z
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
NGUYỄN XUÂN NAM
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG
CÂU HỎI, THIẾT KẾ BÀI GIẢNG
THEO HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH CỰC,
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY
VÀ HỌC PHẦN SINH HỌC TẾ BÀO,
SINH HỌC 10 - CTC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Sinh học
Người hướng dẫn khoa học
ThS. NGUYỄN ĐÌNH TUẤN
Hà Nội, 2011
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
LỜI CẢM ƠN
Trường ĐHSP Hà Nội 2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là khóa luận tốt nghiệp của riêng tôi. Các số liệu
kết quả trong khóa luận tốt nghiệp là khách quan, trung thực và chưa có ai
công bố trong bất cứ công trình nào khác.
Hà Nội, ngày 10, tháng 05, năm 2011
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Xuân Nam
Nguyễn Xuân Nam
2
K33A - Sinh - KTNN
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
Kỹ thuật nông nghiệp
Giáo sư
: GS
Phó giáo sư
: PGS
Tiến sĩ
: TS
Thạc sĩ
: ThS
Thành phố
: TP
Khoa học kỹ thuật
: KH - KT
Ađênôzin triphôtphat
: ATP
Nicôtinamit ađênin đinuclêôtit
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN
1
LỜI CAM ĐOAN
2
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
3
MỤC LỤC
4
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
7
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
7
2. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
9
10
4.2. Phương pháp quan sát sư phạm
10
4.3. Phương pháp chuyên gia
10
5. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
10
6. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
11
PHẦN 2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
12
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
12
1. LƯỢC SỬ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
12
2.2. Bản chất của phương pháp tích cực
15
2.2.1. Phương pháp tích cực là gì?
15
2.2.2. Đặc trưng cơ bản của phương pháp tích cực
15
2.3. Bản chất của câu hỏi
16
2.3.1. Khái niệm câu hỏi
16
2.3.2. Ý nghĩa của câu hỏi
17
2.3.3. Các dạng câu hỏi
17
2.3.4. Nguyên tắc xây dựng câu hỏi
22
2.2.1. Chuẩn kiến thức
22
2.2.2. Chuẩn kĩ năng
23
CHƯƠNG 3. XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY
HỌC CHƯƠNG III, PHẦN SINH HỌC TẾ BÀO, SINH HỌC 10 CTC
24
Bài 13. Khái quát về năng lượng và chuyển hóa vật chất
24
Bài 14. Enzim và vai trò của enzim trong quá trình chuyển hóa vật chất
25
Bài 16. Hô hấp tế bào
26
Nguyễn Xuân Nam
36
Bài 16. Hô hấp tế bào
43
Bài 17. Quang hợp
50
2. NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG
57
2.1. Mục đích đánh giá
57
2.2. Nội dung đánh giá
57
2.3. Đối tượng và phương pháp đánh giá
57
2.4. Nhận xét của giáo viên
57
Trường ĐHSP Hà Nội 2
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thế kỷ XXI, thế kỷ của nền văn minh nhân loại, thế kỷ của cuộc cách
mạng lớn thời đại như cách mạng truyền thống, cách mạng công nghiệp và sự
phát triển như vũ bão của KH - KT tác động mạnh mẽ đến toàn bộ đời sống
xã hội.
Ở Việt Nam, nhờ có sự kết hợp những thành tựu đó của thế giới cùng
với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tạo nên những chuyển
biến lớn trong quá trình xây dựng và phát triển của nước nhà. Đó là nền kinh
tế gia tăng, đời sống xã hội được nâng cao…Đi đôi với KH - KT phát triển,
thì khối lượng tri thức mà con người cần có trong xã hội mới tăng lên với tốc
độ cực kỳ nhanh, cứ khoảng 4 - 5 năm thì khối lượng tri thức lại tăng lên gấp
đôi và luôn đổi mới.
Trước tình hình đó, để thoát khỏi tình trạng kém phát triển, lạc hậu.
Đảng và Nhà nước đã và đang đề ra những mục tiêu phấn đấu hoàn thành mục
tiêu trở thành nước công nghiệp phát triển vào năm 2020, Nghị quyết của
Đảng đã khẳng định, “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu” và xây dựng
chiến lược phát triển giáo dục 2006 - 2010 với mục tiêu quan trọng là:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ
động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn
học, bồi dưỡng khả năng tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào
thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui và hứng thú học tập của
học sinh”.
