SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM
LỚP Ở TRƢỜNG THPT KHOÁI CHÂU - HƢNG YÊN”
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nói đến nhà trường hay giáo dục thì chúng ta đều hiểu đó là môi trường văn hóa,
đại diện cho những giá trị nền tảng, cốt lõi, những tinh hoa của một dân tộc nói riêng và
nhân loại nói chung, đó còn là những tri thức tiến bộ của nhân loại. Mỗi nhà trường đều
là nơi giáo dục, rèn luyện các thế hệ trẻ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất
nước.
Ở Việt Nam, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Đảng ta đã khẳng định:
“Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng và thúc đẩy sự
nghiệp CNH - HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản của sự
phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”. Đây là yêu cầu cấp bách đối
với toàn xã hội nói chung, ngành giáo dục nói riêng.
Đại hội XI chỉ rõ: “phải đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân theo
hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó,
đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu
then chốt”
Như vậy, phát triển giáo dục và đào tạo đã trở thành mục tiêu chiến lược của công
cuộc đổi mới đất nước, được xem là cuộc cách mạng mang tính thời đại sâu sắc. Đội ngũ
nhà giáo và CBQL giáo dục là lực lượng cách mạng quan trọng, quyết định thắng lợi sự
nghiệp đổi mới giáo dục, góp phần phát triển đất nước.
Để đạt được mục tiêu trên, vấn đề cấp thiết đặt ra cho ngành giáo dục là phải “Tiếp
tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học”
Xuất phát từ những lý do trên và mục tiêu phát triển của nhà trường giai đoạn 2010
– 2015 về giáo dục toàn diện nên tôi chọn đề tài nghiên cứu khoa học ứng dụng là: “Biện
pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường Trung học phổ thông Khoái
Châu, tỉnh Hưng Yên”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý công tác GVCN lớp ở trường
THPT Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, đề xuất biện pháp quản lý công tác GVCN lớp của
nhà trường nhằm nâng cao nhận thức, năng lực, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên chủ
nhiệm lớp và đảm bảo đạt chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường.
3. Giả thuyết khoa học
Việc quản lý công tác GVCN lớp ở trường THPT Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên còn
có những hạn chế nhất định, chỉ đạo hoạt động của công tác chủ nhiệm chủ yếu bằng các
biện pháp hành chính. Nếu áp dụng các biện pháp về nâng cao nhận thức, năng lực, kỹ
năng phù hợp với yêu cầu của ngành và điều kiện thực tế của nhà trường thì công tác giáo
viên chủ nhiệm lớp sẽ có hiệu quả cao hơn.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3
4.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác GVCN lớp ở trường THPT.
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý công tác GVCN lớp ở trường THPT Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu vấn đề lý luận của quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường Trung
học phổ thông trong đó có hoạt động quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp.
5.2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng công tác giáo viên chủ nhiệm lớp và các
biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường Trung học phổ thông
Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
5.3. Đề xuất biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo viên chủ nhiệm
Sử dụng phương pháp toán thống kê để xử lý và phân tích các số liệu từ các phiếu
hỏi thu thập được.
8. Đóng góp mới của đề tài
Làm sáng tỏ hơn các khái niệm cơ bản, phát hiện thực trạng công tác GVCN lớp và
các biện pháp quản lý công tác GVCN lớp ở trường THPT Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
Đề xuất biện pháp quản lý công tác GVCN lớp ở trường THPT Khoái Châu, tỉnh
Hưng Yên. Đồng thời góp phần vào việc phổ biến kinh nghiệm quản lý công tác GVCN
lớp trong các trường THPT.
9. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
chính của đề tài được trình bày trong 3 chương
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của quản lý công tác GVCN lớp
Chƣơng 2: Thực trạng quản lý công tác GVCN lớp ở trường THPT Khoái Châu,
tỉnh Hưng Yên.
Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý công tác GVCN lớp ở trường THPT Khoái
Châu, tỉnh Hưng Yên.
