ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRẦN THỊ PHƢƠNG MAI QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP
Ở TRƢỜNG CAO ĐẲNG THƢƠNG MẠI VÀ DU LỊCH HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Lƣu Xuân Mới
4
8. Cấu trúc luận văn
4
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO
VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƢỜNG CAO ĐẲNG
5
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
5
1.2. Cơ sở lý luận về quản lý công tác GVCNL ở trường cao đẳng
6
1.2.1. Một số khái niệm có liên quan đến đề tài
6
1.2.2. Quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường Cao đẳng
12
Tiểu kết chương 1
33
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN
CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƢỜNG CAO ĐẲNG THƢƠNG MẠI VÀ
DU LỊCH HÀ NỘI 35
2.1. Đặc điểm, tình hình trường Cao đẳng TMDL Hà nội
35
2.1.1. Mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ
35
2.1.2. Tổ chức nhà trường
36
2.1.3. Qui mô đào tạo, chất lượng đào tạo
CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƢỜNG CAO
ĐẲNG 68
3.1. Một số nguyên tắc để đề xuất biện pháp quản lý công tác GVCNL
68
3.1.1. Đảm bảo tính khả thi
68
3.1.2. Bám sát và hướng đến việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu giáo dục
68
3.1.3. Đảm bảo tính đồng bộ trong việc thực hiện các biện pháp đề xuất
69
3.1.4 Đảm bảo tính pháp chế.
69
3.2. Một số biện pháp quản lý có hiệu quả đối với công tác GVCNL ở
trường cao đẳng
71
3.2.1. Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giảng viên về ý nghĩa,
tầm quan trọng của việc quản lý công tác GVCNL
71
3.2.2. Quản lý việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch của
GVCNL
74
3.2.3. Quản lý công tác tổ chức lớp học của GVCNL
76
3.2.4. Chỉ đạo và tiến hành kiểm tra, đánh giá công tác GVCN lớp
DANH MỤC SƠ DỒ, BẢNG BIỂU
STT
Tên sơ đồ, bảng biểu
Trang
Sơ đồ 1.1
Chu trình quản lý
9
TMDL Hà Nội
44
Bảng 2.7
Đánh giá về kỹ năng, kinh nghiệm làm công tác
GVCNL và kết quả giáo dục học sinh cá biệt của
GVCNL 45
Bảng 2.8
Đánh giá về nhận thức về nội dung công tác GVCNL
47
Bảng 2.9
Đánh giá về mối quan hệ giữa giáo viên chủ nhiệm lớp
với học sinh và gia đình học sinh
50
Bảng 2.10
Các biện pháp giáo dục của GVCNL qua nhận xét của
HS-SV
51
Bảng 2.11:
Cán bộ quản lý nhà trường đánh giá về việc chỉ đạo và
công tác GVCNL
59
Bảng 2.12
Cách thức lựa chọn, bố trí, phân công GVCNL
giáo dục. Chất lượng giáo dục không tốt thì mục tiêu giáo dục không đạt
được. Trong thời gian gần đây chất lượng giáo dục được sự quan tâm, chú ý
của mọi người trong xã hội. Giáo dục ngày càng phát triển cả qui mô, phương
thức giáo dục và mạng lưới các cơ sở giáo dục. Đối với công tác giáo dục và
đào tạo thì đội ngũ giáo viên đóng một vai trò quan trọng. Điều 15 luật Giáo
dục năm 2005 đã ghi: ”Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo
chất lượng giáo dục” [28]. Chính vì vậy, xây dựng và phát triển đội ngũ giáo
viên là một trong những nhiệm vụ cấp thiết của ngành giáo dục và của tất cả
các trường học.
Ở trường cao đẳng, người GVCNL có vai trò hết sức quan trọng vì lứa
tuổi học sinh cao đẳng từ 18-22 tuổi đang rất cần có sự giúp đỡ và định hướng 2
của người lớn. Với vốn kinh nghiệm sống ít ỏi của mình, các em sẽ khó tránh
khỏi những ảnh hưởng không lành mạnh, mặt trái của nền kinh tế thị trường
như ở nước ta hiện nay.
