Đánh giá tác động của chính sách đến năng lực cạnh tranh của cụm ngành dệt may trên địa bàn thành phố hồ chí minh và một số địa phương lân cận - Pdf 57

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
--------------------------------------

HỒ NGỌC HUY

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH ĐẾN NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA CỤM NGÀNH DỆT MAY TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VÀ MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG LÂN CẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

TP. Hồ Chí Minh, 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
--------------------------------------

HỒ NGỌC HUY

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH ĐẾN NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA CỤM NGÀNH DỆT MAY TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VÀ MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG LÂN CẬN

Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60340402

Đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn tập thể quý Thầy Cô Chương trình Giảng dạy Kinh tế
Fulbright cho tôi học tập trong một môi trường chuẩn mực và luôn hỗ trợ người học.
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn thầy Đinh Công Khải luôn khuyến khích,
góp ý, hướng dẫn tôi hoàn thiện luận văn này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn những lãnh đạo, chuyên gia, và nhân viên Hiệp hội Dệt may Việt
Nam, Hội May – Thêu – Đan Thành Phố Hồ Chí Minh, Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt
Nam, và các doanh nghiệp tham gia phỏng vấn đã hỗ trợ và cung cấp cho tôi nhiều thông tin có
giá trị.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, và các anh chị bạn bè học viên MPP7
và MPP8 luôn động viên và hỗ trợ tôi hoàn thành nghiên cứu.


-iii-

TÓM TẮT
Ngành dệt may là một ngành công nghiệp quan trọng của Việt Nam. Đề cập đến dệt may Việt
Nam thì không thể không nói đến vùng TP.HCM – Bình Dương – Đồng Nai. Tuy nhiên, như
IPP/CIEM (2013) chỉ ra cụm ngành dệt may vùng TP.HCM "khá ngắn” với giá trị gia tăng thấp
chủ yếu dựa vào lợi thế chi phí lao động giá rẻ. Sự lệ thuộc nguyên phụ liệu nhập khẩu cũng một
phần chính tạo ra giá trị gia tăng của ngành dệt may thấp. Từ năm 2013 đến nay, nhiều chính
sách đã được ban hành hướng đến giải quyết vấn đề này, đến nay hai thách thức trên vẫn còn
hiện hữu. Xuất phát từ nghiên cứu của IPP/CIEM (2013), bài viết này sử dụng tiếp cận cụm
ngành kết hợp chuỗi giá trị để đánh giá tác động của một số chính sách đến NLCT của cụm
ngành vùng TP.HCM.
Bài viết có hai kết quả chính gồm: Đầu tiên, điều chỉnh quan điểm phát triển vào năm 2014 của
Chính phủ vẫn nhấn mạnh đến giải pháp. Hệ quả của quan điểm phát triển thiếu một tầm nhìn rõ
ràng là một số chính sách cần ưu tiên đã không thực thi (nâng cấp cụm ngành và chuỗi giá trị)
hoặc tình trạng mẫu thuẫn mục tiêu giữa các chính sách (quy định thuế xuất nhập với mục tiêu
gia tăng tỷ lệ nội địa hóa). Nên hạn chế chính của cụm ngành tiếp tục tồn tại là các DN may lệ
thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu và tập trung ở khâu gia công. Thứ hai, vùng TP.HCM đã

1.6. Bố cục nghiên cứu ............................................................................................................... 3
Chương 2. Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước ................................................... 4
2.1. Cơ sở lý thuyết .................................................................................................................... 4
2.2. Tổng quan các nghiên cứu trước .......................................................................................... 7
Chương 3. Đánh giá tác động chính sách đến năng lực cạnh tranh của cụm ngành...................14
3.1. Đánh giá quan điểm phát triển ngành dệt may ....................................................................14
3.2. Đánh giá tác động chính sách đến chuỗi giá trị ...................................................................20
3.3. Đánh giá tác động chính sách đến cụm ngành .....................................................................39
Chương 4. Kết luận và khuyến nghị chính sách .........................................................................45
4.1. Kết luận..............................................................................................................................45
4.2. Khuyến nghị chính sách .....................................................................................................46
4.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo ..............................................................................48
Tài liệu tham khảo ....................................................................................................................49
Phụ lục......................................................................................................................................53