5
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Quản lý công tác GVCN lớp ở trường phổ thông nói chung đã được một số tác giả
nghiên cứu dưới hình thức sách tham khảo, luận văn hay bài viết, báo cáo khoa học…
Một số sách tham khảo đi sâu phân tích tâm lí lứa tuổi, đề xuất các nội dung của
công tác chủ nhiệm ở trường phổ thông. Lựa chọn một số tình huống sư phạm và đề xuất
các biện pháp giải quyết như cuốn Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông
của các tác giả Hà Nhật Thăng – Nguyễn Dục Quang – Nguyễn Thị Kỷ (2001), NXBGD.
Hay cuốn Phương pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm ở trường THPT, Hà Nhật
Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên” để nghiên cứu trong để tài của mình.
1.2. Những khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lý
1.2.1.1. Khái niệm quản lý
Quản lý là một loại hình lao động của con người trong cộng đồng nhằm thực hiện
các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra. Trong xã hội loài người, quản lý là một hoạt
động bao trùm mọi mặt đời sống xã hội. Quản lý là nhân tố không thể thiếu được trong
đời sống và sự phát triển của xã hội. Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với
nhiều hình thái xã hội khác nhau nên cũng trải qua nhiều hình thức quản lý khác nhau.
Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của quản lý
trong sự ổn định và phát triển của xã hội. Nó là một phạm trù tồn tại khách quan và là
một tất yếu lịch sử.
Theo C. Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến
hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà
những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động
của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người
độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc
trưởng”[14. tr 105].
Trong quá trình tồn tại và phát triển của quản lý, đặc biệt trong quá trình xây dựng
lý luận về quản lý, khái niệm quản lý được nhiều nhà lý luận đưa ra, nó thường phụ thuộc
vào lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu của mỗi người. Chẳng hạn:
Theo Nguyễn Quốc Chí- Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có
định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý
(người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục
đích của tổ chức”[15].
Quản lý có thể hiểu theo cách lý gải: Quản lý = Quản+ Lý
7
- Quản lý là một hệ thống xã hội trên nhiều phương diện. Điều đó cũng xác
lập rằng quản lý phải có một cấu trúc và vận hành trong một môi trường xác định.
Có thể mô tả cấu trúc của một hệ thống quản lý qua sơ đồ 1.1.
8
Môi trường quản lý
Mục tiêu quản lý
Chủ thể quản lý
Khách thể quản lý
Sơ đồ 1.1. Cấu trúc của một hệ thống quản lý
Hiện nay quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: Quản lý là quá trình đạt đến mục
tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng của các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ
chức, chỉ đạo và kiểm tra.
1.2.1.2. Các chức năng của quản lý
- Chức năng kế hoạch hoá
Peter Drucker, một trong những chuyên gia quản lý đương đại hàng đầu, đã đề xuất
tiêu chuẩn về tính hiệu nghiệm (tức là khả năng làm những việc “đúng”) và tính hiệu quả
(tức là khả năng làm “đúng” việc). Ông cho rằng, tính hiệu nghiệm là quan trọng hơn, bởi
vẫn có thể đạt được hiệu quả khi chọn sai mục tiêu. Hai tiêu chuẩn này song hành cùng
với hai khía cạnh của kế hoạch: xác định những mục tiêu “đóng” và lựa chọn những biện
pháp “đóng” đó đạt các mục tiêu này. Cả hai khía cạnh đã đều có ý nghĩa sống còn đối
với quá trình quản lý[25].
Để phản ánh bản chất của khái niệm chức năng kế hoạch hoá, chúng ta có thể định
nghĩa như sau: chức năng kế hoạch hoá là quá trình xác định mục tiêu và quyết định
những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó. Như vậy, thực chất của kế hoạch hoá
là đưa toàn bộ những hoạt động vào công tác kế hoạch hoá, với mục đích, biện pháp rõ
nhân góp phần tốt nhất vào mục tiêu chung. Tổ chức được coi là điều kiện của quản lý,
đúng như V.I. Lê-nin đã khẳng định: “Chúng ta phải hiểu rằng, muốn quản lý tốt…còn
phải biết tổ chức về mặt thực tiễn nữa”. Thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ
bền vững giữa con người, giữa các bộ phận trong hệ thống quản lý. Tổ chức tốt sẽ khơi
nguồn các động lực, tổ chức không tốt sẽ làm triệt tiêu động lực và giảm sút hiệu quả
quản lý.
