sức
khoẻ tốt. GVCNL phải thực hiện các chức năng rất quan trọng là giáo dục học
sinh lớp mình, góp phần hình thành nhân cách của học sinh, thực hiện mục tiêu
tham gia đồng bộ, nhịp nhàng ăn khớp của các bộ phận trong trường trong đó có
đội ngũ GVCNL. Sự phát triển của nhà trường, chất lượng giáo dục và đào tạo
toàn diện của nhà trường phải kể đến sự đóng góp đáng kể của đội ngũ
GVCNL.
Đội ngũ GVCNL là lực lượng nòng cốt trong công tác giáo dục, là đội ngũ trợ
lý quan trọng, trực tiếp quản lý toàn diện các lớp học sinh; Báo cáo cho hiệu
trưởng những thông tin cần thiết về học sinh, về tập thể lớp, về các hoạt động
giáo dục theo định kỳ và đột xuất. Chính họ biết khai thác và phát huy sức mạnh
tổng hợp của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để thực hiện
mục tiêu giáo dục của nhà trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở.
a. Xác định mục tiêu và lập kế hoạch cho công tác giáo viên chủ nhiệm lớp
Trong nhà trường, đơn vị tổ chức cơ bản để giảng dạy và học tập là lớp học.
Để quản lý trực tiếp một lớp học nhà trường cử ra những giáo viên giỏi, nhiệt
tình để làm chủ nhiệm lớp. GVCNL là người thay mặt Hiệu trưởng quản lý
toàn diện một lớp học. GVCNL là nhân vật trung tâm, là linh hồn của lớp, tập
hợp, đoàn kết học sinh trong tập thể, có vai trò lớn trong tổ chức mọi hoạt
động của lớp, nhằm giáo dục học sinh. Họ chịu trách nhiệm trước nhà trường
về chất lượng giáo dục toàn diện học sinh của mình.
Sau khi xác định mục tiêu người Hiệu trưởng phải đưa ra các biện pháp
cải tiến công tác GVCNL.
- Tổ chức trao đổi kinh nghiệm về công tác GVCNL.
- Qui định mối liên hệ thường xuyên giữa Ban giám hiệu với GVCNL (họp giao
ban, định kỳ báo cáo,…)
- Đề ra được qui chế hoạt động cho tổ GVCNL và từng GVCNL. Hiệu
trưởng hướng dẫn GVCNL xây dựng nội dung công tác GVCNL, coi trọng hình
thức, nội dung sinh hoạt, hoạt động tự quản; xây dựng tập thể lớp, chi đoàn
vững mạnh toàn diện…Những nội dung thi đua thật cụ thể, chi tiết cho từng
hoạt động, cho từng thời kỳ, từng nội dung thi đua.
khắc phục. Hiệu trưởng cần coi trọng đúng mức việc tuyên dương, khen thưởng
đối với những lớp có thành tích, những cá nhân học sinh có tiến bộ, có nhiều
thành tích.
- Phải nhìn nhận, đánh giá công lao của các GVCNL một cách công bằng, khen
chê kịp thời.
- Kịp thời động viên, khuyến khích đội ngũ GVCNL khi họ đạt được kết
quả tốt trong công tác.
- Kịp thời uốn nắn những lệch lạc, sai sót trong công tác giúp họ vượt qua
những khó khăn gặp phải và tạo các điều kiện cần thiết để GVCNL hoàn thành
nhiệm vụ.
- Quan tâm, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần cho các hoạt động
thuộc công tác GVCNL. Tạo điều kiện để các đoàn thể hoạt động phát huy hết
tác dụng đối với nhà trường.