Trước hết người GVCNL là người thay mặt Hiệu trưởng làm công tác
quản lý và giáo dục học sinh, sinh viên của một lớp học, là người gần gũi,
thân mật, là người hướng dẫn, chỉ đạo, khuyên nhủ học sinh, sinh viên mỗi
khi các em gặp khó khăn, là người cố vấn tin cậy của Chi đoàn lớp.
GVCNL có trách nhiệm quản lý, điều hành mọi hoạt động của tập thể
lớp và tác động đến sự phát triển nhân cách của từng học sinh, sinh viên trong
tập thể đó, chịu trách nhiệm trước nhà trường vì chất lượng giáo dục của lớp mình.
Để tổ chức các hoạt động giáo dục đạt hiệu quả, người GVCNL cần
phải có một hệ thống các kỹ năng nhất định. Trong mỗi kỹ năng họ phải thực
hiện một chuỗi các thao tác và công việc có quan hệ mật thiết với nhau. Vì
vậy, đòi hỏi mỗi người phải cố gắng trau dồi, rèn luyện thường xuyên để thực
hiện các kỹ năng một cách thành thạo.
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý nhà trường, người Hiệu
Thương mại và Du lịch Hà nội;
- Đề suất một số biện pháp quản lý có hiệu quả đối với công tác
GVCNL ở trường cao đẳng.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Công tác GVCNL ở trường cao đẳng.
4.2. Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý có hiệu quả đối với công
tác GVCNL ở trường cao đẳng.
4
5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Chỉ nghiên cứu để đề xuất những biện pháp quản lý có hiệu quả đối với
công tác GVCNL ở trường cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà nội trong các
năm học từ 2006 đến 2009.
6. Giả thuyết khoa học
Quản lý công tác GVCNL ở trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch
Hà nội một số năm gần đây có nhiều tiến bộ, song vẫn còn một số tồn tại. Nếu
áp dụng các biện pháp quản lý công tác GVCNL do tác giả đề xuất thì sẽ nâng
cao được hiệu quả quản lý công tác GVCNL và góp phần quan trọng nâng cao
chất lượng giáo dục của nhà trường.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Sử dụng ba nhóm phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận (thu thập, phân tích tổng hợp tài liệu
để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài);
- Phương pháp thực tế (quan sát, điều tra, đàm thoại, chuyên gia, khảo
nghiệm, tổng kết kinh nghiệm,…)
- Phương pháp bổ trợ (thống kê toán học để xử lý các số liệu khảo sát)
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
của lối sống thực dụng, chỉ biết hưởng thụ, không biết cống hiến, chán học,
bỏ học, mục đích động cơ học tập chưa rõ ràng, các tệ nạn xã hội len lỏi vào
nhà trường đó là những vấn đề nổi cộm trong thời gian gần đây. Vì vậy, nhà
trường, gia đình, xã hội, cần có sự liên kết chặt chẽ trong việc giáo dục học
sinh; trong nhà trường vai trò chính là đội ngũ giáo viên, đặc biệt là giáo viên
chủ nhiệm lớp (GVCNL).
Về công tác GVCNL đã có nhiều đề tài khoa học nghiên cứu, tìm hiểu,
phân tích, có thể kể đến các đề tài tiêu biểu như: 6
- Cải tiến việc quản lý đội ngũ GVCNL của Hiệu trưởng trường phổ
thông (đề tài cấp trường)- của Lưu Xuân Mới (chủ nhiệm đề tài). Trường Cán
bộ quản lý Giáo dục và Đào tạo, Hà nội 1998.
- Giáo dục học (chương XVI. Người GVCNL)- của Phạm Viết Vượng.
NXB Đại học Quốc gia Hà nội, 2004.
- Phương pháp công tác của người GVCN ở trường Trung học phổ
thông- của Hà Nhật Thăng (chủ biên). NXB Đại học Quốc gia Hà nội, 2004.
