SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THẠCH THÀNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÒA NHẬP
TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ Ở TRƯỜNG MẦM NON
ĐẠT HIỆU QUẢ
Người thực hiện: Lê Ánh Tuyết
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Mầm non Thành Kim
SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn
THẠCH THÀNH, NĂM 2019
MỤC LỤC
Nội dung
1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.3. Các biện pháp giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trí tuệ đạt hiệu
quả.
2.3.1. Lập kế hoạch giáo dục theo dõi, đánh giá sự tiến bộ của trẻ
17
19
19
19
20
1. Mở đầu.
1.1. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới và hội nhập. Để đáp ứng được nhu
cầu này, cần có sự đóng góp của rất nhiều ngành nghề trong đó giáo dục góp
phần to lớn trong sự đổi mới của đất nước. Nói đến giáo dục, các nhà khoa học
đã đưa ra nhiều quan điểm nhưng chung quy lại đều khẳng định rằng “Giáo dục
là chìa khóa, là cơ sở cho sự phát triển nhân cách sau này của một con người”
Như chúng ta đã biết giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống
giáo dục quốc dân, là bộ phận quan trọng trong sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ
thành những những con người mới, con người có ích cho xã hội. Giáo dục Mầm
non có nhiệm vụ xây dựng nền móng làm cơ sở ban đầu cho việc hình thành
nhân cách con người. Trẻ em là hạnh phúc của mọi gia đình, là tương lai của dân
tộc. Việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ không chỉ là trách nhiệm của mỗi gia
đình mà là trách nhiệm của toàn xã hội và của cả nhân loại.
Sinh thời Hồ Chủ Tịch đã dành nhiều tình cảm và sự quan tâm đặc biệt cho
trẻ em, tình thương ấy xuất phát từ tư tưởng, tầm nhìn và chiến lược “Trăm năm
trồng người” mà người đã dày công vun trồng cho thế hệ mai sau. Thấm nhuần
tư tưởng của người, Đảng nhà nước và nhân dân ta đã và đang quan tâm thực
hiện tốt hơn công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em, bởi trẻ em là những mầm xanh
tương lai của đất nước là mối quan tâm hàng đầu của gia đình, cộng đồng và
toàn xã hội. Tuy nhiên, không phải tất cả trẻ em trên thế giới này sinh ra và lớn
lên đều được sở hữu một thân hình hay một trí tuệ hoàn hảo mà thay vào đó bên
cạnh những “Bé khoẻ, bé ngoan” vẫn còn những em bé khuyết tật, sinh ra với
vào dạy kỹ năng sống cho trẻ bao gồm: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự phục vụ,
kỹ năng xã hội nhằm hình thành cho trẻ khả năng sống độc lập và giúp trẻ có thể
hoà nhập vào cộng đồng xã hội như những trẻ bình thường.
Xuất phát từ những lý do trên mà tôi chọn đề tài “Một số biện pháp giáo
dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật trí tuệ đạt hiệu quả” làm đề tài sáng kiến kinh
nghiệm cho bản thân.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tìm ra những biện pháp giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật trí
tuệ ở trường Mầm non đạt hiệu quả tốt.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Trẻ khuyết tật nói chung và trẻ khuyết tật trí tuệ nói riêng của độ tuổi mẫu
giáo 5-6 tuổi trường mầm non Thành Kim - Thạch Thành - Thanh Hoá.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp khảo sát điều tra
+ Phương pháp thực hành - trải nghiệm
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Hiện nay, Bộ giáo dục và Đào tạo đã ra qui định về GDHN cho TKT làm
cơ sở giúp cho các bộ phận quản lý giáo dục các cấp, nhà trường và giáo viên
thực hiện GDHN cho TKT một cách hiệu quả .
- Quyết định số 23/2006/QĐ/ BGDĐT ngày 22/5/2006 về việc qui định
Giáo dục hòa nhập dành cho người tàn tật, khuyết tật.
- Công văn số 9890/ BGDĐT-GDTH , ngày 17/9/2007 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn nội dung, phương pháp giáo dục cho
học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Từ đó nâng dần chất lượng GDHN cho TKT.