-v-

DANH MỤC VIẾT TẮT
Viết tắt

Tiếng Anh

Tiếng Việt

AGTEK

Textile Garment Embroidery Knitting Association

Hội Dệt - May - Thêu - Đan TP.HCM


DNNN

Doanh nghiệp nhà nước

DNNVV

Doanh nghiệp nhỏ và vừa

EVFTA

EU-Vietnam Free Trade Agreement

Hiệp định thương mại Châu Âu – Việt Nam

FDI

Foreign Direct Investment

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FOB

Free On Board

Bán hàng tại boong tàu

GSO

General Statistics Office of Vietnam


Provincial Competitiveness Index

Chỉ số Năng lực Cạnh tranh cấp tỉnh

TP.HCM
TPP

Thành phố Hồ Chí Minh
Trans-Pacific Partnership

UBND

Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
Ủy ban nhân dân

USD

United States Dollar

Đô la Mỹ

USFIA

United States Fashion Industry Association

Hiệp hội Công nghiệp Thời trang Hoa Kỳ

VCCI


Hình 2.1. Tác động chính sách công đến các nhân tố mô hình kim cương................................... 5
Hình 2.2. Mô tả chuỗi giá trị toàn cầu dệt may ........................................................................... 6
Hình 2.3. Tiếp cận chính sách lấy cụm ngành làm trung tâm ...................................................... 7
Hình 3.1. Xuất nhập khẩu hàng dệt kim với 3 đối tác lớn nhất. ..................................................22
Hình 3.2. Mức lương tối thiếu theo vùng 2013 - 2017 ...............................................................32
Hình 3.3. Số lượng lao động ngành may trong vùng TP.HCM ...................................................33


-vii-

DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. So sánh các quan điểm phát triển ngành dệt may .......................................................15
Bảng 3.2. Tài sản cố định ngành dệt các địa phương vùng TP.HCM ..........................................27
Bảng 3.3. Giá trị sản xuất công nghiệp ngành dệt các địa phương vùng TP.HCM ......................27
Bảng 3.4. Bảng xếp hạng chỉ số năng lực logistics của một số quốc gia cạnh tranh....................40
Bảng 3.5. Cấu trúc điểm thành phần chỉ số năng lực logistics của Việt Nam .............................41


-viii-

DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1. Kết quả thực hiện chỉ tiêu phát triển ngành ...............................................................53
Phụ lục 2. Danh mục phỏng vấn ................................................................................................54
Phụ lục 3. Mô tả phỏng vấn đối với doanh nghiệp .....................................................................55
Phụ lục 4. Các loại hình doanh nghiệp dệt may theo chức năng .................................................56
Phụ lục 5. Nâng cấp trong chuỗi giá trị toàn cầu ........................................................................57
Phụ lục 6. Tóm tắt một số nghiên cứu vấn đề môi trường của ngành dệt may Việt Nam ............58
Phụ lục 7. Quy hoạch ngành theo vùng và địa phương...............................................................59
Phụ lục 8. Năng lực sản xuất thượng nguồn nội địa 2013 – 2017 ...............................................60
Phụ lục 9. Quy định của Chính phủ về lương tối thiểu đối với người lao động ...........................61

TP.HCM “khá ngắn” tập trung may gia công với giá trị gia tăng thấp, chủ yếu dựa vào lợi thế chi
phí lao động giá rẻ. Với bối cảnh trên, bài viết này muốn đánh giá chính sách đã tác động gì đến
NLCT ngành dệt may thông qua đại diện tiêu biểu là cụm ngành vùng TP.HCM trong giai đoạn
vừa qua.

1
Cần lưu ý có thể tỷ lệ nội địa hóa được hiểu là tỷ lệ giá trị gia tăng, được tính bằng tỷ phần xuất khẩu ròng (là giá
trị xuất khẩu trừ nhập khẩu cho xuất khẩu) so với tổng kim ngạch xuất khẩu (xem thêm Phụ lục 1). Ngoài ra, tỷ lệ
nội địa hóa thấp hơn 4 điểm phần trăm so các mục tiêu 55%.