- Chức năng chỉ đạo
Chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến hành vi và thái độ
của những người khác nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra. Chỉ đạo thể hiện quá trình ảnh
hưởng qua lại giữa chủ thể quản lý và mọi thành viên trong tổ chức nhằm góp phần thực
hiện hoá các mục tiêu đã đặt ra.
10
Chức năng chỉ đạo, xét cho cùng là sự tác động lên con người, khơi dậy động lực
của nhân tố con người trong hệ thống quản lý, thể hiện mối quan hệ giữa con người với
con người và quá trình giải quyết những mối quan hệ đó để họ tự nguyện và nhiệt tình
phấn đấu.
- Chức năng kiểm tra
Sau khi xác định các mục tiêu, quyết định những biện pháp tốt nhất để đạt tới các
mục tiêu và triển khai các chức năng tổ chức, chỉ đạo để thực hiện hoá các mục tiêu đó
cần phải tiến hành những hoạt động kiểm tra để xem xét việc triển khai các quyết định
trong thực tiễn, từ đó có những điều chỉnh cần thiết trong các hoạt động để góp phần đạt
tới mục tiêu đã xác định.
Như vậy, kiểm tra có vị trí quan trọng trong việc đổi mới công tác quản lý như đổi
mới công tác kế hoạch hoá, công tác tổ chức, chỉ đạo cũng như đổi mới cơ chế quản lý,
phương pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý.
Tóm lại: Sự phân công và chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý đã hình thành
nên các chức năng quản lý, đó là chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Các chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau như minh hoạ ở sơ đồ dưới đây:
thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách, phù
hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời
sống xã hội”[8,tr.105].
Theo Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Văn Lê :
- Nghĩa rộng: “Giáo dục là sự hình thành có mục đích và tổ chức những sức mạnh
thể chất và tinh thần của con người, hình thành thế giới quan, bộ mặt đạo đức và thị hiếu
thẩm mỹ cho con người, với nghĩa rộng nhất khái niệm này bao hàm cả giáo dưỡng, dạy
học và tất cả những yếu tố tạo nên những nét tính cách và phẩm hạnh của con người đáp
ứng các yêu cầu kinh tế- xã hội”[22,tr.33].
- Nghĩa hẹp: “Giáo dục bao gồm quá trình hoạt động nhằm tạo ra cơ sở khoa học
của thế giới quan, lý tưởng đạo đức, thái độ thẩm mỹ đối với hiện thực của con người kể
cả việc phát triển nâng cao thể lực. Qúa trình này xem như một bộ phận của giáo dục
tổng thể”[22,tr.33].
1.2.2.2. Khái niệm quản lý giáo dục
Nhà nước quản lý mọi hoạt động của xã hội, trong đó có hoạt động giáo dục. Nhà
nước quản lý giáo dục thông qua tập hợp các tác động hợp quy luật được thể chế hoá
bằng pháp luật của chủ thể quản lý, nhằm tác động đến các phân hệ quản lý để thực hiện
mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng là chất lượng, hiệu quả đào tạo thế hệ trẻ.
12
Đã có nhiều nghiên cứu về quản lý nói chung cho nên cũng có nhiều quan niệm
khác nhau về QLGD.
- QLGD theo nghĩa tổng quát là “Hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã
hội nhằm đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”. Ngày nay, với sứ mệnh phát
triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho
mọi người; tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên QLGD được hiểu là sự
điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân.
- QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh
công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội.