d. Kiểm tra công tác giáo viên chủ nhiệm lớp
Chất lượng văn hoá được thể hiện khá cụ thể, rõ ràng, song chất lượng
giáo dục đạo đức khó định lượng, khó đánh giá. Do vậy việc kiểm tra, đánh giá
công tác GVCNL của Hiệu trưởng sao cho khách quan, khoa học, có hiệu quả là
vấn đề cần được lưu ý, hiệu trưởng cần kiểm tra thường xuyên (đột xuất, định
kỳ), kiểm tra phải có đánh giá. Hiệu trưởng kiểm tra công tác GVCNL thông
qua hoạt động của các lớp, thông qua xếp loại thi đua hàng tuần, thông qua hồ
sơ, báo cáo hàng tháng, học kỳ…, cần lưu ý việc kiểm tra đánh giá học sinh của
GVCNL sao cho đảm bảo sự thống nhất chung trong toàn trường (tránh trường
hợp GVCNL quá dễ dãi hoặc quá khắt khe,…), hướng dẫn GVCNL đánh giá
hạnh kiểm học sinh sát với các tiêu chí chung.
2. Thực trạng về về công tác Giáo viên chủ nhiệm lớp và việc Quản lí công
tác Giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ
sở trên địa bàn tỉnh Yên Bái.
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, xã hội của tỉnh Yên Bái
hoạt động lao động, văn hoá, thể thao và tổ chức đời sống nội trú cho học sinh
phù hợp với tính chất đặc thù của trường như: sinh hoạt văn nghệ, thể dục thể
thao; các trò chơi dân gian, các hoạt động ngoại khóa theo chủ đề, chủ điểm
tháng... Chú trọng công tác giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng lao động thông qua
sinh hoạt tập thể, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Tổ chức nấu ăn 3
bữa/ngày cho học sinh, quản lý tốt học sinh ở nội trú 24/24 giờ; duy trì việc
thực hiện nội quy nền nếp theo quy định. Với những hoạt động đó, các trường
PTDTNT từng bước khẳng định vị trí là trung tâm chất lượng quan trọng trong
hệ thống giáo dục dân tộc của tỉnh, là nơi tạo nguồn nhân lực chất lượng cho
vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn.
Đến năm học 2017 - 2018, toàn tỉnh có 9 trường PTDTNT với 88 lớp, 2.981 học
sinh, trong đó có 7 trường trung học cơ sở, 64 lớp, 2.109 học sinh; học sinh
người dân tộc thiểu số cấp THCS, được học tại các trường phổ thông dân tộc
nội trú chiếm tỷ lệ 7,12%. Trong tổng số 7 trường PTDTNT THCS có 06 trường
đạt Chuẩn Quốc gia: Trường PTDTNT THCS huyện Yên Bình, Văn Chấn, Lục
Yên, Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Văn Yên. Trong các kỳ thi học sinh giỏi các
trường PTDTNT trong tỉnh đạt hàng trăm giải học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp huyện.
2.3. Thực trạng về công tác giáo viên chủ nhiệm lớp và việc quản lý công
tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên
địa bàn tỉnh Yên Bái.
Qua nghiên cứu thực trạng về công tác GVCNL và việc quản lý công tác
GVCNL ở các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh
Yên Bái. Chúng tôi thấy mặc dù có nhiều thuận lợi và ưu điểm nhưng cũng còn
nhiều khó khăn, bất cập:
a. Những thuận lợi và ưu điểm
- Khi nhận lớp, GVCNL đều tìm hiểu học sinh về mặt chất lượng học tập,
rèn luyện ở lớp dưới, hoàn cảnh gia đình, nhu cầu, khả năng, đặc điểm của từng
học sinh. Từ đó xây dựng kế hoạch công tác GVCNL và đưa vào sổ chủ nhiệm
chuyên môn đều căn cứ vào khả năng quản lý, chuyên môn của giáo viên, mỗi
trường đều thành lập tổ GVCNL do Hiệu trưởng hoặc Phó hiệu trưởng trực tiếp
quản lý có nghị quyết và kế hoạch hoạt động riêng cho tổ GVCNL.
- Kết quả công tác GVCNL là một trong những nội dung chính được dùng
để đánh giá, xếp loại thi đua của giáo viên trong năm học và trong công tác
kiểm tra, thanh tra của các cấp quản lý giáo dục.
b. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết
- Ở các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Yên
Bái, ngoài việc học tập, trau dồi và chiếm lĩnh tri thức còn có các hoạt động
ngoài giờ, vui chơi, giải trí, ăn, ở, ngủ, nghỉ tại trường. Nhưng hiện nay vì nhiều
lý do khách quan (kinh phí, thời gian, công tác quản lý học sinh,…) nên việc tổ
chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp không được các nhà trường, GVCNL quan
tâm tổ chức thường xuyên.