-2Xuất phát từ nghiên cứu IPP/CIEM (2013), bài viết này trình bày tác động của ba nhóm chính
sách có tác động lớn NLCT của cụm ngành dệt may vùng TP.HCM gồm: sản xuất nguyên phụ
liệu nội địa, nhân lực phục vụ nâng cấp và điều kiện cầu trong nước.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này hướng đến đánh giá tác động của các chính sách đến NLCT của cụm ngành dệt
may vùng TP.HCM. Trên cơ sở phân tích, một số khuyến nghị chính sách được thảo luận để
nâng cao NLCT của cụm ngành dệt may vùng TP.HCM nói riêng và ngành dệt may Việt Nam
nói chung.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, bài phân tích này tập trung trả lời cho hai câu hỏi chính sau:
Câu hỏi 1. Chính sách đã tác động gì đến NLCT của cụm ngành dệt may vùng TP.HCM?
Câu hỏi 2. Những chính sách nào cần được khuyến khích để thực hiện nâng cấp chuỗi giá trị và
hoàn thiện cụm ngành dệt may vùng TP.HCM?
1.4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các chính sách có tác động đến NLCT của cụm ngành dệt may vùng
TP.HCM. Nghiên cứu này lựa chọn phân tích một số chính sách có tác động lớn tương ứng ba
nhóm chính là sản xuất nguyên phụ liệu nội địa, nhân lực phục vụ nâng cấp và điều kiện cầu
trong nước; cụ thể gồm: phát triển công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nguồn nhân lực, chính sách liên
quan đến lao động, dịch vụ logistics và thủ tục hải quan, xúc tiến thương mại, phát triển thị

triển cũng như đánh giá tác động của một số chính sách tác động đến các khu vực của chuỗi giá
trị và cụm ngành.


-4-

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Chương 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu chính sách cải thiện NLCT ngành
dệt may. Đầu tiên, lý thuyết năng lực cạnh tranh và cụm ngành của M.E. Porter được giới thiệu.
Tiếp cận chính sách dựa vào cụm ngành phản ánh đòi hỏi đặt sự phát triển ngành trong tương tác
toàn diện của nhiều lĩnh vực thay vì một chính sách ưu đãi cho một ngành thường dẫn đến bóp
méo cạnh tranh. Sau đó, lý thuyết chuỗi giá trị phản ánh việc phân chia lợi ích giữa các DN đối
sản phẩm dệt may. Phần cuối cùng tổng hợp một số nghiên cứu trước chỉ ra kinh nghiệm thực thi
chính sách tại Trung Quốc cũng như một số nghiên cứu liên quan đến chuỗi giá trị dệt may Việt
Nam.
2.1. Cơ sở lý thuyết
2.1.1. Năng lực cạnh tranh và cụm ngành
Nghiên cứu này sử dụng lý thuyết NLCT và cụm ngành của Michael E. Porter. NLCT được đo
lường bằng năng suất – giá trị gia tăng do một đơn vị lao động hoặc vốn tạo ra trong một đơn vị
thời gian (Porter, 1998). Theo Porter (1998, 2008), cụm ngành là “sự tập trung về mặt địa lý của
các DN, các nhà cung ứng và các DN có tính liên kết cũng như của các công ty trong các ngành
có liên quan và các thể chế hỗ trợ (như các trường đại học, cục tiêu chuẩn, hiệp hội thương mại)
trong một số lĩnh vực đặc thù, vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau”. Cụm ngành tác động gia
tăng cạnh tranh và thúc đẩy hợp tác. Nhờ tạo ra hiệu ứng mạng lưới và lan tỏa, năng suất, hiệu
quả, đổi mới, hoạt động thương mại hóa và khởi nghiệp được tăng lên (IPP/CIEM, 2013).
NLCT của một địa phương thường đánh giá cùng với Mô hình kim cương của Porter (1998),
gồm: (i) những điều kiện nhân tố đầu vào, (ii) bối cảnh chiến lược, cấu trúc và cạnh tranh, (iii)
những điều kiện cầu, và (iv) những ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan.
Xét vai trò chủ động nhất, nhà nước hình thành hệ thống chính sách kinh tế dựa vào thúc đẩy