Một số bài báo, tư liệu khác viết về công tác GVCNL như:
- Rèn luyện một số kỹ năng làm công tác GVCNL cho sinh viên cao
đẳng Sư phạm- Vũ Đình Mạnh. Tạp chí Giáo dục số 126 (11/2005)
- Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng làm công tác GVCNL cho sinh viên
cao đẳng Sư phạm- Vũ Đình Mạnh. Tạp chí Giáo dục số 135 (kỳ 1-4/2006).
Như vậy, cho đến nay, theo những tài liệu mà chúng tôi có được vẫn
chưa có những công trình đề cập đến các biện pháp quản lý công tác GVCNL
ở trường cao đẳng một cách đầy đủ và hệ thống.
Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi muốn tập trung nghiên
cứu vấn đề trên cả cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn ở trường cao đẳng Thương
mại và Du lịch Hà nội, đề xuất một số biện pháp quản lý công tác GVCNL ở
các trường cao đẳng nói chung, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn
hiệu quả quản lý. (Mai Hữu Khuê- Học viện Hành chính quốc gia).
- Quản lý là một hệ thống xã hội mang tính khoa học và nghệ thuật tác
động vào từng thành tố của hệ bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt mục
tiêu đã đề ra. (Nguyễn Văn Lê- Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)
- Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là sự tác
động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến
khách thể quản lý (người bị quản lý)- trong tổ chức- nhằm làm cho tổ chức
vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Cũng theo đó các tác giả còn 8
phân định rõ hơn về hoạt động quản lý: là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ
chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức,
chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra. [7].
Như vậy có thể khái quát: Quản lý là cách thức tác động (sự tác động
có tổ chức, có mục đích…) của chủ thể quản lý lên chủ thể bị quản lý bằng
các chế định xã hội, bằng tổ chức và nhân lực, tài lực và vật lực, phẩm chất,
uy tín của cơ quan quản lý hay người quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất
các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục đích trong điều kiện
môi trường luôn biến động.
Các nhà nghiên cứu về quản lý đã đưa ra nhiều đề xuất về nội dung của
các chức năng quản lý chung:
- F.W. Taylor (1856-1915) và Henrry Fayol (1841-1925) đưa ra năm
chức năng quản lý: kế hoạch hoá- tổ chức- chỉ huy- phối hợp- kiểm tra.
- Theo sách giáo khoa của trường Đảng cao cấp Liên Xô (cũ) có nêu ra
6 chức năng quản lý chung: soạn thảo mục tiêu- kế hoạch hoá- tổ chức- phối
hợp- động viên- kiểm tra.
- Theo tài liệu tập huấn cán bộ quản lý giáo dục của UNESCO đề ra 7
chức năng: kế hoạch hoá- tổ chức- bố trí biên chế- chỉ đạo- phối hợp- tổng
kết- quyết toán ngân sách.
mục tiêu, mục đích đó. Có ba nội dung chủ yếu của nội dung kế hoạch: (a)
xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng đối với tổ chức); (b) xác định
và bảo đảm (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức
để đạt được mục tiêu này; (c) xác định xem những hoạt động nào là cần thiết
để đạt được mục tiêu đó.
+ Tổ chức: tổ chức là quá trình hình thành cấu trúc các quan hệ giữa
các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực
hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ
Thông tin
Quản lý
Tổ chức
Kế hoạch
Chỉ đạo
Kiểm tra
10
việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các
nguồn lực.
Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận
cùng các công việc của chúng và sau đó là vấn đề nhân sự, cán bộ sẽ nối ngay
sau các chức năng kế hoạch và tổ chức. Công tác tổ chức bao gồm việc xác
định và nhóm gộp các hoạt động, giao phó quyền hành của người quản lý và
tạo sự liên hợp thực hiện mục tiêu của tổ chức một cách tự giác và hăng hái.
+ Chỉ đạo: sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành,
nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có người lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức. Dù là
giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng hoạt động, tham
gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho qui trình này vận hành
tới việc hoàn thành những mục đích dự kiến.
- Phạm Viết Vượng cho rằng: mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục
là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên thông
minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của
bản thân và xã hội.
