1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
Vật lí là một trong những môn học khó trong trường phổ thông, nếu
không có bài giảng, phương pháp phù hợp dễ làm cho học sinh thụ động tiếp
thu. Đã có hiện tượng một số bộ phận học sinh không muốn học vật lí, ngày
càng lạnh nhạt với giá trị thực tiễn của môn Vật lí.
Thực trạng này có nhiều nguyên nhân, nguyên nhân đầu tiên là do
chương trình hiện nay vẫn còn nặng về mặt kiến thức. Trong một tiết học, với
nội dung kiến thức tương đối nhiều, giáo viên cố gắng để chuyển tải kiến thức
cho học sinh, nên thời gian để liên hệ thực tế hoặc mở rộng, thực hiện các thí
nghiệm, nâng cao kiến thức là rất hạn chế. Hơn nữa, cơ sở vật chất dành cho
phòng học bộ môn Vật lí ở nhiều trường còn hạn chế nên thực hiện các thí
nghiệm cũng gặp nhiều khó khăn; học sinh ít có điều kiện tiếp xúc với thí
nghiệm thực hành để hiểu hơn về các hiện tượng thực tế của bài học. Đó là chưa
kể đến việc xét tổ hợp bộ môn vào ĐH, CĐ một số ngành học không có môn Vật
lí nên học sinh ít đầu tư vào môn học này.
Nguyên nhân thứ hai, chính là từ những người trực tiếp giảng dạy môn
học. Theo đó, còn giáo viên chưa quan tâm đúng mức tới đối tượng giáo dục;
chưa đặt ra cho mình nhiệm vụ và trách nhiệm nghiên cứu, hiện tượng dùng
đồng loạt cùng một cách dạy, một bài giảng cho nhiều lớp, nhiều thế hệ học trò.
Giáo viên dạy "chay" nhiều, mô tả hiện tượng vật lí bằng các thuật ngữ khoa học
trừu tượng và khó hiểu với học sinh. Giáo viên dạy vật lí nhưng xa rời kiến thức
thực tế trong khi đó vật lí lại là môn học gắn liền với thực nghiệm và thực tế.
Một số thầy, cô bước chân vào lớp, cầm viên phấn viết ngay đề bài và cứ thế
"độc diễn" tới cuối giờ học, không quan tâm tới phải đặt vấn đề vào bài và gắn
các ví dụ thực tế xung quanh cuộc sống học sinh vào bài học cho sinh động và
tăng hứng thú, hấp dẫn học sinh. Có giáo viên lại sợ mất thời gian, ngại phải
chuẩn bị…Việc chưa chú trọng đến thí nghiệm trong phòng học bộ môn cũng là
nguyên nhân khiến học sinh không hiểu rõ được hiện tượng thực tế, không quan
sát được hiện tượng, không được trực tiếp tiến hành thí nghiệm, từ đó kém hứng
thú, ghi nhớ bài học máy móc, nhanh quên kiến thức và vận dụng kiến thức vào
thu, khó hiểu nên các em rất ngại học, trong khi đó nếu xây dựng được hệ thống
ví dụ thực tế gắn với nội dung bài học mà gần gũi trong đời sống hằng ngày, bản
thân các em đã được gặp, nhận thức được thì các em rất hứng thú khi học tập, từ
đó nâng cao được chất lượng môn học.
Ngoài ra, một số ví dụ trong SGK chưa thực sự phù hợp với nhận thức,
hiểu biết của học sinh vùng núi, vùng sâu, vùng xa, do vậy việc xây dựng hệ
thống ví dụ thực tế là cần thiết góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong
giai đoạn hiện nay.
Đồng thời nội dung của đề tài cũng có thể đưa vào kế hoạch của tổ
chuyên môn nhằm hướng tới đổi mới thực sự sinh hoạt tổ chuyên môn.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu hệ thống ví dụ thực tế trong đời sống, kĩ thuật gần với
nhận thức, cuộc sống sinh hoạt của học sinh để minh họa cho các bài giảng
nhằm tạo hứng thú học tập môn Vật lí của học sinh trường THPT Hà Văn Mao,
qua đó nâng cao chất lượng dạy và học môn vật lí ở nhà trường.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
Trong khi làm đề tài này tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
* Phương pháp nghiên cứu lí luận: thông qua các tài liệu, văn bản của
Đảng, Nhà nước, của ngành bản thân tôi đã nghiên cứu các vấn đề liên quan đến
đề tài.