Như vậy đổi mới phương pháp dạy học là yêu cầu tất yếu khách quan
của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Nâng cao chất lượng
dạy và học là vấn đề luôn được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội quan tâm. Vì
và nâng cao ở tất cả các trường THPT từ năm 2006 - 2007. Nội dung SGK
Sinh học 10 - CTC có nhiều đổi mới so với SGK Sinh học 10 cũ. Do đó việc
phân tích nội dung là yêu cầu cấp thiết của thực tiễn giáo dục phổ thông hiện
nay. Để có bài giảng tốt thì khâu phân tích nội dung và xây dựng bài giảng có
sử dụng câu hỏi phát huy tính tích cực của học sinh là khâu quan trọng. Bởi lẽ
bài giảng ngoài những kiến thức cơ bản trong SGK, giáo viên cần phải bổ
sung kiến thức phù hợp với sự phát triển của khoa học và yêu cầu của thực
tiễn làm cho bài giảng sinh động. Trong khi đó, việc triển khai các lớp bồi
dưỡng giáo viên thực hiện nội dung sách giáo khoa theo hướng dạy học tích
cực, chưa được tiến hành thường xuyên, sâu rộng ở tất cả các ở tất cả các
Nguyễn Xuân Nam
8
K33A - Sinh - KTNN
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
trường THPT, đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa. Các sinh viên sư phạm chưa
giành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu SGK. Vì vậy phân tích SGK, xác
định lôgíc và các thành phần kiến thức đặc biệt là những kiến thức bổ sung và
xây dựng hệ thống câu hỏi là việc làm cần thiết đối với giáo viên ở trường
THPT. Giải quyết vấn đề này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong
việc soạn giáo án giảng dạy đặc biệt là với sinh viên mới ra trường.
Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề, chúng tôi chọn đề tài: “Xây
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Học sinh lớp 10 - trường THPT
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu chương III “Chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tế
bào”. Phần Sinh học tế bào, SGK Sinh học 10 - CTC.
3.3. Thời gian tiến hành nghiên cứu đề tài
Từ tháng 9/2010 đến tháng 5/2011.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nhằm xác định cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu giáo trình lí luận
dạy học, kiến thức cơ bản về sinh học tế bào, sách giáo khoa và các tài liệu có
liên quan làm cơ sở cho việc xây dựng hệ thống câu hỏi và sử dụng chúng để
tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học sinh học tế bào theo
hướng dạy học tích cực.
4.2. Phương pháp quan sát sư phạm
Tìm hiểu tình hình dạy và học Sinh học 10 - CTC, ở trường THPT
Nguyễn Văn Huyên, TP Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. Bằng phương pháp
phỏng vấn trao đổi trực tiếp với cán bộ giáo viên trong tổ chuyên môn giảng
dạy bộ môn sinh học 10, dự giờ, rút kinh nghiệm.
4.3. Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến đánh giá của giáo viên bộ môn giảng dạy trực tiếp bộ môn
sinh học 10 và tổ chuyên môn trong trường, bằng phiếu đánh giá theo những
tiêu chí của đề tài.
5. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Cung cấp tư liệu, tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy
sinh học 10 - CTC ở các trường THPT và công tác rèn luyện nghiệp vụ sư
phạm, thực tập sư phạm ở các trường Đại học sư phạm.
11
K33A - Sinh - KTNN
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
PHẦN 2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. LƯỢC SỬ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Vào những năm 1920, lần đầu tiên PPDH tích cực đã xuất hiện ở Anh
với sự hình thành nhà trường kiểu mới. Trong đó chú ý tới sự phát triển trí tuệ
của HS, khuyến khích các hoạt động độc lập, tự quản của HS. Sau gần 50
năm thì phát triển mở rộng ở hầu hết các nước: Anh, Pháp, Đức, Mỹ và Liên
Xô (cũ).
Năm 1945, xuất hiện ở Pháp với hoạt động của lớp học tùy thuộc vào
sáng kiến và hứng thú học tập của HS. Đến những năm 1970 - 1980 thì đã áp
dụng đại trà PPDH tích cực từ tiểu học đến trung học.
Ở Liên Xô (cũ), Đức, Ba Lan: ngay từ những năm 1950 - 1960, họ đã
chú ý đến tính tích cực hoạt động của HS. Ở Liên Xô, nghiêm cấm GV đọc,
cung cấp những định nghĩa, khái niệm cho HS, yêu cầu GV phải là người
hướng dẫn để HS tự khái quát khái niệm, phát biểu được nội dung khái niệm,
sau đó GV tổng kết lại.
triển trí thông minh cho HS.
Năm 1974, công trình của Lê Nhân: kiểm tra kiến thức bằng phiếu
kiểm tra đánh giá.
Sau năm 1980, có nhiều công trình như:
GS Đinh Quang Báo và PGS Nguyễn Đức Thành: phân tích các
phương pháp hình thành các kiến thức khái niệm, quá trình, quy luật sinh học
theo PPDH tích cực.