Tính đa dạng của loại hình DN sản xuất tương ứng với từng loại hình chuỗi gắn với DN dẫn đầu
như thương hiệu, thương hiệu có nhà máy sản xuất, hoặc nhà bán lẻ với kênh phân phối riêng
(Abdulsamad và cộng sự, 2015). Văn phòng đại diện, công ty cung cấp trung gian, hoặc đại diện
ủy quyền thường đóng vai trò kết nối giữa khu vực hạ nguồn với các nước sản xuất. DN thực
hiện hoạt động trong chuỗi khi hội tụ các nguồn lực về tài chính, công nghệ, và nhân lực (xem
Hình 2.2, chi tiết Phụ lục 4). Nếu DN tìm được nguồn hàng thì DN bán sản phẩm hoàn chỉnh
(FOB) với giá trị gia tăng cao hơn. Quá trình này gọi là nâng cấp chức năng (chi tiết Phụ lục 5).
Các nấc thang giá trị cao tiếp theo lần lượt, DN thường bán sản phẩm hoàn thiện do DN tự thiết
kế (ODM) và DN bán sản phẩm với thương hiệu riêng (OBM).
Hai tiếp cận, cụm ngành và chuỗi giá trị, bổ khuyết cho nhau trong phân tích cải thiện NLCT của
ngành dệt may. Cụm ngành với lợi thế tập trung địa lý của cụm ngành tạo cơ hội giảm chi phí
giao dịch cho các tổ chức, đặc biệt là DN. Trong khi đó, chuỗi giá trị lựa chọn DN sản xuất dựa
vào các yếu tố chi phí sản xuất, khối lượng đơn hàng, thời gian giao hàng, và tiêu chuẩn chất
lượng đáp ứng nhu cầu khách hàng. Vậy, cụm ngành và chuỗi giá trị tương tác với nhau ảnh
hưởng đến việc DN thực hiện việc nâng cấp.


-72.2. Tổng quan các nghiên cứu trước
2.2.1. Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của cụm ngành vùng TP.HCM
IPP/CIEM (2013) là nghiên cứu đánh giá NLCT của cụm ngành dệt may vùng TP.HCM sử dụng
khung phân tích kết hợp cụm ngành với chuỗi giá trị toàn cầu.
Hình 2.3. Tiếp cận chính sách lấy cụm ngành làm trung tâm

Thu hút
đầu tư
Xúc tiến
xuất khẩu

Giáo dục
đào tạo


Nguồn: (IPP/CIEM, 2013; Porter, 2008).
Nghiên cứu của IPP/CIEM (2013) đã so sánh quan điểm phát triển ngành dệt may của Chính phủ
so với tiếp cận cụm ngành và chuỗi giá trị. Hình 2.3 mô tả mô hình tiếp cận chính sách dựa vào
cụm ngành. Dựa vào luận điểm quan trọng được rút ra từ lý thuyết và thực tiễn phát triển công
nghiệp là “cách thức cạnh tranh quan trọng hơn ngành cạnh tranh” (Porter, 2008), bài viết chỉ ra
những khác biệt cơ bản trong quan điểm phát triển ngành của chính phủ. Cũng cần lưu ý rằng
nhà nước phát triển cụm ngành cần dựa những đặc trưng đang tồn tại ở cụm ngành, không thể
xây dựng cụm ngành dựa theo ý chí của ngành nước và phát triển cụm ngành đòi hỏi hệ các
nhiều hoạt động từ chính sách đến các bên hữu quan để cải thiện NLCT của cụm ngành. Phần
phân tích quan điểm phát triển (trong chương sau) sẽ trình bày phần nội dung này của IPP/CIEM
(2013) cùng việc cập nhật thêm những quan điểm phát triển mới trong quy hoạch ngành hiện tại.


-8Nhóm nghiên cứu IPP/CIEM (2013) đã vẽ và đánh giá vẽ sơ đồ cụm ngành TP.HCM dựa trên dữ
liệu thống kê, điều tra theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên nhận được 188 phiếu phản hồi từ
DN2, và phân tích định tính. Kết quả nghiên cứu chỉ ra chuỗi giá trị vùng TP.HCM “vừa ngắn”,
tập trung ở khâu gia công giá trị thấp. Tiếp cận cụm ngành phản ánh cụm ngành vùng TP.HCM
đã hình thành nhưng liên kết rời rạc, NLCT hạn chế và thiếu bền vững chủ yếu dựa vào chi phí
lao động giá rẻ. Một đặc trưng của cụm ngành là tính phân tầng rõ rệt, ở tầng cao nhất số ít
DNNN lớn và FDI lớn đã làm việc việc trực tiếp với chuỗi giá trị toàn cầu, ở tầng thấp nhất và
phần lớn DN nhỏ và siêu nhỏ với giá trị gia tăng thấp, và tầng còn lại là nhóm DN vừa.
Bài viết IPP/CIEM (2013) cũng đánh giá một số chính sách cụ thể tác động đến ngành ở hai cấp
độ Chính phủ và chính quyền địa phương. Các nhóm chính sách được bài viết phân tích chi tiết
gồm: chính sách hội nhập, chính sách thuế, thủ tục hải quan, chính sách tỷ giá, chính sách tín
dụng, chính sách liên quan đến lao động, chính sách đất đai, chính sách môi trường.
Chính sách đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, theo IPP/CIEM (2013), là nhân tố quan trọng
nhất tạo ra sự phát triển của ngành dệt may vùng TP.HCM nói riêng và Việt Nam nói chung từ
thập niên 1990s đến nay. Do, mở rộng thị trường xuất khẩu, cải cách môi trường đầu tư đã tác
động thu hút đầu tư nước ngoài và các DN nội địa (khu vực tư nhân) tham gia vào chuỗi giá trị