Trong bối cảnh hiện đại, nhà trường được thừa nhận rộng rãi như một thiết chế
chuyên biệt của xã hội để giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ trở thành những công dân có ích
cho tương lai. Thiết chế đó có mục đích rõ ràng, có tổ chức chặt chẽ, được cung ứng các
nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện chức năng của mình mà không một thiết chế nào
có thể thay thế được. Những nhiệm vụ của nhà trường cũng được đề cập đến từ nhiều
khía cạnh khác nhau. Việc quản lý nhà trường cũng có nhiều cách để tiếp cận. Bản chất
giai cấp của nhà trường được khẳng định bởi tính mục đích cũng như cách thức vận hành
của nó và một điều được khẳng định là: Khi nhà trường thực hiện chức năng giáo dục
trong một xã hội cụ thể, bản sắc văn hoá dân tộc in dấu sâu đậm trong toàn bộ hoạt động
của nhà trường.
Ta có thể thấy rõ các dấu hiệu phân biệt nhà trường với các thiết chế khác là: Tính
mục đích tập trung hay mục đích hẹp, mục đích được “chiết xuất”; Tính tổ chức và tính
kế hoạch cao; Tính hiệu quả giáo dục - đào tạo cao nhờ quá trình truyền thụ có ý thức;
Tính biệt lập tương đối hay tính lý tưởng hoá các giá trị xã hội; Tính chuyên biệt cho
từng đối tượng hay tính chất phân biệt đối xử theo phát triển tâm lý và thể chất.
1.2.3.2. Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy - học, tức là làm sao đưa hoạt động đó
từ trạng thái này sang trạng thái khác, từ mức độ phát triển thấp lên mức độ phát triển cao
để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục .
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng
trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục
để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và
với từng học sinh”[20].
Theo Phạm Viết Vượng: “Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản
lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo
dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và
đào tạo trong nhà trường”[31].
Nguyễn Ngọc Quang cho rằng quản lý nhà trường là: “Tập hợp những tác động
tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp…) của chủ thể quản lý
đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác. Nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do
trường cũng được hiểu như là một bộ phận của QLGD. Thực chất của quản lý nhà trường, suy
cho cùng là tạo điều kiện cho các hoạt động trong nhà trường vận hành theo đúng mục tiêu,
tính chất của nhà trường XHCN ở Việt Nam.
1.2.4. Biện pháp quản lý
Biện pháp quản lý được hiểu là “Cách làm, cách tiến hành, cách giải quyết một
vấn đề cụ thể”
Như vậy có thể hiểu biện pháp quản lý là cách quản lý, cách giải quyết những vấn
đề liên quan đến quản lý.
15
Biện pháp quản lý công tác GVCN lớp là cách làm, cách quản lý, cách giải quyết
những vấn đề thuộc phạm vi công tác GVCN lớp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện trong các nhà trường trong đó có trường THPT.
1.3. Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học
Giúp giáo viên trung học tự đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, năng
lực nghề nghiệp, từ đó xây dựng kế hoạch rèn luyện phẩm chất đạo đức và nâng cao trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ.
Làm cơ sở để đánh giá, xếp loại giáo viên hằng năm phục vụ công tác xây dựng quy
hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ giáo viên trung học.
Làm cơ sở để xây dựng, phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên trung
học.
Làm cơ sở để nghiên cứu, đề xuất và thực hiện chế độ chính sách đối với giáo viên
trung học; cung cấp tư liệu cho các hoạt động quản lý khác.
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học là hệ thống các yêu cầu cơ bản đối với giáo
viên trung học về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; năng lực chuyên môn, nghiệp
vụ.
1.3.1. Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống
Tiêu chí 1. Phẩm chất chính trị
hiện rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học phù hợp với đặc thù môn học, đặc điểm
học sinh và môi trường giáo dục; phối hợp hoạt động học với hoạt động dạy theo hướng
phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh.