* Phương pháp thực nghiệm: Tổ chức triển khai đề tài ở 02 nhóm lớp,
nhóm lớp thực nghiệm gồm 03 lớp (10A8, 11A3, 12A3), nhóm lớp đối chứng 03
lớp (10A6, 11A2, 12A2), các lớp này tương đồng về mức độ nhận thức, học lực,
sĩ số học sinh.
* Phương pháp vấn đáp, quan sát thực tế: Điều tra sự hứng thú học tập
học sinh qua vấn đáp, phiếu điều tra, quan sát thực tế khi giảng dạy.
* Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: Thu thập và xử lí số liệu trước, và
sau khi thực hiện đề tài để thấy được hiệu quả của đề tài trong giảng dạy môn
vật lí ở trường THPT Hà Văn Mao.
* Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm: Sau khi thực hiện đề tài, bản
biết, không hiểu nên còn gây khó khăn trong quá trình học tập nhất là với các
em học sinh miền núi, vùng còn nhiều học sinh đồng bào dân tộc thiểu số.
Chẳng hạn: ví dụ đặt vấn đề vào bài Tính tương đối của chuyển động. Công
thức cộng vận tốc (SGK Vật lí 10 CB, trang 35) có trích dẫn ví dụ "Một diễn
viên xiếc đứng trên lưng một con ngựa đang phi, tay quay tít một cái gậy, ở hai
đầu có hai ngọn đuốc. Đối với diễn viên thì hai ngọn đuốc đó chuyển động tròn.
Còn đối với khán giả thì sao?" [1], ở ví dụ này học sinh rất khó hình dung được
hiện tượng xảy ra vì chưa bao giờ được xem; ví dụ đặt vấn đề vào bài Sự nở vì
nhiệt của Vật rắn (SGK Vật lí 10 CB, trang 194) "Tại sao giữa hai đầu thanh
ray của đường sắt lại phải có một khe hở (Hình 36.1)?"[1], ở ví dụ này nhiều học
sinh chưa được nhìn thấy tận mắt đường ray, mà chỉ thấy hình ảnh qua ti vi, điện
thoại nên cũng không rõ lắm đường sắt có khe hở, hở như thế nào?; ví dụ về Hồ
quang điện trong bài Dòng điện trong chất khí (Vật lí 11 CB, trang 91), ở ví dụ
này học sinh không hình dung được hồ quang điện là gì? Chưa từng gặp trong
thực tế nên chưa có nhận thức về nó...ngoài ra, số lượng ví dụ thực tế minh họa
cho kiến thức bài học trong SGK còn ít, trong quá trình giảng dạy các thầy, cô
giáo cần lấy thêm các ví dụ để làm cho bài học sinh động, tránh nhàm chán, kích
thức sự hứng thú học tập cho học sinh.
3
Đa số các trường THPT trên địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa nói
chung, trường THPT Hà Văn Mao nói riêng thiếu phòng học bộ môn, thiếu các
thiết bị thí nghiệm thực hành, thí nghiệm biểu diễn nên rất khó khăn cho giáo
viên trong quá trình giảng dạy, nhiều tiết dạy chỉ bằng phấn trắng, bảng đen,
giáo viên truyền đạt kiến thức một chiều dẫn đến chất lượng dạy và học còn
thấp, đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến số lượng học sinh bỏ
học giữa chừng còn nhiều.
Qua khảo sát thực tế bằng phiếu điều tra, và quan sát thực tế khi giảng
dạy, dự giờ thì có đến hơn 55% học sinh ở trường THPT Hà Văn Mao không
2
1
4,4
5,9
8,8
2,3
6,1
2,8
10
9
9
9
8
8
Sĩ số
45
34
34
44
33
35
Tốt
22,2
26,5
30,3
40,0
Kém
SL
%
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
Kết quả học tập bộ môn học kì I, năm học 2017 - 2018 của học sinh còn
yếu, số lượng học sinh khá giỏi ít. Cụ thể:
Lớp
Sĩ số
10A6
11A2
12A2
SL
%
5
7
8
6
5
6
11,1
20,6
21,6
13,6
15,2
17,1
Học lực
Trung bình
SL
%
15
12
11
15
13
13
33,3
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
Như vậy, việc thay đổi phương pháp trong dạy học vật lí là cần thiết
nhằm thay đổi động cơ, thái độ, mức độ nhận thức, kết quả học tập của học sinh,
từ đó đạt được mục đích giáo dục đề ra.