- Mối quan hệ giữa GVCNL với học sinh trong lớp còn có những khoảng
cách nhất định, GVCNL chưa thực sự gần gũi, quan tâm đến tất cả các học sinh
trong lớp. Do điều kiện của tỉnh miền núi, gia đình học sinh ở xa trường, đường
xá đi lại khó khăn nên việc đến thăm gia đình học sinh của GVCNL còn hạn
chế, vì vậy sự phối kết hợp giữa GVCNL với gia đình học sinh chưa thường
xuyên. Thường thì GVCNL chỉ gặp cha( mẹ) học sinh thông qua các kỳ họp phụ
huynh đầu năm học, cuối kỳ một và kết thúc năm học, nhưng không phải gia
đình nào cũng đi họp đầy đủ, có những gia đình gần như phó mặc con cho nhà
trường, GVCNL...
- Một hạn chế cần nhắc đến là những hình thức xử phạt học sinh ở các
trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Yên Bái còn
nhiều bất cập. Như áp dụng những hình phạt quá khắt khe, xử phạt nặng những
khuyết điểm nhỏ của học sinh. Những hình phạt đó không những không đem lại
tác dụng tích cực, thúc đẩy học sinh tiến bộ, nhiều khi còn phản tác dụng giáo
dục, tạo nên ấn tượng không tốt trong ý thức học sinh và phụ huynh học sinh.
học sinh. Vậy làm thế nào để học sinh yêu trường, yêu lớp, kính trọng thầy cô,
yêu quý bạn bè, tích cực rèn luyện và học tập ? Đó là những câu hỏi đặt ra cần
được các nhà quản lý trường học : Ban giám hiệu và các GVCNL giải đáp.
3. Các biện pháp quản lí công tác Giáo viên chủ nhiệm lớp của Hiệu
trưởng các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh
Yên Bái trong giai đọan hiện nay
3.1. Lập kế hoạch công tác giáo viên chủ nhiệm lớp
Kế hoạch công tác GVCNL là cụ thể hoá mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung
giáo dục của một tập thể lớp. Kế hoạch công tác GVCNL là chương trình hoạt
động thực hiện vào từng giai đoạn cụ thể. Do đó Hiệu trưởng cần phải giúp đỡ
GVCNL nắm vững kế hoạch công tác của nhà trường cả năm, từng học kỳ, từng
tháng, đặc biệt là những định hướng về các mặt giáo dục, những chủ đề trong
năm học để GVCNL có căn cứ và làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch chủ
nhiệm của mình.
* Hiệu trưởng giúp đỡ GVCNL xây dựng kế hoạch công tác trong năm
học với những gợi ý công việc sau đây:
- Yêu cầu GVCNL lập kế hoạch công tác GVCNL theo mẫu đã được in
sẵn và sử dụng thống nhất trong nhà trường.
- Yêu cầu GVCNL lập kế hoạch công tác GVCNL theo mẫu đã được in sẵn và
sử dụng thống nhất trong nhà trường.
Yêu cầu GVCNL thực hiện điều tra cơ bản về học sinh của lớp ngay từ
tuần đầu của tháng 9. Thông qua việc hướng dẫn giáo viên sử dụng mẫu phiếu
điều tra, tổ chức bàn giao công tác GVCNL giữa giáo viên trước với lớp sau,
giáo viên cũ và giáo viên mới ( khi có sự thay đổi).
+ Điều tra hoàn cảnh gia đình của học sinh, truyền thống, phong tục địa
phương để có kế hoạch giáo dục học sinh.
+ Nắm bắt quá trình học tập, tu dưỡng đạo đức ở các năm trước.
+ Nắm vững tâm lý lứa tuổi học sinh trường Phổ thông Dân tộc nội trú