quản lý ngoại hối lên hoạt động xuất khẩu dệt may. IPP/CIEM (2013) đánh giá chính sách tín
dụng liên quan như: chính sách điều chỉnh hạ trần lãi suất, gia hạn thời gian nộp thuế thu nhập
DN và thuế giá trị gia tăng trong Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ về
một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu;
chính sách hỗ trợ lãi suất (4%/năm tối đa 24 tháng) cho cho các tổ chức, cá nhân vay vốn trung,
dài hạn ngân hàng để thực hiện đầu tư mới để phát triển sản xuất - kinh doanh. Tuy nhiên, các
chương trình này không đánh giá tác động chi tiết, có thể do thường không tiếp cận thông tin
đánh giá của các cơ quan chức năng.
Chính sách liên quan đến lao động được IPP/CIEM (2013) đề cập liên quan đến những quy
định về bảo vệ quyền lợi người lao động gồm mức lương, giờ làm thêm, chế độ nghỉ ngơi và
khám sức khỏe, phí bảo hiểm, phí công đoàn. Tuy nhiên, bài viết chưa xem xét tác động điều
chỉnh các chính sách lao động đến nhóm đối tượng DN hướng đến thị trường nội địa.
Chính sách đất đai được thảo luận gồm điều kiện áp dụng miễn, giảm tiền thuê đất mà dệt may
là một trong số các ngành được hưởng các ưu tiên. Chính sách môi trường tập trung thảo luận
gia tăng chi phí nước thải công nghiệp theo quy định, từ đó đề xuất đến ảnh hưởng đến chi phí
sản xuất của các DN dệt nhuộm. Một nguyên tắc xác định chi phí môi trường là người gây ô
nhiễm càng lớn chịu chi phí càng lớn.
Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đánh giá chi tiết tác động chính sách vào NLCT cụm ngành dệt
may vùng TP.HCM ở một số nhân tố như lao động khi các quy định bảo vệ quyền lợi người lao
động được thực hiện chặt chẽ hơn, khuyến khích sản xuất nguyên phụ liệu, và cải thiện điều kiện


-10cầu nội địa với đặc trưng hàng giả chiếm đa số thị trường nội địa. Cần lưu ý các nhóm chính sách
trên được cụ thể hóa hơn sau khi nghiên cứu này được thực hiện.
Dựa trên kết quả nghiên cứu, các tác giả đề xuất các hướng điều chỉnh về quan điểm phát triển
có tính chiến lược. Phần đánh giá quan điểm phát triển trong chương sau sẽ lồng ghép các quan
điểm phát triển trên. Ngoài ra, một số điều chỉnh chính sách cụ thể được khuyến nghị, gồm:
 Xem xét chính sách khuyến khích DN sử dụng nhiều lao động ra khỏi vùng TP.HCM mà
thay vào đó thu hút có chọn lọc nhằm tăng giá trị gia tăng hoạt động sản xuất dệt may;
 Tăng cường vai trò liên kết và hợp tác trong cụm ngành của hiệp hội dệt may và VCCI