2.3. Kinh nghiệm xây dựng hệ thống ví dụ thực tế minh họa bài học
nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Vật lí ở trường THPT Hà Văn Mao
2.3.1. Các bước xây dựng hệ thống ví dụ minh họa bài học
Bước 1: Xác định rõ mục tiêu, nội dung kiến thức; đối tượng học sinh.
Bước 2: Nghiên cứu, lựa chọn các ví dụ trong thực tế gần gũi với cuộc
sống của học sinh, áp dụng trong kĩ thuật, sinh hoạt hàng ngày liên quan đến nội
dung bài học. Trong đó có thể phân loại các ví dụ với mục đích khác nhau theo
các vấn đề như sau:
4
- Ví dụ để đặt vấn đề vào bài học: nhằm tạo không khí thoải mái, sự
hứng thú, tập trung của học sinh.
- Ví dụ minh họa: dùng để minh họa cho từng nội dung kiến thức trong
bài học, có thể là các ví dụ đơn lẻ, hoặc là ví dụ cho nhóm kiến thức nhằm làm
r
thức P mg .
- Đối tượng học sinh: Là học sinh các lớp 10 CB, đa số có học lực trung
bình và yếu.
Bước 2: Xây dựng hệ thống ví dụ
- Ví dụ đặt vấn đề vào bài học:
+ VD 1: Tại sao khi nhổ cỏ dại không nên dứt quá đột ngột, kể cả khi rễ
cỏ bám trong đất không được chắc?
+ VD 2: Tại sao khi tra dao vào cán, người ta thường dựng dao lên và
đóng mạnh đầu cán dao vào bê tông, vật cứng?
+ VD 3: Dùng tay đẩy chiếc xe rùa không và chiếc xe rùa chở đầy đất,
nếu dùng sức như nhau thì chiếc xe rùa không sẽ chuyển động nhanh hơn, chiếc
xe chở đất chuyển động chậm hơn, vì sao?
5
- Ví dụ minh họa cho các nội dung bài học:
+ VD 4: Dùng búa đóng đinh lên tường thì búa phải tác dụng một lực lên
đinh, gây ra gia tốc cho đinh, làm đinh chuyển động cắm sâu vào tường. (Minh
họa nội dung ôn lại kiến thức về lực).
+ VD 5: Khi nhảy từ bậc cao xuống ta phải gập chân lại vì khi nhảy
xuống thì toàn bộ cơ thể mình đang di chuyển theo chiều từ trên xuống. Chân
đụng đất dừng lại nhưng phần cơ thể trên chân vẫn chuyển động từ trên xuống
theo quán tính, nếu không gập chân lại thì sẽ gây ra chấn thương cho đầu
gối. (Minh họa cho nội dung quán tính của vật).
+ VD 6: Khi phơi chăn bông dày, người ta thường lấy một cây gậy để
đập vào chăn cho sạch bụi. Khi chăn đang đứng yên thì các hạt bụi bám vào
chăn cũng đứng yên, khi ta đập vào chăn thì chăn chuyển động, trong khi đó các
hạt bụi vẫn bảo toàn trạng thái đứng yên của mình nên chăn chuyển động, bụi ở
lại. (Minh họa cho nội dung quán tính của vật).
thêm được một quãng đường nữa rồi mới dừng lại? Quãng đường xe đạp đi
thêm được dài hay ngắn phụ thuộc vào yếu tố nào? Vì sao?
Mục đích: Ví dụ này học sinh cần vận dụng kiến thức về quán tính và
tìm hiểu thêm tác dụng của lực ma sát.
6
+ VD 9: Hai người A và B đi hai chiếc xe gắn máy, A đi xe Wave 110
RSX có dung tích xi lanh 109,1 cc, khối lượng 100kg; còn B sử dụng xe Exciter
150cc GP 2016 có dung tích xi lanh 149,7cc, khối lượng 115kg thì xe nào có khả
năng tăng tốc nhanh hơn? Vì sao?
Mục đích: Qua ví dụ học sinh hiểu được khối lượng hai xe chênh nhau
không đáng kể, xe có công suất lớn hơn thì động cơ sinh công lớn hơn, nên lực
phát động lớn, theo định luật II Niu-tơn thì gia tốc xe lớn do vậy xe Exciter có
khả năng tăng tốc nhanh hơn.
Bước 3: Sử dụng có hiệu quả hệ thống ví dụ.
