Một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh khi dạy kiểu bài tả cảnh trong phân môn tập làm văn lớp 5 - Pdf 57

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người. Ngôn
ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, là phương diện biểu hiện tâm trạng, tình
cảm. Chính vì vậy, Tiếng Việt giữ vai trò đặc biệt giữa các môn học trong nhà
trường. Mục tiêu của môn Tiếng Việt cấp Tiểu học là:
- Hình thành và phát triển ở HS các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc, viết,
nghe, nói) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi.
Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy.
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt, về tự
nhiên, xã hội và con người; về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài.
- Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong
sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt
Nam xã hội chủ nghĩa cho học sinh.
Tập làm văn là sự nối tiếp một cách tự nhiên các bài học trong môn Tiếng
Việt, vừa mang tính chất thực hành toàn diện, tổng hợp và sáng tạo, vừa nhằm
giúp học sinh có một năng lực tạo lập văn bản. Nếu như các môn học và phân
môn khác của môn Tiếng việt cung cấp cho các em một hệ thống các kiến thức
kỹ năng thì phân môn Tập làm văn tạo điều kiện cho các em thể hiện các kiến
thức, các kỹ năng đã học một cách rõ ràng, linh hoạt, thực tế và có hệ thống hơn.
Việc dạy Tập làm văn ở bậc Tiểu học có một vị trí rất quan trọng.
Nội dung dạy học Tập làm văn ở tiểu học là trang bị kiến thức và rèn
luyện kĩ năng làm văn đồng thời mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng
tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách cho học sinh. Nó tạo điều kiện
cho các em giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày và học tập tốt các môn học
khác.. Chính những văn bản nói, viết các em có được theo các nghi thức lời nói,
thuyết trình ... đã thể hiện những hiểu biết thực tế, những kỹ năng sử dụng Tiếng
Việt mà các em đã được học ở phân môn Tập làm văn.
Văn tả cảnh là loại văn dùng lời với những hình ảnh, cảm xúc làm cho
người đọc, người nghe có thể hình dung được rõ nét và cụ thể về một cảnh
vật nào đó xung quanh ta.

Tuy nhiên phải thừa nhận một điều rằng, thực tế hiện nay, việc dạy môn
Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng còn có rất nhiều hạn
chế và chưa đạt kết quả như mong muốn.
Với kinh nghiệm của một giáo viên nhiều năm trực tiếp giảng dạy lớp 5,
tôi nhận thấy cần phải tìm ra một số giải pháp giúp các em yêu thích phân môn
Tập làm văn và rèn cho các em kĩ năng làm văn tả cảnh là vấn đề hết sức cần
thiết. Điều đó đòi hỏi ở người thầy cái tâm, cái tài để truyền cho các em niềm
say mê, để động viên bồi dưỡng các em trở thành học sinh có năng khiếu, những
nhân tài có tâm hồn văn học. Chính vì những lý do trên tôi quyết định chọn
nghiên cứu đề tài: "Một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh khi
dạy học kiểu bài Tả cảnh trong phân môn Tập làm văn lớp 5".
1.2. Mục đích nghiên cứu
Với những suy nghĩ nêu trên, là một giáo viên tiểu học trực tiếp giảng dạy
lớp 5, tôi không khỏi băn khoăn suy nghĩ về vấn đề này. Làm thế nào để bản
thân và đồng nghiệp có được phương pháp dạy kiểu bài Tả cảnh trong phân môn
Tập làm văn một cách tối ưu? Làm thế nào để sự tiếp thu kiến thức của các em
có hiệu quả? Vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích đưa ra
một số kinh nghiệm để các bạn đồng nghiệp cùng tham khảo, góp ý và vận dụng
những kinh nghiệm dạy học này trong quá trình giảng dạy, giúp cho HS rèn
luyện kĩ năng viết văn tả cảnh, biết cách quan sát, sử dụng từ ngữ, hình ảnh khi
miêu tả, có hứng thú khi làm văn, đồng thời giúp cho các em yêu thích phân
môn Tập làm văn, yêu thích môn Tiếng Việt một cách tốt nhất. Từ đó giúp các
em biết áp dụng những điều đã học vào cuộc sống.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
2