Ngoài nghiên cứu của IPP/CIEM (2013), nhiều nghiên cứu cung cấp những góc nhìn khác nhau
là cơ sở cung cấp một bức tranh đầy đủ trong nhận diện vị thế ngành dệt may Việt Nam trong
chuỗi giá trị toàn cầu. Một số kết quả phân tích và khuyến nghị làm cơ sở so sánh với chính sách
được ban hành.
Nhóm tác giả Đinh Công Khải và Đặng Thị Tuyết Nhung (2011) nghiên cứu ngành dệt may dưới
tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu. Một phát hiện quan trọng là phát triển vùng nguyên phụ liệu gặp
nhiều khó khăn do điều kiện tự nhiên không phù hợp, quy mô sản xuất manh mún, trình độ canh
tác lạc hậu và thiếu vắng của hệ thống thủy lợi. Nghiên cứu này chỉ ra dệt may Việt Nam chủ
yếu tập trung ở CMT, do phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu, năng suất lao động kém, hạn
chế tài chính và trình độ quản lý. Từ đây, khuyến nghị quy hoạch và xây dựng cụm ngành dệt
may thu hút FDI đầu tư thượng nguồn để DN chuyển từ CMT lên chức năng FOB.
Nghiên cứu của Dinh (2013) sử dụng lý thuyết chuỗi giá trị toàn cầu, chỉ ra đặc trưng chính về
ngành dệt may Việt Nam như cấu trúc, thách thức chính mà ngành đang đối mặt. Đáng lưu ý, vì
người mua cung cấp từ nguyên phụ liệu đến máy móc nên DN Việt Nam nhận hợp đồng thứ cấp
khó chuyển sang nhận hợp đồng trực tiếp. Một hệ quả khác, giá gia công là yếu tố chính khiến
người mua thay đổi nhà máy DN. Ba giải pháp được tác giả nêu ra là giảm thuế nguyên liệu sản
xuất đầu vào, tạo chuỗi giá trị mạnh bằng khuyến khích FDI liên kết với DN nội địa đầu tư dệt,
và phát triển khu công nghiệp mà DN thuê có thể “sản xuất ngay”.
Một nghiên cứu gần đây, Frederick (2017) chỉ ra hai vấn đề chính mà dệt may Việt Nam đang
đối mặt. Đầu tiên, các hiệp thương mại đòi hỏi Việt Nam sản xuất trong nước hoặc sử dụng
nguyên liệu nội khối trong khi hoạt động may xuất khẩu bị lệ thuộc vào vải nhập khẩu ngoại
khối3. Thứ hai, muốn cạnh tranh được trong dài hạn, Việt Nam cần di chuyển mô hình sản xuất
và bán sản phẩm ở mức giá thấp nhất. Xuất khẩu chủ yếu dựa vào mức giá rẻ không thể tồn tại
và tạo ra những hệ lụy lâu dài. Tác giả Frederick cho rằng Việt Nam cần đầu tư thu hút thượng
nguồn phục vụ sản xuất nội địa. Một trong cản trở hiện tại là hầu hết DN thượng nguồn lớn có
3

Nhập khẩu nguyên phụ liệu chủ yếu từ Hồng Kông, Trung Quốc, Hàn Quốc.