- VD 1, VD 2, VD 3: Giáo viên trình bày ví dụ, đặt câu hỏi để học sinh
giải thích theo hiểu biết của mình. Giáo viên đặt vấn đề vào bài.
- VD 4, VD 5, VD6, VD 7: sử dụng minh họa cho các nội dung tương
ứng của bài học, giáo viên sử dụng thông qua máy chiếu, tranh vẽ.
- VD 8, VD 9: Giáo viên giao nhiệm vụ học tập về nhà cho học sinh tìm
hiểu và nộp lại kết quả thu hoạch vào giấy.
Bước 4: Rút kinh nghiệm, điều chỉnh
Sau khi sử dụng hệ thống ví dụ cần rút kinh nghiệm, điều chỉnh phù hợp
ở các lớp khác nhau, đảm bảo linh hoạt, có hiệu quả. Có thể đổi ví dụ, giảm hoặc
tăng số lượng ví dụ nhưng tránh dàn trải, gây "loãng" tiết học.
* Tiết 60 - Bài 36: Sự nở vì nhiệt của Vật rắn (Vật lí 10 CB)
Bước 1: Xác định mục tiêu bài học, đối tượng học sinh.
- Viết được các công thức nở dài và nở khối.
- Vận dụng được công thức nở dài và nở khối của vật rắn để giải các bài
chỉ cần hơ nóng phần nút chai khi đó nút chai sẽ dãn nở dễ dàng vặn nút hơn. (Ví dụ
minh họa cho phần sự nở khối).
- Ví dụ củng cố kiến thức bài học:
+ Giáo viên lấy lại hai ví dụ ở phần đặt vấn đề vào bài.
+ Cho học sinh vận dụng kiến thức bài học, giải thích.
+ GV chốt lại câu trả lời:
Giải thích VD 1: Khi thời tiết thay đổi nhiệt độ thì tường nhà cũng thay
đổi theo, trong đó có sự co giãn vì nhiệt, trong khi đó móng nhà nằm sâu dưới
đất, khó bị thay đổi do sự thay đổi nhiệt độ môi trường trên mặt đất. Nhà càng
dài thì sự chênh lệch vì sự co dãn của tường và chân móng càng nhiều, do đó có
thể làm cho tường bị nứt vỡ, thậm chí có thể vỡ tan tành! Nếu nhà dài mà được
xây tách làm từng đoạn thì sự chênh lệch về co dãn giữa móng và tường không
nhiểu nên không đủ làm cho tường bị nứt, vỡ.
Giải thích VD 2: Khi tra khâu dao vào dao, vì khâu làm bằng kim loại
nên khi nung nóng khâu dao nở ra vì nhiệt, vòng khâu to hơn cán dao nên ta tra
khâu vào dễ dàng. Sau khi tra khâu vào ta nhúng nhanh vào nước lạnh để khâu
co lại, xiết chặt lấy cán dao.
- Ví dụ nâng cao:
8
+ VD 6: Trên Facebook tối
1/8/2015 lan truyền bức ảnh và thông
tin tại vị trí phần cầu chính Phú Mỹ và
phần cầu dẫn có vết hở lớn. Kèm bức
ảnh là chia sẻ: "Hiện trạng cầu Phú
Mỹ sếp mình mới chụp hình được, cây
cầu phần bê tông dưới bị nứt ra, rất dễ
xảy ra tình trạng sụp cầu..." [5]. Hình
Vận dụng được hệ thức của định luật khúc xạ ánh sáng.
+ Nêu được chiết suất tuyệt đối, chiết suất tỉ đối là gì.
+ Nêu được tính chất thuận nghịch của sự truyền ánh sáng và chỉ ra sự
thể hiện tính chất này ở định luật khúc xạ ánh sáng.
- Đối tượng học sinh: Lớp 11 CB, đa số học sinh có lực học trung bình,
yếu.
Bước 2: Xây dựng hệ thống ví dụ
9
- Ví dụ đặt vấn đề vào bài học:
+ VD 1: Vì sao khi một thanh hoặc một que thẳng cắm nghiêng trong
một cốc nước, thanh không còn thẳng nữa, mà nghiêng đi một góc khác? Khi rút
ống hút ra khỏi cốc, hoặc cắm thẳng đứng ống hút vào cốc, ta không quan sát
thấy hiện tượng trên nữa?[5].