Vậy trẻ khuyết tật và giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật tại trường Mầm non
cùng cần thiết và cũng là nơi tốt nhất để trẻ khuyết tật có cơ hội vươn lên thể
hiện những khả năng của mình và tự tin, hòa nhập vào cộng đồng. Cạnh đó giáo
dục hoà nhập còn giúp cho những trẻ bình thường học được cách quan tâm, giúp
đỡ bạn bè và bồi dưỡng lòng nhân ái ở trẻ em.
Từ đó ta có thể khẳng định giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật là mô
hình giáo dục trẻ khuyết tật có hiệu quả nhất.
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến
* Thuận lợi:
- Năm học 2018 - 2019 tôi được nhà trường phân công phụ trách lớp mẫu
giáo 5- 6 tuổi với tổng số học sinh là 35 cháu trong đó có một cháu khuyết tật
chậm phát triển trí tuệ đó là cháu: Trịnh ngọc Thái.
- Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, đặc biệt là sự chỉ đạo sát sao về
chuyên môn của phòng giáo dục và đào tạo qua các buổi tập huấn chuyên đề
trong đó có nội dung giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật trong trường mầm non.
- Ban giám hiệu nhà trường là người đóng vai trò lãnh chỉ đạo tích cực
mang tính hỗ trợ cao trong giáo dục hào nhập trẻ khuyết tật, nhà trường có đầy
đủ hồ sơ theo dõi trẻ khuyết tật, quan tâm đầu tư mua sắm trang thiết bị giáo
dục, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho công tác giảng dạy- học tập phù hợp
với trẻ như: Hình ảnh trực quan, ti vi, đầu đĩa...dành để dạy các tiết học cho cả
lớp và các tiết học cá nhân cho trẻ khuyết tật, qua đó giáo viên có thể ôn tập và
củng cố lại kiến thức, kỹ năng mà trẻ chưa nắm được ở các hoạt động trong
ngày.
3
- Nhà trường cùng với giáo viên có trẻ khuyết tật thường xuyên tiếp xúc
,trao đổi với các bậc cha mẹ trẻ khuyết tật để phối hợp trong công tác chăm sóc
trẻ được tốt hơn.
* Khó khăn:
viên đều nhận thức được tầm quan trọng của công tác này. Tuy nhiên để đánh
giá chung tôi thấy thực tế việc giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật chưa thực sự
được chú trọng theo đúng nghĩa và tầm quan trọng của nó đặc biệt khi được cọ
sát với môi trường học tập, cùng với các hình thức tổ chức tiết học của cháu
Thái trẻ khuyết tật trí tuệ tại lớp tôi, nhìn vào các khả năng cơ bản ở tất cả các
thời điểm 1 ngày tôi thấy cháu còn gặp nhiều hạn chế nên việc giáo dục hoà
nhập chưa thực sự mang lại hiệu quả thiết thực.
4
Cụ thể được thể hiện ở bảng khảo sát đầu vào của cháu như sau:
KQ của trẻ
STT ND Khảo sát
Mức độ đạt được của trẻ KTTT
Tốt
1
2
3
4
Khả năng nhận thức
0
Khả năng giao tiếp
0
Khả năng tự phục vụ 0
Khả năng hòa nhập
giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật.
2.3. Các biện pháp giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trí tuệ đạt hiệu
quả:
Hòa nhập không chỉ đơn giản là đưa trẻ khuyết tật vào trong một chương
trình giáo dục chung với trẻ bình thường, mà phải thiết lập những bước rõ ràng
để đảm bảo cho trẻ khuyết tật được tham gia hoà nhập một cách đầy đủ và tích
cực trong những hoạt động trong ngày của trẻ. Việc thiết lập những bước rõ ràng
là vai trò của giáo viên, chính vì thế mà tôi đã dựa trên cơ sở phân tích những
đặc điểm phát triển của cháu Thái lớp tôi, qua thực trạng và điều kiện thực tế
của nhà trường, tôi đã tìm ra được một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả
công tác giáo dục hòa nhập trẻ 5 -6 tuổi khuyết tật trí tuệ ở trường Mầm non như
sau:
2.3.1. Lập kế hoạch giáo dục theo dõi, đánh giá sự tiến bộ của trẻ khuyết tật
Để có thể xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ khuyết tật trí tuệ
của lớp mình, việc đầu tiên tôi xác định mức độ chức năng hiện tại của chaus
Thái hay nói cách khác, tôi đi sâu vào tìm hiểu tình trạng ban đầu của cháu, đây
là một việc làm bắt buộc trong giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật.