Tiêu chí 9. Đảm bảo kiến thức môn học
Làm chủ kiến thức môn học, đảm bảo nội dung dạy học chính xác, có hệ thống, vận
dụng hợp lý các kiến thức liên môn theo yêu cầu cơ bản, hiện đại, thực tiễn.
Tiêu chí 10. Đảm bảo chương trình môn học
Thực hiện nội dung dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ
được quy định trong chương trình môn học.
Tiêu chí 11. Vận dụng các phương pháp dạy học
Vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và
sáng tạo của học sinh, phát triển năng lực tự học và tư duy của học sinh.
Tiêu chí 12. Sử dụng các phương tiện dạy học
Sử dụng các phương tiện dạy học làm tăng hiệu quả dạy học.
Tiêu chí 13. Xây dựng môi trường học tập
17
Tạo dựng môi trường học tập: dân chủ, thân thiện, hợp tác, cộng tác, thuận lợi, an
toàn và lành mạnh.
Tiêu chí 14. Quản lý hồ sơ dạy học
Xây dựng, bảo quản, sử dụng hồ sơ dạy học theo quy định.
Tiêu chí 15. Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh bảo đảm yêu cầu chính xác, toàn
diện, công bằng, khách quan, công khai và phát triển năng lực tự đánh giá của học sinh;
sử dụng kết quả kiểm tra đánh giá để điều chỉnh hoạt động dạy và học.
1.3.4. Năng lực giáo dục
Tiêu chí 16. Xây dựng kế hoạch các hoạt động giáo dục
Kế hoạch các hoạt động giáo dục được xây dựng thể hiện rõ mục tiêu, nội dung,
1.3.6. Năng lực phát triển nghề nghiệp
Tiêu chí 24. Tự đánh giá, tự học và tự rèn luyện
Tự đánh giá, tự học và tự rèn luyện về phẩm chất chính trị, đạo đức, chuyên môn
nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học và giáo dục.
Tiêu chí 25. Phát hiện và giải quyết vấn đề nảy sinh trong thực tiễn giáo dục
Phát hiện và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn hoạt động nghề
nghiệp nhằm đáp ứng những yêu cầu mới trong giáo dục.
1.4. Giáo viên chủ nhiệm lớp và công tác giáo viên chủ nhiệm lớp
1.4.1. Giáo viên chủ nhiệm lớp
Trong hệ thống tổ chức của các trường phổ thông, đơn vị cơ bản được tổ chức để
giảng dạy và giáo dục học sinh là lớp học. Hình thức tổ chức dạy học, giáo dục theo lớp
được hình thành từ thế kỉ XVI do nhà giáo dục Tiệp Khắc - Comenxki đề xướng. Để quản lý
lớp học, nhà trường cử ra một trong những giáo viên đang giảng dạy làm chủ nhiệm lớp.
GVCN lớp được Hiệu trưởng lựa chọn từ những GV có kinh nghiệm giáo dục, có uy tín
trong học sinh, được Hội đồng giáo dục nhà trường nhất trí phân công chủ nhiệm các lớp
học xác định để thực hiện mục tiêu giáo dục. Như vậy khi nói đến người GVCN là đề cập
đến vị trí, vai trò, chức năng của người làm công tác chủ nhiệm lớp
1.4.2. Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp
Là những nhiệm vụ, nội dung công việc mà người GVCN lớp phải làm, cần làm và
nên làm.
1.4.3. Vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp
1.4.3.1. Vị trí và vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp
19
- GVCN lớp là thành viên của tập thể sư phạm và hội đồng sư phạm, là người thay
mặt hiệu trưởng, hội đồng nhà trường và CMHS quản lý và chịu trách nhiệm về chất
lượng giáo dục toàn diện học sinh lớp mình phụ trách, tổ chức thực hiện chủ trương, kế
hoạch của nhà trường ở lớp.
- Phát huy được ý thức tự quản của học sinh, xây dựng được bộ máy của lớp có đủ
năng lực và uy tín điều hành các hoạt động chung.