+ VD 2: Vì sao ta nhìn thấy hiện tượng bầu trời đêm đầy sao lấp lánh?[5]
-
Ví dụ minh họa cho các nội dung bài học:
+ VD 3: Khi đi qua các con suối, nước trong chúng ta thấy các viên sỏi
rất gần mặt nước, tuy nhiên khi ta lội xuống nước thì thấy nước sâu hơn ta thấy
là do chúng ta thấy ảnh của các viên sỏi qua hiện tượng khúc xạ ánh sáng khi
truyền từ nước ra không khí (Ví dụ minh họa cho hiện tượng khúc xạ ánh sáng
trong thực tế, giáo viên kết hợp vẽ hình lên bảng).
- Ví dụ củng cố, vận dụng:
+ Học sinh vận dụng kiến thức học được về hiện tượng khúc xạ ánh
sáng, định luật khúc xạ ánh sáng để giải thích các hiện tượng xảy ra ở các ví dụ
VD 1, VD 2.
+ Giáo viên nhận xét, bổ sung thông tin.
Mặt trời, nhưng với điều kiện tia nắng phải bắt gặp giọt nước dưới một góc
tương đối nhỏ, gọi là góc lệch của cầu vồng (khoảng 40 độ so với mặt đất). Điều
đó giải thích tại sao ta lại nhìn thấy cầu
vồng vào buổi sáng hoặc buổi chiều, chứ
không bao giờ vào buổi trưa.
Cầu vồng thực chất có hình tròn.
Tuy nhiên, chỉ các phi công khi ở trong
điều kiện đặc biệt trên bầu trời mới nhìn
thấy hình tròn hoàn hảo của nó. Góc độ của
ánh sáng Mặt Trời khi đi qua các hạt nước
trong không khí khiến chúng ta chỉ thấy
một hình vòng cung nếu nhìn từ mặt đất.
Ngoài cầu vồng mặt trời còn có cầu vồng mặt trăng, cầu vồng trắng (cầu
vồng sương mù).
Bước 3: Sử dụng có hiệu quả hệ thống ví dụ
- Các ví dụ VD 1, VD 2 giáo viên trình bày cho học sinh cả lớp, lớp chia
làm 3 nhóm thảo luận và cử đại diện trả lời theo hiểu biết của mình. Giáo viên
để mở vấn đề và định hướng vào nội dung bài học.
11
- Ví dụ VD 3: Sau khi nghiên cứu hiện tượng khúc xạ ánh sáng, định luật
khúc xạ ánh sáng, cách vẽ ảnh điểm sáng qua hiện tượng khúc xạ giáo viên vận
dụng kiến thức bài học giải thích kĩ hiện tượng trong ví dụ, học sinh nhận thức.
- Ví dụ VD 4: Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh tìm hiểu qua tài
liệu, mạng internet rồi làm bài thu hoạch, tiết sau sẽ trình bày trước cả lớp. Giáo
viên đánh giá mức độ tự học, tự nghiên cứu của học sinh.
Bước 4: Rút kinh nghiệm, điều chỉnh
- Giáo viên cần giúp học sinh vận dụng kĩ, chi tiết qua các ví dụ, từ đó
- Ví dụ củng cố kiến thức bài học:
+ Học sinh vận dụng kiến thức đã học, giải thích các hiện tượng trong
các ví dụ VD 1, VD 2.
+ Giáo viên nhận xét, bổ sung thông tin.
Giải thích VD 1: Khi chuyển động trên đường ôtô, xe máy…sẽ gặp phải
ổ gà, ổ voi, các vị trí mấp mô trên đường…, xe sẽ nảy lên rồi dao động làm
12
người ngồi trên xe rất khó chịu, khi đó thiết bị giảm xóc sẽ làm cho khung xe tắt
nhanh dao động, làm cho người ngồi trên xe thoải mái hơn.
Giải thích VD 2: Khi ta gánh nước, bản thân nước trong thùng có một
tần số dao động riêng, khi người chuyển động nước trong thùng chịu tác dụng
cưỡng bức theo tần số chuyển động của người, khi tần số chuyển động rất gần
tần số của nước thì nước bị sóng sánh rất mạnh, để hạn chế hiện tượng này
chúng ta có thể thả thêm lá cây, giấy nilong vào trong thùng nước.