Có nhiều công cụ để đánh giá tình trạng ban đầu, đối với trẻ khuyết tật trí
tuệ trước tiên tôi thu thập những thông tin chung như: Đặc điểm cá nhân, mức
độ khuyết tật và thông tin về sự phát triển của cháu, quan sát, đánh giá các lĩnh
vực phát triển của cháu như: Thông qua vận động thô; vận động tinh; giao tiếp;
nhận thức và kĩ năng cá nhân - xã hội...dựa vào các lĩnh vực phát triển sau:
- Phát triển thể chất: Cháu Thái vẫn có khả năng thực hiện các vận động
thô: đi, chạy, nhảy…và thực hiện một số vận động tinh như: Sờ mó, cầm nắm…;
tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe vẫn bình thường
5
- Kỹ năng tự phục vụ (ăn, uống, vệ sinh...) Cháu Thái vẫn tham gia sinh
1. Điểm mạnh:
Về thể chất: Trẻ vẫn đi, chạy, nhảy được nhưng so với độ tuổi thì yếu hơn
so với các bạn khác
Về các kỹ năng: Trong sinh hoạt hàng ngày trẻ vẫn có thể tự mặc quần áo và
tự lấy đồ dùng cá nhân.
Ngôn ngữ, giao tiếp và hành vi: Thính giác của trẻ nghe rõ bình thường vì
vậy trẻ vẫn nói và diễn đạt được điều mình muốn của nhu cầu bản thân.
2. Khó Khăn:
Về thể chất: Trẻ đi chạy chậm cháp và khó khăn hơn trẻ khác, không thực
hiện được các loại vận động phức tạp
6
Về nhận thức: Đối với trẻ chậm phát triển trí tuệ đặc điểm cơ bản đó là nhận
thức chậm phát triển, không có khả năng học tập, rất mau quên, trẻ thường hay
lơ đãng không chú ý nghe cô dạy
Về ngôn ngữ giao tiếp: Trẻ còn gặp khó khăn khi phát âm các từ khó, do
ngôn ngữ bị hạn chế nên trẻ khó nhận ra mối quan hệ của các sự vật hiện tượng
xung quanh.
Về các kỹ năng hàng ngày: còn gặp rất nhiều khó khăn như: chưa biết rửa
tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, chưa biết đánh rằng hàng ngày...
3. Nhu cầu của trẻ:
Tôi thường xuyên quan tâm sát sao tới trẻ, tập cho cháu có thói quen rửa tay
trước khi ăn, tập một số thói quen cơ bản trong sinh hoạt như: tự xúc cơm ăn, tự
lấy nước uống khi khát, tự mặc quần áo..., Dạy trẻ cách phát âm các câu, từ để
thể hiện được các nhu cầu, mong muốn của bản thân trong giao tiếp. Tôi luôn
động viên, khuyến khích trẻ, cho trẻ tham gia tất cả các hoạt động trong lớp giúp
trẻ tự tin vào mình.
B. Kế hoạch giáo dục cá nhân:
6. Chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng:
Tôi luôn luôn người gần gũi trẻ ở tất cả các hoạt động trong ngày, dành
thời gian để hướng dẫn trẻ từ lời ăn tiếng nói đến các thao tác trong sinh hoạt
hàng ngày, tập cho trẻ cầm bút, tô màu, nhận biết, phận biệt theo yêu cầu của
từng hoạt động. Cạnh đó tôi phối hợp với gia đình cháu trong giờ đón - trả trer
để cùng kết hợp giáo dục và phục hồi tốt các lĩnh vục phát triển của cháu.