- Cố vấn cho bộ máy này hoạt động; bồi dưỡng một cách có kế hoạch các phần tử
tích cực nhằm làm cho tập thể lớp đạt được các mục tiêu đã đề ra thông qua việc tổ chức
các hoạt động tập thể một cách có kế hoạch và có phương pháp.
- Tổ chức kiểm tra, đánh giá hoạt động của lớp, của từng học sinh.
- Báo cáo hiệu trưởng theo chế độ đã quy định.
Cuối cùng, chức năng quản lý – giáo dục của GVCN còn được thể hiện ở chỗ tổ
chức tập hợp và khai thác sức mạnh tổng hợp của các lực lượng giáo dục trong và ngoài
trường nhằm xây dựng được tập thể học sinh, thúc đẩy sự phát triển nhân cách toàn diện
của từng thành viên của nó.
b. Chức năng giáo dục
GVCN phải quan tâm đến sự phát triển toàn diện của mọi học sinh trong tập thể
lớp; phải nắm vững được những đặc điểm chung của lớp, những đặc điểm của từng học
sinh; có mục tiêu, nội dung, hình thức giáo dục thích hợp, có những tác động sư phạm
hợp quy luật, mang lại hiệu quả cao; chú ý giáo dục cá biệt, cá nhân hoá giáo dục; đánh
giá kết quả học tập, tu dưỡng toàn diện của lớp, của từng học sinh.
c. Chức năng đại diện
GVCN là người đại diện cho Hiệu trưởng truyền đạt những yêu cầu đối với học
sinh với phương pháp thuyết phục, thái độ nghiêm túc để mỗi học sinh và tập thể lớp ý
thức được đầy đủ nghĩa vụ và trách nhiệm của mình. Đồng thời GVCN cũng là người
trực tiếp phản ánh tâm tư, nguyện vọng, ý kiến đề xuất của tập thể học sinh lớp mình lên
lãnh đạo nhà trường.
1.4.3.3. Nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp
Nhiệm vụ của GVCN lớp được quy định tại Điều 31, Điều lệ trường THCS, trường
THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành ngày 28/3/2011
- Xây dựng kế hoạch các hoạt động giáo dục thể hiện rõ mục tiêu, nội dung,
phương pháp giáo dục bảo đảm tính khả thi, phù hợp với đặc điểm học sinh, với hoàn
ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp; tạo dựng môi trường học tập
và làm việc dân chủ, thân thiện, hợp tác, an toàn và lành mạnh;
- Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình học sinh, Đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong dạy
học và giáo dục học sinh;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
1.4.3.4. Các yêu cầu đối với giáo viên chủ nhiệm lớp hiện nay
- Về đạo đức nghề nghiệp
Nếu như GV dạy các môn học quan tâm nhiều hơn đến kết quả nắm kiến thức và
khả năng vận dụng kiến thức đó thì người GVCN thực sự là nhà giáo dục, ảnh hưởng của
họ đến nhân cách HS đến hiệu quả giáo dục còn lớn hơn cả người Hiệu trưởng. Chính vì
22
vậy mức độ phát triển nhân cách, đạo đức nghề nghiệp của người GVCN rất quan trọng,
tác động của nó đến kết quả giáo dục không thua kém gì năng lực sư phạm, vì đặc thù của
nghề này là nhân cách, đạo đức GV cũng trở thành phương tiện giáo dục.
Những yêu cầu về nhân cách, đạo đức người GV, kể cả những điều cấm GV không
được vi phạm đã được đề cập ở nhiều văn bản pháp quy từ Luật cho đến những văn bản
dưới Luật.
Người GVCN tối thiểu cũng phải đảm bảo những yêu cầu về đạo đức, nhân cách đã
được quy định trong các văn bản này. Cụ thể là:
Luật giáo dục 2005 thể hiện tại các điều: Điều 72. Nhiệm vụ của nhà giáo; Điều 70
những tiêu chuẩn nhà giáo; Điều 75 các hành vi nhà giáo không được làm.[10].