Tôi đã tiến hành nghiên cứu về phương pháp, hình thức tổ chức dạy học
của giáo viên và cách học của học sinh tiểu học, đặc biệt là giáo viên dạy lớp 5,
học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Thị Trấn Hậu Lộc. Qua nghiên cứu, tìm hiểu,

phẩm chất tốt đẹp của con người mới xã hội chủ nghĩa.
Trong môn Tiếng Việt cùng với các phân môn Tập đọc, Kể chuyện,
Luyện từ và câu, … Phân môn Tập làm văn có vị trí đặc biệt trong việc dạy và
học tiếng Việt xét trên hai phương diện:
- Phân môn Tập làm văn tận dụng các hiểu biết và kĩ năng về tiếng Việt
do các phân môn khác rèn luyện hoặc cung cấp đồng thời góp phần hoàn thiện
chúng. Để làm được một bài làm văn nói hoặc viết, người làm phải hoàn thiện
cả bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết, phải vận dụng các kiến thức về tiếng Việt.
Trong quá trình vận dụng này, các kĩ năng và kiến thức đó được hoàn thiện và
nâng cao dần .
3


- Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sản sinh văn
bản (nói, viết). Nhờ vậy tiếng Việt không chỉ là một hệ thống cấu trúc được xem
xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà trở thành một công cụ sinh động
trong quá trình giao tiếp, tư duy, học tập. Nói cách khác. Phân môn Tập làm văn
đã góp phần hiện thực hóa mục tiêu quan trọng bật nhất của việc dạy và học
tiếng Việt là dạy học sinh sử dụng tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt, trong quá
trình lĩnh hội các tri thức khoa học …
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Qua quá trình giảng dạy, dự giờ đồng nghiệp, tôi thấy bên cạnh những mặt
thành công vẫn còn một số những hạn chế trong việc viết văn của các em học
sinh lớp 5 và một số hạn chế của giáo viên. Điều này là do nhiều nguyên nhân
trong đó một số giáo viên chưa đào sâu, nghiên cứu về phương pháp giảng dạy
cũng như trình tự tiến hành dạy một bài tập làm văn như thế nào cho phù hợp
với mục đích và nội dung của bài học đặt ra.
Mặt khác học sinh Tiểu học là đối tượng mà năng lực tư duy chưa cao. Kỹ
năng sử dụng ngôn ngữ của các em còn hạn chế. Đặc biệt trình độ học sinh ở các
địa phương cũng chưa đồng đều hơn nữa học sinh rất ngại học Tiếng Việt. Trong

nhớ. Một số em chưa nắm được kĩ năng quan sát, tìm ý, viết câu, viết đoạn. Vì
vậy khả năng sử dụng từ ngữ, hình ảnh, cách sắp xếp ý, sắp xếp bố cục trong
miêu tả còn chưa cao. Việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa,
… trong miêu tả chưa tốt nên bài viết chưa sinh động, chưa gợi cảm, gợi tả. Các
em còn viết sai chính tả do phương ngữ hoặc chưa biết cách trình bày một đoạn
văn, bài văn … Vì đa số các em là con các gia đình nông nghiệp nên các em ít
được đi chơi xa, ít được ngắm những danh lam thắng cảnh của mọi miền đát
nước, chưa được trải nghiệm thực tế… chỉ có một số ít con cán bộ và gia đình
có điều kiện mới làm được việc này. Nhưng các em cũng có những thuận lợi đó
là sống ở vùng nông thôn gần gũi với cảnh vật thiên nhiên, đồng ruộng, vườn
cây, dòng sông, đêm trăng nên khi tả những cảnh này các em dễ quan sát …
- Phần lớn học sinh không thích học phân môn Tập làm văn vì môn này
khó, nó đòi hỏi sự sáng tạo và năng khiếu của các em.
- Vốn từ ngữ của các em còn hạn chế nên khi viết văn thường bị lặp lại
từ, lời văn chưa lưu loát, diễn đạt chưa trôi chảy, thiếu hình ảnh, cảm xúc.
- Nhiều em không nắm được cấu trúc ngữ pháp nên sử dụng dấu câu tùy
tiện.
- Một số học sinh làm theo văn mẫu hoặc chỉ viết theo dàn bài mà
giáo viên đã hướng dẫn lập. Chưa biết tích hợp các phân môn khác như: Tập
đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Khoa học, Lịch sử và Địa lý vào Tập làm văn.
Chưa sáng tạo trong khi dùng từ đặt câu.
- Học sinh không quan sát trực tiếp đối tượng nên các em vô cùng lúng
túng khi miêu tả.
- Khi quan sát thì các em chưa được hướng dẫn cụ thể về kĩ năng quan
sát: quan sát những gì, quan sát từ đâu? Làm thế nào phát hiện được nét tiêu
biểu của đối tượng cần miêu tả.
- Học sinh tiểu học vốn sống, vốn kiến thức và những rung cảm trước
cái đẹp còn hạn chế nên chưa thổi được vào cảnh cái hồn để cảnh miêu tả trở
nên sinh động, ấn tượng hơn. Đặc biệt kĩ năng vận dụng các từ ngữ gợi hình, gợi
tả và các biện pháp nghệ thuật tu từ còn lúng túng. Học sinh thường không có