Ví dụ: Kế hoạch GDHN trẻ KT tháng 9/Chủ đề: Trường Mầm non
Đánh
Tháng Nội
Biện pháp thực hiện
Người
Kết quả
giá
dung
thực
điều
hiện
chỉnh
Phát - Cô hướng dẫn, động viên Cô và -Trẻ
biết
9
triển hoặc dùng những lời chỉ trẻ
thực
hiện
vận
dẫn ngắn gọn, dễ hiểu để khuyết
được các kỹ
động hướng dẫn trẻ thực hiện các tật cùng năng:
vẽ,
ở
và
kích thích trẻ giao tiếp với
những hoạt
giao cô, với bạn giúp trẻ nói
động trong
tiếp
được tên trường, lớp và tên
ngày,
gọi
các ban trong lớp
được
tên
- Dạy trẻ đọc những bài
bạn, tên cô
thơ, chữ cái trong chủ đề
giáo.
Phát Giáo viên phải dùng những Cô và
Trẻ có
triển lời nói ngắn, đơn giản, dễ trẻ
được sự chú
nhận hiểu và gần gũi để tạo được khuyết
ý và ghi nhớ
thức sự tập trung chú ý, ghi nhớ tật
về một số
của trẻ trong sinh hoạt và
việc, một đố
vui chơi....
câu nói đơn
- Giúp cho trẻ tập làm một
quần áo, đi giày, dép....
Cô và
trẻ
khuyết
tật
Trẻ biết tự
xúc
được
cơm ăn, tự
rửa tay, mặc
quần áo...
Dạy trẻ một số kỹ năn ứng
sử lễ phép với cô giáo, mọi
người xung quanh, biết
thực hiện một số yêu cầu
của cô đề ra.
Phối hợp với gia đình trẻ
chăm sóc và phục hồi các
chức năng khiếm khuyết
của trẻ.
Cô và Trẻ
biết
trẻ
cách ứng sử
khuyết
phù hợp
khi vận dụng các biện pháp sao cho hiệu quả giáo dục trẻ đạt ở mức cao nhất.
H/ả: Hướng dẫn cháu Thái tập kỹ năng vận động
Sau khi áp dụng phương pháp này đối với cháu Thái tôi thấy rằng hiệu quả
nâng lên rõ rệt, cháu đã mạnh dạn tự tin hơn cộng với sự cổ vũ động viên khích
lệ của các bạn trong lớp, sự dịu dàng ân cần khi hướng đẫn của cô giáo giúp cho
khả năng tư duy của trẻ ngày càng được phát triển rõ nét hơn, cháu đã biết tập
chung chú ý và hứng thú hơn trong mỗi giờ học.
2.3.2. Xây dựng môi trường giáo dục phù hợp tạo điều kiện cho trẻ khuyết
tật hoạt động hòa nhập.
Môi trường thuận lợi cho giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật là những điều
kiện vật chất và tâm lí tinh thần phù hợp với đặc điểm của trẻ khuyết tật giúp trẻ
khuyết tật tham gia một cách có hiệu quả trong các hoạt động giáo dục. Môi
trường thuận lợi cho giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật gồm môi trường vật chất
và môi trường tâm lí [3].
Trong thực tế, lớp do tôi phụ trách với 35 cháu, dù là trẻ khuyết tật hay
không khuyết tật đều hoạt động chung trong lớp, đây là một trở ngại rất lớn, do
trẻ khuyết tật có những khiếm khuyết riêng nên nhiều khi môi trường trong lớp
học chưa thực sự thuận lợi cho trẻ khuyết tật hoạt động và học tập. Vì vậy, trong
xây dựng môi trường tôi vừa phải chú ý đến đặc điểm chung của tất cả các trẻ và
đặc điểm riêng của trẻ khuyết tật học hòa nhập trong lớp của mình để trẻ khuyết
tật tham gia một cách hiệu quả trong các hoạt động.
Ví dụ: Hình ảnh trên các mảng tường phải rõ ràng, màu sắc cụ thể có nội
dung rõ ràng, dễ hiểu.