PGS Nguyễn Quang Vinh và Bùi Văn Sâm: nghiên cứu về cải tiến và
áp dụng các thí nghiệm để nâng cao hiệu quả dạy học sinh học.
TS Vũ Đức Lưu và Lê Đình Trung: nghiên cứu thành công phương
pháp sử dụng bài toán nhận thức nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của
HS khi dạy học phần cơ sở di truyền học.
Tháng 12 - 1995, tổ chức hội thảo quốc gia về đổi mới PPDH theo
hướng hoạt động hóa người học. Hội thảo khẳng định: chúng ta phải đổi mới
PPDH theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của người học bằng cách
tổ chức các hoạt động của HS. Để đổi mới dạy học thì phải đổi mới toàn diện,
cả về mục tiêu, nội dung và phương pháp, chúng ta bắt đầu bắt tay vào xây
dựng lại chương trình của các bậc học.
Nguyễn Xuân Nam
13
K33A - Sinh - KTNN
Khóa luận tốt nghiệp
14
K33A - Sinh - KTNN
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Học sinh chủ động linh hoạt những kiến thức, kĩ năng đã học để nhận
biết các vấn đề mới.
Học sinh mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn những thông tin
tươi mới lấy từ những nguồn khác nhau, có khi vượt ra ngoài phạm vi bài học,
môn học.
Ngoài ra còn biểu hiện ở các mặt xúc cảm và ý chí như: thờ ơ hay hào
hứng, phớt lờ hay ngạc nhiên, thích thú hay buồn chán trước nội dung bài học
hoặc khi tìm lời giải cho một bài tập.
Bởi vậy nên tính tích cực học tập của học sinh thể hiện ở các cấp độ
khác nhau từ bắt chước - tìm tòi - sáng tạo.
2.2. Bản chất của phương pháp tích cực
2.2.1. Phương pháp tích cực là gì?
Phương pháp tích cực nói tới một nhóm phương pháp dạy học theo
hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học.
Tính tích cực biểu hiện trong hoạt động, nhưng đó phải là những hoạt
động chủ động của chủ thể. Vì vậy phương pháp dạy học tích cực, thực chất
là cách dạy hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ
động.
thể, phối hợp với nhau để cuối cùng đạt được mục tiêu chung.
Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò: trong học tập, việc
đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều
chỉnh hoạt động của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng
và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.
Vai trò chủ đạo của giáo viên: để thực hiện phương pháp dạy học tích
cực vai trò của giáo viên không hề bị hạ thấp mà trái lại còn có yêu cầu cao
hơn. Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm
lành nghề, có đầu óc sáng tạo và nhạy cảm mới có thể tổ chức, hướng dẫn các
hoạt động độc lập của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của
giáo viên.
2.3. Bản chất của câu hỏi
2.3.1. Khái niệm câu hỏi
Câu hỏi là mệnh đề chứa đựng cái đã biết và cái chưa biết. Khi chủ thể
giải quyết tốt mối quan hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết trong câu hỏi thì
lúc đó câu hỏi mới trở thành sản phẩm của quá trình nhận thức.
Câu hỏi chính là một yêu cầu, một đòi hỏi, một mệnh đề đòi hỏi cần
phải trả lời, phải nghiên cứu thực hiện.
Nguyễn Xuân Nam
16
K33A - Sinh - KTNN
Khóa luận tốt nghiệp
17
K33A - Sinh - KTNN
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Câu hỏi yêu cầu phân tích, so sánh.
Câu hỏi yêu cầu tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa.
Câu hỏi liên hệ thực tiễn.
Câu hỏi kích thích tư duy sáng tạo.
2.3.4. Nguyên tắc xây dựng câu hỏi
Việc tổ chức cho học sinh trả lời câu hỏi là hình thức để cho học sinh tự
chiếm lĩnh tri thức mới, củng cố, hoàn thiện kiến thức, hoặc để kiểm tra đánh
giá mức độ lĩnh hội tri thức. Đó cũng chính là bản chất của phương pháp sử
dụng các câu hỏi trong khâu soạn bài. Để phát triển các phương pháp dạy học
tích cực, trong khâu soạn bài cần coi trọng việc chuẩn bị câu hỏi. Các câu hỏi
chủ yếu được xây dựng dựa trên 5 nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc thứ nhất, quán triệt mục tiêu dạy - học trong bài.
Nguyên tắc thứ hai, đảm bảo tính chính xác của nội dung.
Nguyên tắc thứ ba, đảm bảo phát huy tính tích cực của học sinh.
Nguyên tắc thứ tư, đảm bảo nguyên tắc hệ thống trình tự lôgíc phù hợp
theo cấu trúc bài học.