Đặc biệt, khi học sinh đưa ra một câu văn dùng từ chưa chuẩn hay thiếu hình
ảnh, chưa hợp lí,… giáo viên chưa chỉnh sửa kịp thời và không làm bật được cái
hạn chế và thay thế ngay bằng câu văn có nghĩa, đúng ngữ pháp, giàu hình ảnh
để học sinh có thể ‘‘mê’’ nên chưa thể thổi hồn, làm cầu nối nâng tình yêu văn
học cho các em.
Việc kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học thiếu linh hoạt hoặc đôi
khi quá rập khuôn. Đa số giáo viên chỉ chú ý đến việc học ở lớp mà chưa chú ý
đến việc luyện tập ở nhà, chưa hướng cho các em tìm hiểu thêm sách, báo, thực
tế, ... Đôi khi để đối phó với việc học của học sinh chưa hoàn thành, để đảm bảo
chất lượng kiểm tra ... một số giáo viên còn cho học sinh chép bài mẫu. Vì vậy
dẫn đến tình trạng cả thầy và trò đôi khi bị lệ thuộc vào "mẫu", không thoát khỏi
"mẫu". Trong quá trình giảng dạy giáo viên còn áp đặt, mới chỉ hướng dẫn học
sinh theo yêu cầu của sách mà chưa chú ý đến việc thâm nhập và khám phá cái
hay, cái đẹp của bài văn. Một bộ phận giáo viên vốn từ ngữ chưa phong phú,
chưa có những phương pháp tối ưu khi hướng dẫn học sinh làm các dạng bài tập
dẫn đến hiệu quả giảng dạy phân môn Tập làm văn chưa cao.
Qua khảo sát chất lượng học sinh lớp 5A, 5B đầu năm học 2017 - 2018
kết quả khảo sát phần Tập làm văn học sinh còn mắc phải một số lỗi như sau:
Lỗi sai
Lớp


số

5A
30
(Thực nghiệm)