* Về môi trường vật chất: Tôi luôn bố trí và tổ chức môi trường cho cháu
chơi và hoạt động đảm bảo nguyên tắc “Chơi bằng chơi, chơi mà học” và đảm
bảo các yếu tố sau:
Hình ảnh cháu Trịnh Ngọc Thái học và vui chơi thân thiện cùng bạn bè
Trẻ khuyết tật thường có những biểu hiện khác khác với trẻ bình thường
cùng tuổi do khuyết tật tạo ra dễ làm cho các trẻ trẻ khác chú ý hoặc chế nhạo,
11
xa lánh. chẳng hạn như trẻ khuyết tật trí tuệ nhận thức chậm chạp, vận động
vụng về nên dễ bị các bạn khác chê cười chế nhạo. Do đó tôi xây dựng bầu
không khí vui tươi, ấm áp và chia sẻ trong lớp để làm được điều này tôi dựa vào
một số điểm sau đây:
Phát hiện và sử dụng những điểm mạnh của cháu Thái đồng thời tạo cơ
hội cho cháu thể hiện điểm mạnh của mình, ví dụ trong giờ chơi tự chọn cháu
Thái rất thích chơi với đất nặn để nặn bông hoa, hoặc số đã học và nặn được sản
phẩm đẹp. Những lúc đó tôi thường động viên, khuyến khích kịp thời, sau đó
tuyên dương cháu trước các bạn để cháu Thái tự tin hơn và các bạn cũng công
nhận bạn từ đó không chê cười, chế nhạo bạn nữa.
Hình ảnh: Cháu Thái đang hoạt động theo nhóm cùng các bạn trong lớp
Hàng ngày vào những thời điểm thích hợp tôi trò chuyện với cả lớp để
cho trẻ không khuyết tật cảm nhận được những khó khăn của bạn. Từ đó các bạn
có những cảm thông chia sẻ nhất định.
Ví dụ: Trước giờ đi ngủ tôi kể cho cả lớp nghe câu truyện “Bạn mới” nội
dung câu truyện kể về Bạn Hoa có đôi tay bị tật “Ngón tay bạn ấy quắp lại bé
tẹo” không ai muốn chơi, giờ học cô giáo dậy múa Hoa lúng túng rồi mếu máo
“Thưa cô con không múa được! Rối bạn Hoa ngồi thụp xuống dấu bàn tay trái
vào lòng rồi khóc nức nở, cô giáo ôm Hoa vào lòng và ngẹn ngào nói: Cô đã
màu và thực hiện theo yêu cầu trong vở.
* Tiến hành đối với trẻ khuyết tật: Quan sát trình tự xắp xếp của các hình
trên từng hàng và chọn một hình ở cột bên phải cho phù hợp với cách xắp xếp
đó và tô mầu, hoặc nối hình đó với vị trí số 5 trên mỗi hàng để có trình tự xắp
xếp phù hợp.
Cách làm 2: Nội dung so sánh, phân loại và sắp xếp theo quy tắc
* Mục tiêu chung: Yêu cầu trẻ phát hiện được quy tắc xắp xếp của các
đối tượng và hoàn chỉnh cách sắp xếp đó.
* Mục tiêu riêng cho trẻ khuyết tật trí tuệ: Trẻ phát hiện được quy tắc sắp
xếp của 2 đối tượng và hoàn chỉnh cách sắp xếp đó.
* Chuẩn bị: Các hình rời: Hình tròn, hình vuông, hình chữ nhật, hình tam
giác bằng bìa cứng.
* Cách tiến hành (Với hoạt động này tôi lựa chọn tiến hành trong góc hoạt
động hoặc hoạt động tự chọn trong buổi chiều).
- Tiến hành riêng cho trẻ khuyết tật trí tuệ: Cho trẻ cầm hoặc chỉ và gọi
tên lần lượt các hình. Hỏi trẻ thứ tự các hình cô đã sắp xếp trên bảng, sau đó cho
trẻ chọn các hình dời trong rổ để gắn vào vị trí sắp xếp đúng như quy luật sắp
xếp của cô yêu cầu. Tương tự với các hình khác. khi trẻ đã thành thạo tôi cho trẻ
chơi cá nhận hoặc cho trẻ chơi chung với các bạn bình thường trong nhóm.