- Ví dụ nâng cao:
+ VD 7: Năm 1906, một trung đội bộ bộ binh (36 người) đi dậm chân
đều qua một cây cầu bắc ngang sông Phô-tan-ka ở Xanh Pê-téc-bua (Nga). Cây
cầu này được thiết kế cho ba trăm người đi qua cùng lúc, tuy nhiên cầu đã bị sập
[4]. Em hãy giải thích vì sao? Lấy thêm một số ví dụ trong thực tế.
Giải thích VD 7: Bản thân cây cầu có một tần số dao động riêng f 0. Khi
trung đội bộ binh đi qua, dậm chân đều thì cây cầu chịu ngoại lực cưỡng bức
tuần hoàn với tần số f (Tần số dậm chân), khi f ≈ f 0 thì biên độ dao động cây cầu
tăng nhanh đến giá trị cực đại do hiện tượng cộng hưởng cơ, biên độ dao động
lớn khiến các thông số kĩ thuật không còn nằm trong ngưỡng an toàn, kết quả
cầu bị sập.
Bước 3: Sử dụng có hiệu quả hệ thống ví dụ.
- Các VD1, VD 2 giáo viên kể thông qua các câu chuyện trong cuộc sống
thường ngày để học sinh nhận thức vấn đề, giải thích bằng kiến thức đã có; giáo
Lớp
Sĩ số
10A6
11A2
12A2
10A8
11A3
12A3
43
34
34
43
33
35
Tốt
SL
%
3
2
3
5
4
5
37,1
16
15
13
21
16
15
37,2
44,1
38,2
48,9
48,5
42,9
15
6
8
5
0
2
34,9
17,7
23,6
11,6
0
5,7
43
34
34
43
33
35
Giỏi
SL
%
1
2
1
3
3
2
2,3
5,9
2,9
7,0
9,1
5,7
Khá
SL
%
6
40,0
Yếu
SL
%
22
15
13
11
4
7
5,1
44,1
38,2
25,6
12,1
20,0
Kém
SL
%
0
0
0
0
0
0
SKKN này phù hợp với việc giảng dạy môn Vật lí ở trường THPT Hà
Văn Mao nói riêng và các trường THPT miền núi, vùng sâu, vùng xa nói chung
khi trình độ học sinh, sự hiểu biết, khả năng tự học còn rất yếu, trước hết cần
làm cho học sinh cảm thấy dễ tiếp thu, có thể trả lời được, có thể làm được thì
các em sẽ tự tin hơn trong học tập, từ đó thấy có động lực để học tập, không cảm
thấy xấu hổ với bạn bè. Đồng thời SKKN cũng là một nội dung sinh hoạt
chuyên môn trong nhà trường góp phần nâng cao chất lượng tổ, nhóm chuyên
môn.
Với nội dung sáng kiến kinh nghiệm này có thể mở rộng ra các môn học
khác như Hóa học, Sinh học, Công nghệ…
3.2. Kiến nghị
Để nâng cao chất lượng môn Vật lí nói riêng và các môn học thực
nghiệm nói chung, nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông
mới cần sự đổi mới từ bản thân các thầy, cô giáo, sự quan tâm của chuyên môn
nhà trường, của Sở GD&ĐT, sự quan tâm của toàn xã hội. Tôi có một số kiến
nghị như sau:
- Đối với giáo viên: Cần tích cực tìm tòi, đổi mới cách làm trong công
tác, thay đổi từ những cái nhỏ nhất nhằm nâng cao chất lượng môn học, tạo sự
hứng thú học tập trong học sinh, kích thích khả năng tìm tòi, tự học của học
sinh, gắn kiến thức bộ môn với đời sống hằng ngày, gắn với nghề nghiệp, gắn
với bảo vệ môi trường, tiết kiệm nhiên liệu…
- Đối với tổ chuyên môn: Cần tích cực đổi mới sinh hoạt theo hướng
nghiên cứu bài học, mỗi buổi sinh hoạt phải có chủ đề cụ thể, tập trung làm rõ
nguyên nhân tồn tại, hạn chế và mạnh dạn thử nghiệm những cách làm mới,
cách làm hay, sáng tạo. Đưa nội dung đề tài xây dựng hệ thống ví dụ thực tế
minh họa bài học vào sinh hoạt tổ chuyên môn, giảng dạy thực nghiệm rút kinh
nghiệm cho tổ, nhóm khi triển khai thực hiện.
- Đối với nhà trường: Cần quan tâm đầu tư cơ sở vật chất phục vụ công
tác dạy và học, trong đó việc đầu tư phòng bộ môn, trang thiết bị thí nghiệm, các