Sử dụng
Về bố

%

SL

%

SL

%

4

13,2

3

10

6

20

6

20

5

16,8


16

7

28

Từ những thực trạng trên, để khắc phục những tồn tại, nâng cao kết quả
trong dạy học sinh kiểu bài văn Tả cảnh, tôi đưa ra một số giải pháp sau:
2.3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1: Yêu cầu học sinh chuẩn bị bài trước khi học bài mới:
Việc ôn lại kiến thức, kỹ năng đã học có liên quan đến bài mới, làm cơ sở
cho bài mới hoặc chuẩn bị cho bài mới là một việc làm hết sức cần thiết đối với
học sinh trước khi đến lớp như:
- Nhớ lại cấu tạo của bài văn tả cảnh.
- Xác định đối tượng cần miêu tả.
- Tìm hiểu trước nội dung của bài học: Đề bài yêu cầu tả cảnh gì? Cảnh đó
ở đâu?
- Quan sát kĩ cảnh cần phải tả trong những thời điểm cụ thể, chọn vị trí
quan sát thuận tiện nhất để nắm bắt được những chi tiết, đặc điểm quan trọng
của cảnh. Quan sát bằng nhiều giác quan, lưu ý đến các yếu tố màu sắc, âm
thanh, hình ảnh xem có hài hòa không...
- Ghi chép những điều đã quan sát được về cảnh vật.
- Lựa chọn từ ngữ, hình ảnh để diễn đạt.
- Sắp xếp các ý theo một trình tự cụ thể.
2.3.2: Làm giàu vốn từ ngữ đối với HS, tích lũy các hình ảnh văn học:
Trước khi học văn tả cảnh, thông qua các phân môn khác như Tập đọc,
Luyện từ và câu,... giáo viên cho học sinh tìm các từ chỉ màu sắc của cảnh vật
như: đỏ ối, xanh biếc, rực rỡ, ....; Tìm các từ ghép, từ láy miêu tả đặc điểm, màu
sắc của cảnh vật, tìm các từ gợi tả về hình ảnh, âm thanh,... Các từ ngữ chỉ màu
vàng như: vàng xuộm, vàng hoe, vàng lịm, vàng ối, vàng tươi, vàng xọng, vàng

cảm thụ cho học sinh chủ yếu là giáo dục cho các em rung cảm trước cái đẹp của
thiên nhiên, cuộc sống nhằm nâng cao năng lực cảm nhận và diễn tả. Đây là
nhiệm vụ của mỗi học sinh. Các em phải biết cảm nhận cái hay, cái đẹp về nội
dung, về nghệ thuật, câu từ, những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và
đẹp đẽ của văn học thể hiện trong bài văn, trong đoạn văn, thậm chí trong một
câu, một từ, một hình ảnh... Khi đọc hoặc nghe một bài văn, thơ, một câu
chuyện ta không những hiểu mà còn phải xúc cảm, tưởng tượng, thậm chí còn
phải “nhập thân” với những gì đã đọc và rung động thật sự mới giúp ta cảm thụ
tốt. Để có được năng lực cảm thụ sâu sắc và tinh tế các em cần có sự say mê,
hứng thú khi tiếp xúc với văn thơ; chịu khó tích lũy vốn hiểu biết về thực tế
cuộc sống và văn học, nắm vững kiến thức cơ bản về tiếng Việt, kiên trì rèn
luyện kĩ năng viết đoạn văn. Có như vậy thì các em mới viết văn tốt được.
Ngoài cách viết câu, dùng từ, ngữ nêu trên; trong giảng dạy giáo viên cần
hướng dẫn học sinh chú ý đến các đặc điểm cấu tạo của từ Tiếng Việt là đa dạng
về kiểu loại (từ đơn, từ ghép, từ láy), phong phú về ý nghĩa (từ một nghĩa, từ
nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm khác nghĩa,…), linh hoạt
về cách sử dụng (từ dùng trong sinh hoạt, trong sách vở khoa học, từ địa
phương, từ nghề nghiệp,…).
Không có con đường nào tốt hơn để làm nảy sinh và duy trì hứng thú của
học sinh với tiếng Việt và văn học ngoài cách giúp các em thấy được sự thú vị,
vẻ đẹp và khả năng kì diệu của chính đối tượng học tập - tiếng Việt, văn chương.
Từng giờ, từng phút trong giờ tiếng Việt, người giáo viên đều hướng đến
hình thành và duy trì hứng thú cho HS. Đó có thể là một lời vào bài hấp dẫn cho
giờ Tập đọc: Đây là một con chim sẻ rất nhỏ bé. Thế nhưng nhà văn Tuốc-ghênhép đã kính cẩn nghiêng mình thán phục trước nó, vì sao vậy? Chúng ta hãy
cùng nhau đọc bài Con sẻ để trả lời câu hỏi này. Hứng thú của HS cũng được
khơi dậy từ việc chỉ ra vẻ đẹp của một từ, cái hay của một tình tiết truyện, chẳng
hạn: Tiếng hót của chim chiền chiện không phải “ríu rít”, “thánh thót” mà “ngọt
ngào”, “long lanh”, “chan chứa” thì mới gây ấn tượng. Hoa sầu riêng nở “tím
ngát” chứ không phải chỉ “tím ngắt” hay “ngan ngát”. Như thế thì mới có cả
8