13
(Hình ảnh: Cháu Thái đang học cách sắp xếp các hình)
Trong khi hướng dẫn trẻ khuyết tật tôi luôn hướng dẫn từ nhưng hoạt
động đơn giản nhấn, khi trẻ đã thực hiện được mới tiếp tục với những hoạt động
phức tạp hơn.
+ Trẻ khuyết tật trí tuệ nhận thức chậm chạp, tôi lựa chọn hệ thống câu
hỏi phù hợp với nhận thức của trẻ. Cùng một nội dung cần cung cấp cho trẻ,
nhưng với cháu Thái tôi điều chỉnh câu hỏi phù hợp để trẻ có thể hiểu nội dung
2.3.4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giảng dạy để tạo điều
kiện cho trẻ khuyết tật hứng thú hoạt động hoà nhập.
Ngày nay khoa học công nghệ thông tin phát triển đã góp phần rất lớn cho
việc nâng cao chất lượng giáo dục, giúp đổi mới các phương pháp dạy học, trang
bị, đổi mới phương tiện dạy học đáp ứng yêu cầu của thời đại. Trong những năm
gần đây, cùng với sự quan tâm của các ban ngành đoàn thể và nhân dân địa
phương đã đầu tư cơ sở vật chất cho nhà trường, giúp trường mua sắm được
máy vi tính, màn hình phục vụ cho công tác giảng dạy. vì vậy tôi thường xuyên
truy cập mạng in tơ nét tìm hiều về thông tin giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật trí
tuệ, tìm tòi những hình ảnh, tư liệu giáo dục, thiết kế các trò chơi trong bài giảng
papol để trẻ tiếp cận công nghệ thông tin và đặc biệt là trẻ khuyết tật rất hứng
thú tham gia.
15
Giờ học tổ chức trò chơi chữ cái
Việc đưa công nghệ thông tin ứng dụng vào công tác giảng dạy sẽ tạo cho
giờ học thêm sinh động và trẻ cũng rất hứng thú học tập và giúp trẻ tư duy
nhanh nhẹn thông minh hơn trẻ rất hứng thú tham gia và đặc biệt là khả năng
nhận biết, chú ý, ghi nhớ của trẻ khuyết tật trí tuệ tiến bộ rõ rệt.
Ví dụ: Tôi thiết kế những tiết học như: Nhận biết các hình khối với những
tiết học như thế này trẻ sẽ được quan sát các hình khối với các mầu sắc khác
nhau từ đó giúp trẻ ghi nhớ lâu hơn về đặc điểm và mầu sắc của hình.
Hoặc thiết kế các trò chơi như: Bé tinh mắt, Ai đoán giỏi... nhằm mục đích mở
rộng cho trẻ hiểu biết về thế giới xung quanh, nhận biết đoán tên những con vật,
các loại rau củ quả... trong các bài giảng tôi thiết kế hình ảnh ngộ nghĩnh bài tập
mới lạ vừa sức với trẻ nên trẻ tỏ ra rất hứng thú.
Để đáp ứng nhu cầu nhận thức của trẻ, đồng thời thực hiện mục tiêu
chung của ngành và của trường đề ra, đó là việc ứng dụng công nghệ thông tin
sự tò mò ham hiểu biết ở cháu, tôi thấy cháu rất thích thú và chú ý. Đây chính là
một thành công lớn khi tôi tổ chức các giờ học cho trẻ nói chung và giáo dục
hoà nhập cho trẻ khuyết tật nói riêng và tôi thấy rất tự tin khi dạy bằng các giáo
án thiết kế điện tử.