Nguyên tắc thứ năm, đảm bảo tính thực tiễn.
Câu hỏi phải chứa đựng điều đã biết và điều chưa biết, nội dung câu hỏi
độ của học sinh hay không, có đủ rõ ràng chính xác khoa học hay không.
Nhưng giáo viên chưa có kinh nghiệm cần chú ý khâu này, và cách bố trí
những câu hỏi vào đúng các phần trọng tâm đó để học sinh lĩnh hội kiến thức
bằng tư duy tích cực (mỗi bài học cần có một số câu hỏi then chốt nhằm vào
mục tiêu bài học sau đó sẽ phát triển thêm các câu hỏi phụ theo diễn biến bài
học). Chú ý tới tỷ lệ câu hỏi loại sự kiện và loại câu hỏi có yêu cầu cao về
nhận thức (hay nhóm câu hỏi đơn giản và câu hỏi phức tạp). Theo nghiên cứu
của Gall (1970 - 1984), 60% các câu hỏi trong bài lên lớp của giáo viên thuộc
loại câu hỏi điều kiện, 20% câu hỏi thuộc thủ tục thông thường của tiến trình
lên lớp, 20% câu hỏi có giá trị về nhận thức, kích thích tư duy người học.
2.3.6. Vai trò của việc sử dụng câu hỏi trong dạy học tích cực
Để phát huy được tư duy sáng tạo của học sinh thì việc xây dựng và sử
dụng câu hỏi mang tính trọng tâm nội dung bài học và phù hợp với trình độ
nhận thức của học sinh là vô cùng quan trọng.
Trong quá trình giảng dạy, câu hỏi do giáo viên xây dựng hoặc học sinh
tự đưa ra, trước hết được xem là sản phẩm của tư duy. Ở đó vừa chứa đựng
kiến thức khoa học vừa chứa đựng một “thế năng tâm lí” để trở thành một
động lực thúc đẩy sự tìm tòi sáng tạo. Đặc điểm cấu trúc và mối quan hệ giữa
Nguyễn Xuân Nam
19
K33A - Sinh - KTNN
Khóa luận tốt nghiệp
20
K33A - Sinh - KTNN
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
dung - phương pháp - phương tiện và các hình thức tổ chức dạy học. Sự có
mặt của câu hỏi trong các yếu tố cấu trúc của quá trình dạy học giúp vận hành
thúc đẩy quá trình dạy học đạt được chất lượng cao...
Nguyễn Xuân Nam
21
K33A - Sinh - KTNN
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH NỘI DUNG CỦA
K33A - Sinh - KTNN
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
kỳ diệu phù hợp với tính quy luật, đảm bảo sự biến đổi vật chất và giải phóng
năng lượng cung cấp cho các hoạt động sống của tế bào nói chung và của cơ
thể nói riêng.
Trình bày được sự chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tế bào. Các
khái niệm về: năng lượng, thế năng, động năng, chuyển hóa năng lượng, hô
hấp và quang hợp.
Nêu được quá trình chuyển hóa năng lượng. Mô tả được cấu trúc và
chức năng của ATP, giải thích được tại sao ATP lại được coi là đồng tiền
năng lượng trong tế bào.
Nêu được cấu trúc của enzim và vai trò của enzim trong tế bào, các
nhân tố ảnh hưởng tới hoạt tính của enzim điều hòa hoạt động trao đổi chất.
Phân biệt được từng giai đoạn chính của quá trình hô hấp và quang
hợp. Hô hấp tế bào gồm có 3 giai đoạn chính: đường phân, chu trình Crep, và
chuỗi chuyền êlectron. Quang hợp gồm 2 pha: pha sáng và pha tối. Chỉ ra
được mối quan hệ giữa 2 pha.
2.2.2. Chuẩn kĩ năng
Làm được một số thí nghiệm về enzim như trong bài thực hành.
Rèn luyện kĩ năng quan sát, sơ đồ hóa kiến thức.
Phát triển thao tác tư duy lôgíc, phân tích, khái quát hóa.
Nguyễn Xuân Nam
- Hãy nêu các dạng năng lượng trong tế bào?
- Dạng nào là chủ yếu? Tại sao?
3. ATP - đồng tiền năng lượng của tế bào
- ATP là gì? Có cấu tạo như thế nào?
- Năng lượng trong ATP được dự trữ, chuyển hóa, sử dụng ra sao?
- Nhận xét về cấu trúc của ATP?
- Năng lượng trong ATP được dự trữ ở đâu? Được chuyển hóa như thế nào?
- Năng lượng ATP có vai trò như thế nào trong tế bào? Nêu ví dụ liên hệ thực
tế?
Nguyễn Xuân Nam
24
K33A - Sinh - KTNN