Quy định đạo đức nhà giáo năm 2008 của Bộ GD -ĐT cũng thể hiện rõ vấn đề này tại
các điều: Điều 3. Phẩm chất chính trị; Điều 4. Đạo đức nghề nghiệp; Điều 5. Lối sống,
tác phong; Điều 6. Giữ gìn, bảo vệ truyền thống đạo đức nhà giáo.[7].
- Về chuyên môn, nghiệp vụ
+ Quán triệt đường lối, chính sách, mục tiêu, nguyên lí giáo dục của Đảng, Nhà nước,
đồng thời phải nắm vững quy chế, điều lệ nhà trường phổ thông, mục tiêu giáo dục của bậc
thể phát triển là tập thể ở giai đoạn có tính tự quản cao, có dư luận tập thể lành mạnh, các
mối quan hệ trong tập thể gắn bó và mang tính nhân văn. Tập thể phát triển cũng đồng
thời là môi trường học tập thân thiện, chứa đựng văn hóa của mình. Trong chiều sâu văn
hóa của tập thể là những giá trị, hệ thống các chuẩn mực và niềm tin của HS. Biểu hiện
bên ngoài của văn hóa tập thể là các chuẩn mực hành vi, truyền thống, thói quen được
tập thể chấp nhận làm nên bộ mặt riêng của lớp học có tác động giáo dục và phát triển
từng nhân cách HS.Đó chính là văn hóa học đường. Môi trường học tập thân thiện là môi
trường mà HS được quan tâm mọi mặt, được đảm bảo an toàn, môi trường học tập chất
lượng tốt,giúp HS phát huy hết tiềm năng… Trong chuẩn nghề nghiệp GV đã yêu cầu GV
“Tạo dựng môi trường học tập: dân chủ, thân thiện, hợp tác, cộng tác, thuận lợi, an toàn
và lành mạnh”. (Tiêu chí 13).[2]. Trong tập thể như vậy, GVCN giáo dục động cơ học
tập, giá trị, hành vi tích cực, lành mạnh cho HS thuận lợi hơn. Sứ mạng của người GV
trong thế kỉ XXI là phải biết khơi dậy nhu cầu học hỏi và tự hoàn thiện của HS.
+ Tổ chức các hoạt động giáo dục và các hình thức giao lưu đa dạng. Bên cạnh việc
sử dụng hệ thống các mối quan hệ và các giá trị, truyền thống trong tập thể để giáo dục
HS, GVCN còn phải tổ chức giờ sinh hoạt lớp, hoạt động GD ngoài giờ lên lớp theo chủ
đề và các loại hình hoạt động GD đa dạng khác phù hợp với mục tiêu giáo dục của hoạt
động (mục tiêu trội mà hoạt động đó có ưu thế và mục tiêu giáo dục toàn diện mà hoạt
động đó có tiềm năng). Đây là một nhiệm vụ cơ bản của GVCN.Thông qua tổ chức các
loại hình hoạt động phong phú, đa dạng để giáo dục hành vi, thói quen ứng xử văn hóa
cho HS về các mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ, lao động…đồng thời, qua đó phát
triển tập thể lớp và từng HS.
+ Phát hiện kịp thời và ngăn ngừa những xung đột trong lớp
Sự bất hòa và những xung đột nảy sinh là điều khó tránh trong các mối quan hệ giữa
các thành viên của tập thể. Thực tiễn bạo lực học sinh trong nhà trường hiện nay đang làm
mọi người đều bức xúc và để lại hậu quả nặng nề về tâm lí, tinh thần học sinh. Do đó
GVCN cần lưu tâm ngăn ngừa và giải quyết kịp thời những mâu thuẫn có thể trong tập thể
24
58/2007/QĐ-BGDĐT ngày 12 tháng 10 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo). Việc tổ chức ứng dụng và khai thác công nghệ thông tin trong công tác quản lí học
sinh, sinh viên ở các trường là một trong những tiêu chuẩn xét thi đua năm học đối với
các cơ sở giáo dục.
1.4.4. Nội dung quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp
25