2.3.5. Giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật ở mọi lúc, mọi nơi.
Là một giáo viên mầm non, với tinh thần trách nhiệm, lòng yêu nghề, mến
trẻ và đặc biệt với tình yêu thương những đứa trẻ kém may mắn tôi đã không
ngại khó khăn chăm sóc cháu, tìm tòi nghiên cứu qua mạng Internet, tham khảo
tài liệu sách báo… đưa ra những biện pháp cụ thể để giáo dục hòa nhập trẻ
khuyết tật một cách có hiệu quả, giúp trẻ tự tin, nhanh nhẹn, hoạt bát, phát triển
17
ngôn ngữ, lĩnh hội những kiến thức quý báu làm hành trang cho trẻ bước vào đời
hòa nhập với cộng đồng xã hội. Để làm được điều đó ngoài những biện pháp
trên tôi chú ý đi sâu vào việc giáo dục hoà nhập cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi. Vì
việc giáo dục trẻ khuyết tật phải được thực hiện một cách thường xuyên, kiên trì,
nhẫn nại, thường xuyên nhắc nhở, giáo dục trẻ cả ở trường và ở nhà.
* Giờ đón, trả trẻ:
Mỗi buổi sáng khi cháu Thái đến lớp tôi thường xuyên trò chuyện với
cháu, hỏi thăm tình hình sức khoẻ, hỏi trẻ ở nhà ai thương con nhất,….con yêu
ai nhất… bằng những tình cảm trìu mến, yêu thương Tôi đã tạo cho cháu cảm
giác tự tin, gần gũi và kích thích cháu thích thú và đáp lại cô một cách hồn
nhiên. Cạnh đó tôi thường tổ chức các trò chơi vận động nhẹ và lấy cháu làm
trung tâm.
Ví dụ: Cho trẻ tham gia Trò chơi
“tập tầm vông”, với đặc điểm chậm
phát triển, thông qua trò chơi này trẻ
sẽ có những phản xạ nhanh hơn sau
Sinh con ra có những khiếm khuyết về bất cứ mặt nào cũng là điều mà
không bố mẹ nào mong muốn. Tuy nhiên, khi gặp phải điều không may mắn đó
thì bố mẹ nào cũng muốn bù đắp cho con, tìm cho con con đường phát triển tốt
nhất. Biện pháp này nhằm củng cố, ôn luyện và duy trì những kỹ năng đã được
hình thành ở trẻ, đặc biệt nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Tất cả các biện pháp
giáo dục của cô giáo ở trường sẽ không có hiệu quả nếu thiếu sự phối hợp của
gia đình. Vì thế trong thực tế giảng dạy, tôi thường xuyên và trực tiếp trao đổi
với ông, bà nội của cháu Thái về việc sinh hoạt và học tập của trẻ (Vì bố mẹ
cháu đi làm ăn xa), tôi cùng với ông, bà nội cháu để thống nhất các biện pháp
chăm sóc- giáo dục trẻ tạo điều kiện giúp trẻ phát huy khả năng của mình.
- Tôi nhắc ông bà cháu dành nhiều thời gian trò chuyện, quan sát cháu Thái
để hiểu rõ hơn tâm lí cũng như sự phát triển các kĩ năng của cháu. Trên cơ sở
nắm rõ những nội dung trẻ được học ở trường, về nhà ông bà cần động viên và
cho tập luyện thêm cho cháu ở nhà để khắc sâu kiến thức cho cháu.
- Đối với trẻ khuyết tật về trí tuệ, tôi vẽ những bức tranh đơn giản về và
hướng dẫn phụ huynh chỉ cho cháu cách tô màu cho phù hợp. Qua những bài
hát, những câu chuyện, bức tranh sẽ giúp phụ huynh có thể theo dõi và phát hiện
những biểu hiện mới, khác của trẻ để trao đổi cùng với giáo viên chủ nhiệm để
tìm ra biện pháp tối ưu nhất giúp trẻ phát triển và hòa nhập.
Tạo điều kiện cho trẻ được đi lại, quan sát, tiếp xúc với một số vật dụng
trong gia đình: Khi trẻ ở nhà, bố mẹ nên dành thời gian cho trẻ quan sát, tìm
hiểu về một số vật dụng trong gia đình. Bố mẹ đóng vai trò như người bạn cùng
đi chơi, quan sát, tìm hiểu siêu thị gia đình của nhà mình, hướng dẫn trẻ gọi tên,
nói đặc điểm của một số đồ dùng trong nhà.