-13ngành dệt may (tính cuối 2010), tổng số DN khoảng 2500 tạo ra 2,5 triệu sản phẩm (2009) và
150 DN phụ trợ. Chính quyền địa phương hỗ trợ hệ thống khuyến khích liên kết với các thành
viên, tuyển dụng lao động có kỹ năng và quảng cáo sản phẩm địa phương. Các chính sách hỗ trợ
cụ thể gồm: (i) trung tâm đổi mới công nghệ thời trang Hổ Môn được thành lập năm 2010 giúp
hỗ trợ DN địa phương trong xây dựng thương hiệu, xác định phân khúc thị trường, quảng bá sản
phẩm, tìm nhà phân phối, cải tiến quản lý và tìm lao động có kỹ năng; (ii) nguồn cung tài năng
khoảng 300 sinh viên tốt nghiệp mỗi năm về kỹ thuật, thiết kế hoặc mẫu; và (iii) kế hoạch 5 năm
dành 1,5 tỷ RMB xây dựng thương hiệu chủ yếu qua sự kiện ‘Hội chợ Thời trang Trung Quốc’
tại Hổ Môn để liên kết giữa DN và quảng cáo cho DN may mặc thành công. Dẫn đến nhiều công
ty chuyển đổi thành mô hình OBM. Công ty lớn nhất tại Hổ Môn với khoảng 500 nhà thiết kế tạo
ra 3.000–4.000 mẫu mỗi mùa thời trang. Công ty nhỏ hơn trung bình có đội ngũ thiết kế chiếm
khoảng 5%. Các DN xây dựng năng lực quảng cáo, kiểm tra tiêu chuẩn hàng và kỹ năng quản lý
đáp ứng thị trường nội địa. Thách thức của Hổ Môn đang đối mặt là dịch chuyển lao động đến
các khu vực giá rẻ đáp ứng yêu cầu cạnh tranh về giá.
Ngoài ra, chính sách tại quận Dalang giúp đã thực hiện thành công nâng cấp chuỗi giá trị. Quận
Dalang, thuộc thành phố Đông Hoản, với 69 nghìn cư dân và hơn 400 nghìn người nhập cư,
được xem như một cụm chuyên sản xuất đồ may mặc xuất khẩu. Năm 2011, Dalang có hơn 3500
công ty dệt kim và phần lớn là công ty nhỏ; 80% sản phẩm được sản xuất bởi 100 công ty lớn
nhất. Chính quyền đã tổ chức các hoạt động như: (i) hội chợ khuyến khích sản xuất tại địa
phương, (ii) trợ cấp 2-4% giá bán cho máy móc dệt kim với công nghệ số hóa, (iii) đào tạo
chuyên viên đáp ứng khả năng thiết kế và vận hành máy công nghệ số hóa, và (iv) trung tâm thiết
kế tăng cường năng lực DN địa phương về ODM và OBM. Kết quả tạo ra mạng lưới các DN
Dalang sản xuất chủ yếu theo mô hình FOB và ODM cho hãng quốc tế với sản phẩm phân khúc
chất lượng cao hơn. Một số ít thực hiện OBM chỉ bán hàng được khi đi kèm với các chương
trình giảm giá hoặc gia tăng hoạt động quảng cáo. Một thách thức lớn nhất mà Dalang đang đối
mặt là duy trì khả năng cạnh tranh trước các nước Châu Á có mức lương thấp hơn.
Tóm lại, kinh nghiệm chính sách Trung Quốc là nhà nước đã có hỗ trợ cần thiết để mọi loại hình
DN, kể cả DNNVV tham gia ngày càng sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Mối liên kết cụm

duyệt Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam đến năm 2020, tầm
nhìn đến năm 2030 (gọi tắt là quy hoạch ngành năm 2014);
 Quyết định số 2146/QĐ-TTg ngày 01/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê
duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành công thương phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và phát triển bền vững giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;
 Quyết định 32/QĐ-TTg ngày 13/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
Chương trình đồng bộ phát triển và nâng cấp cụm ngành và chuỗi giá trị sản xuất các sản


-15phẩm có lợi thế cạnh tranh: Điện tử và công nghệ thông tin, dệt may, chế biến lương thực
thực phẩm, máy nông nghiệp, du lịch và dịch vụ liên quan.
Bảng 3.1 là bảng so sánh các hệ quan điểm phát triển ngành của quy hoạch ngành năm 2008,
năm 2014, và tiếp cận cụm ngành và chuỗi giá trị của nhóm nghiên cứu IPP/CIEM (2013).
Bảng 3.1. So sánh các quan điểm phát triển ngành dệt may
Quy hoạch phát triển ngành đến
2015, tầm nhìn 2020

Quy hoạch phát triển ngành đến
2020, tầm nhìn 2030

Nghiên cứu cụm ngành của
IPP/CIEM (2013)

Phát triển ngành theo hướng chuyên
môn hóa, hiện đại hóa nhằm tạo ra
bước nhảy vọt về chất và lượng sản
phẩm.

Phát triển ngành theo hướng hiện
đại, hiệu quả và bền vững; chuyển

nhiều lao động về các vùng nông
thôn, đồng thời phát triển thị trường
thời trang tại các đô thị và thành phố
lớn.

Cần hiểu và vận dụng quy luật thị
trường về xu hướng chuyển lao
động cũng như phát triển thị
trường thời trang dệt may.

Đa dạng hóa sở hữu, đa dạng hoá
quy mô và loại hình DN, huy động
mọi nguồn lực trong và ngoài nước
để phát triển ngành.

Huy động các nguồn lực để đầu tư
phát triển dệt may, kêu gọi đầu tư
nước ngoài đầu tư vào những lĩnh
vực mà trong nước còn yếu và thiếu
kinh nghiệm.

Tạo điều kiện tối đa cho khu vực
tư nhân phát triển. Tận dụng tối đa
cơ hội nguồn lực (cả trong và
ngoài nước) để nâng cấp chuỗi giá
trị và hoàn thiện cụm ngành trong
nước.

Phát triển nguồn nhân lực cả về số
lượng và chất lượng cho sự phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status