- Tác giả Nguyễn Minh Đường trong chuyên luận ”Bồi dưỡng và đào
tạo đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới- thuộc chương trình khoa học công
nghệ cấp nhà nước- Hà nội (1996) thì cho rằng quản lý giáo dục được hiểu ở
hai cấp độ:
+ Theo nghĩa rộng: Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động,
điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội hiện nay [15, 16].
+ Theo nghĩa hẹp: Quản lý giáo dục, quản lý trường học cụ thể là một
chuỗi tác động hợp lý (có mục đích tự giác, có kế hoạch, có hệ thống) mang 12
tính tổ chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh,
đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ
cùng cộng tác, phối hợp tham gia vào hoạt động của nhà trường, nhằm làm cho
qui trình này vận hành tới việc hoàn thành những mục đích dự kiến [15, 17].
Theo chúng tôi, quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể
quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo
dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất.
Như vậy, bản chất của quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý thức
của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý và các thành tố tham gia vào quá
trình hoạt động giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục.
1.2.2. Quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường Cao đẳng
1.2.2.1. Người giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường cao đẳng, đại học
một trong những nút thông tin quan trọng nhất trong toàn bộ hệ thống thông
tin của nhà trường.
Vị trí của GVCNL ở trường cao đẳng, đại học được biểu diễn bằng sơ
đồ sau: 14
Sơ đồ 1.2 : Vị trí của GVCNL ở trường cao đẳng, đại học
có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáo dục và đặc biệt là
đến kết quả của việc xây dựng tập thể lớp thành tập thể sinh viên “học tập tốt,
rèn luyện tốt”.
Trong trường học, mọi tác động tích cực của người GVCNL có thể
là trực tiếp hay thông qua đội ngũ cán sự lớp và hoạt động của tập thể, đều
nhằm tác động tới mỗi thành viên của tập thể sao cho hành vi và hoạt động
của họ đáp ứng được những yêu cầu của xã hội, có lợi cho cả xã hội, tập thể
lẫn cá nhân.
Do vậy mà dưới góc độ quản lý học, công tác của người GVCNL là
công tác quản lý, người GVCNL trong trường cao đẳng, đại học giữ vai trò là
người quản lý (chủ thể quản lý) còn tập thể và mỗi thành viên trong tập thể là
khách thể quản lý. Đối tượng quản lý là hoạt động của tập thể và tư tưởng,
hành vi của mỗi thành viên trong tập thể. Tuy nhiên việc quản lý con người
trong nhà trường không chỉ có GVCNL mà tham gia vào việc quản lý con
người, bên cạnh GVCNL còn có các lực lượng khác trong nhà trường như
Ban Giám hiệu, phòng công tác học sinh, sinh viên, ban chủ nhiệm Khoa, tổ
bộ môn, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, ban cán sự lớp,… song
người GVCNL là người chịu trách nhiệm chính về mọi mặt hoạt động của tập
thể và mọi hành vi của mỗi thành viên trong tập thể lớp mình phụ trách. Quản
lý tốt con người, điều đó có nghĩa là GVCNL phải có những biện pháp tích
cực nhất, phù hợp nhất để tác động đến tư tưởng của mỗi người, có thể gián
tiếp thông qua đội ngũ cán sự lớp và mỗi thành viên trong tập thể, có thể trực
tiếp giữa GVCNL và mỗi thành viên trong tập thể nhằm hình thành ở họ
những hành vi đạo đức tốt.
Mặt khác, ở trường đại học, cao đẳng, người GVCNL không chỉ là
“linh hồn”, là “người cầm lái” trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, điều khiển mọi hoạt
động của lớp như ở trường phổ thông, mà người GVCNL ở trường đại học, 16
17
tra lần cuối cùng các kết quả thực hiện. Nó bao gồm các hoạt động như: xây
dựng cấu trúc tổ chức hợp lý cho đối tượng, xây dựng cấu trúc tổ chức cho
chủ thể quản lý, tạo mạng lưới các quan hệ tổ chức giữa những con người
trong quản lý, tuyển lựa sắp xếp bồi dưỡng cán bộ trong đội ngũ quản lý và
những người được quản lý; tổ chức lao động một cách có khoa học.