Khi thực hiện biện pháp này tôi
nhắc nhở phụ huynh chú ý không
nên để trẻ có cảm giác bị gò ép, bắt
buộc mà phải để cho trẻ có một tâm
lí thật nhẹ nhàng, thoải mái
Trẻ linh hoạt, mạnh dạn và tự tin hơn khi tiếp xúc với cô giáo, với các bạn
và với những người xung quanh.
Trẻ biết làm một số việc đơn giản theo yêu cầu, biết làm một số việc tự
phục vụ: cất đồ dùng, đồ chơi, nhận biết được sách và đồ dùng cá nhân của mình
theo đúng ký hiệu, có nề nếp học tập.
Phụ huynh có trẻ khuyết tật cũng tin tưởng hơn vào nhà trường, đã yên tâm
khi đưa con, em mình đến lớp.
Các bậc phụ huynh cũng như các cơ quan, tổ chức xã hội đối với trẻ khuyết
tật đã có cái nhìn đúng đắn về tầm quan trọng trong tác giáo dục hòa nhập cho
trẻ khuyết tật ở trường Mầm non, không còn tình trạng phụ huynh kỳ thị hay xin
cho con em mình sang lớp không có trẻ khuyết tật để học.Phụ huynh có con bị
khuyết tật cũng đã thay đổi đáng kể, được thể hiện qua bảng sau:
KQ của trẻ
STT ND Khảo sát
Mức độ đạt được của trẻ khuyết tật trí tuệ
Tốt
Khá
Trung bình
Yếu
1
Khả năng phát triển
0
0
x
Những năm này rất quan trọng đối với trẻ, và tất nhiên cũng rất quan trọng đối
với trẻ khuyết tật.
Công tác tác giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật trí tuệ tuy không còn là
vấn đề khá mới mẻ trong những năm gần đây nhưng tuy nhiên việc thực hiện
còn có nhiều vấn đề bất cập. Trường mầm non còn gặp rất nhiều khó khăn
trong vấn đề triển khai thực hiện công tác tác giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết
tật trí tuệ, chính vì thế việc tác giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật càng sớm
càng tốt là điều rất cần thiết. Đưa trẻ khuyết tật vào môi trường hòa nhập ở
trường mầm non đóng vai trò giúp trẻ khuyết tật được phát triển toàn diện về thể
chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ và tự tin, hòa nhập vào cộng đồng.
Qua kết quả thu được sau khi thực hịên và triển khai đề tài của mình ở
trường Mầm non Thành Kim tôi đã phần nào yên tâm hơn khi lựa chọn các biện
pháp giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Từ kết quả nghiên cứu lí luận và thực tiễn công tác giáo dục hòa nhập cho
trẻ khuyết tật trí tuệ tại các trường mầm non, tôi đã mạnh dạn đề xuất các biện
pháp để góp phần tìm ra những biện pháp hiệu quả nhất cho giáo dục hòa nhập
trẻ khuyết tật ở trường mầm non.
3.2. Kiến nghị:
- Bộ giáo dục, các cơ quan chức năng và các ban ngành cộng đồng cần đầu
tư một phần kinh phí cho các trường mầm non hòa nhập để xây dựng cơ sở vật
chất, đầu tư trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi đặc thù phục vụ cho việc chăm sóc,
giáo dục trẻ khuyết tật và có chế độ đãi ngộ cho các giáo viên dạy hòa nhập.
- Cơ quan chức năng cần đưa ra các văn bản, quy định hướng dẫn phân loại
trẻ khuyết tật theo mức độ, trẻ nào thì học trường chuyên biệt, trẻ nào thì vào lớp
hòa nhập để thỏa mãn ở mức cao nhất các nhu cầu cá nhân của trẻ.
- Tổ chức các lớp bồi dưỡng, các chuyến tham quan, học tập kinh nghiệm
nhằm nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ giáo viên trong công tác chăm
sóc- giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở trường Mầm non.
- Giáo viên, nhà trường và các đoàn thể cùng phối hợp chặt chẽ với gia đình