- Chức năng chỉ đạo: là hoạt động lựa chọn các phương tiện, các
hình thức tác động phù hợp vào quản lý con người nhằm khích lệ con người,
nỗ lực thực hiện và hoàn thành các nhiệm vụ một cách sáng tạo. Nó có thể
bao gồm các công việc như: khen, chê, thưởng, phạt, thi đua, động viên, nâng
cao uy tín,… Trong chức năng này người ta coi trọng việc xây dựng hệ thống
các nhu cầu và giải quyết thỏa đáng các lợi ích và quyền lợi chính đáng cho
mọi người.
- Chức năng kiểm tra: là hoạt động nhằm rà soát lại tiến trình vận
động của hệ thống trên cơ sở đối chiếu mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch xem có
phù hợp với quyết định quản lý hay không, thu thập, hệ thống hóa, phân tích
tình hình để hiểu được thực trạng, phát hiện những sai lệch và những thiếu
sót, tìm những nguyên nhân để khắc phục, phát hiện những nhân tố mới,
những kinh nghiệm tốt để bổ sung vào việc điều hành công việc. Hoạt động
này được thực hiện trong suốt quá trình thực hiện nhiệm vụ mà kế hoạch đề ra.
Để thực hiện được các chức năng chủ yếu trên của người GVCNL,
nhà trường cần đưa ra những nhiệm vụ cụ thể của GVCNL, có những yêu cầu
nhất định cần có chế độ chính sách hợp lý và những điều kiện tối thiểu để
giáo viên thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.
18
c. Nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm ở trường cao đẳng và đại học
dục của lớp chủ nhiệm.
- Nắm vững tinh thần học tập, rèn luyện, sinh hoạt của tập thể lớp và
từng học sinh, sinh viên trong lớp.
Để thực hiện nhiệm vụ này, GVCNL phải kết hợp nhiều phương
pháp, phối hợp với nhiều lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường. Việc
nhanh chóng hiểu từng học sinh trong lớp là một nội dung và nhiệm vụ rất
quan trọng của GVCNL. Trên cơ sở đó, GVCNL xây dựng một chương trình
giáo dục, tổ chức hoạt động toàn diện các mặt nhằm phát triển năng lực, phẩm
chất, nhân cách của học sinh, sinh viên lớp chủ nhiệm trên nguyên tắc phát
triển năng lực tự quản của các em.
Đây là nhiệm vụ trọng tâm của công tác GVCNL nhằm thực hiện mục
tiêu giáo dục toàn diện học sinh và triển khai chương trình, kế hoạch năm học
của nhà trường.
GVCNL phải tự hoàn thiện phẩm chất, nhân cách của người thày giáo;
trau dồi lòng yêu nghề, yêu thương học sinh, sinh viên. Quan tâm tới mọi mặt
của từng học sinh lớp mình chủ nhiệm, và quan trọng nhất là giúp các em
hoàn thiện ý thức, thái độ, hình thành những phẩm chất, tình cảm trong sáng,
đúng đắn, xây dựng cho các em hoài bão, lý tưởng sống cao đẹp, có bản lĩnh để
tránh xa những cám dỗ, những ảnh hưởng tiêu cực đang diễn ra xung quanh.
Chỉ có thể ảnh hưởng tốt tới học sinh, sinh viên khi bản thân GVCNL
là một nhân cách tốt. Mọi giáo viên đều có ảnh hưởng không nhỏ đối với học
sinh trong nhà trường nhưng GVCNL là người có ảnh hưởng sâu sắc nhất tới
học sinh, sinh viên lớp chủ nhiệm vì giữa GVCNL với học sinh, sinh viên
trong một lớp có một mối quan hệ thường xuyên, quan hệ tình cảm đặc biệt
thân thiết trong hoạt động. Nhiều GVCNL được học sinh, sinh viên vừa coi
như thầy- người hướng đạo cho các em vào đời, đồng thời vừa coi là người
thân như anh (chị), cha (mẹ), đan xen trong đó cả tình bạn gần gũi, tâm tình. 20