động hơn và gần gũi với con người hơn. Vậy tưởng tượng thế nào?
+ Không trực tiếp quan sát mà tập trung tất cả các giác quan vào đối
tượng.
+ Nhắm mắt, hình dung về đối tượng: hình ảnh, hoạt động của đối
tượng, những ảnh hưởng tác động của đối tượng đến sự vật xung quanh.
+ So sánh đối tượng được miêu tả với các đối tượng khác tương đồng.
Đây là một trong những “bí quyết” để viết văn miêu tả nói chung, tả cảnh
nói riêng được hay hơn. Chẳng hạn, khi tả trăng ta có thể so sánh với những sự
vật như con thuyền, cánh diều, quả bóng, cái đĩa, … Tả chiếc lá bàng ta có thể
so sánh với cái quạt, chiếc bánh đa, … Hay khi tả những chùm hoa phượng ta
9


có thể so sánh với những đốm lửa hồng bập bùng; tả những quả bàng xanh tại
sao ta lại không so sánh với những chú rùa con bé xíu; tả cây cột đèn tín hiệu
giao thông sao lại không tưởng tượng nó với cây kẹo mút khổng lồ…?
+ Phân tích đánh giá cái hay, cái đẹp có ở đối tượng.
+ Nhân hóa hay tự nhiên hóa một vài hình ảnh đặc sắc ở đối tượng.
Ví dụ: “Máy tuốt to lù lù đứng giữa sân kho, kêu tành tạch. Người ta nhét
những ôm lúa vào miệng nó. Nó nhằn nhằn một thoáng rồi phì rơm ra”. (Tả một
ngày mùa).
Để bồi dưỡng kỹ năng quan sát thẩm mĩ nên cho học sinh quan sát cảnh
vật, đưa những câu gợi ý để giúp học sinh cảm nhận được cảnh vật ở các khía
cạnh khác nhau với các vẻ đẹp khác nhau. Quan sát trực tiếp và tỉ mỉ cảnh vật,
bằng nhiều giác quan thì mới có những hiểu biết đầy đủ, phong phú và chính
xác. Quan sát đi đôi với việc tìm ý và tìm từ ngữ để diễn tả đúng và sinh động
điều đã quan sát được.
Ví dụ: + Cùng tả về bầu trời mùa thu nhưng học sinh có thể tả theo nhiều
cách khác nhau tùy theo cách nhìn nhận, đánh giá và cảm xúc, tâm trạng của
mỗi học sinh. Chẳng hạn học sinh có thể tả:

+ Quanh thân cây, chi chít những quả là quả.
+ Trên cánh đồng, các bác xã viên cắt lúa nhanh thoăn thoắt, tiếng liềm
xoèn xoẹt nghe thật vui tai.
+ Buổi sáng, tiếng chích chòe trong vắt, lảnh lót trong vòm cây. vv….
Đây mới chính là những câu văn miêu tả.
2.3.5. Tạo ra hệ thống bài tập luyện viết câu sinh động, giàu xúc cảm.
Nội dung dạy học Tập làm văn được chia ra rất nhiều cấp độ. Để giúp học
sinh viết tốt, giáo viên phải giúp các em nắm vững các mạch kiến thức - kĩ năng,
cụ thể hóa đến nhóm, kiểu, dạng bài tập và cho đến tận từng bài tập cụ thể. Ví
dụ: Từ cách dẫn dắt, gợi mở của giáo viên và từ một ý cho trước hay từ một câu
đơn (chỉ có một cụm chủ ngữ, vị ngữ), giáo viên hướng dẫn học sinh tập mở
rộng câu bằng cách thêm các thành phần phụ cho câu như: trạng ngữ, bổ ngữ,
động từ, tính từ, từ láy, từ tượng hình, từ tượng thanh,…Sử dụng các hình ảnh,
chi tiết sinh động biểu cảm; các biện pháp nghệ thuật như: nhân hoá, so sánh,
điệp từ, điệp ngữ, hoán dụ, phóng đại,…làm cho cách diễn đạt câu văn, đoạn
văn, thêm cụ thể, sống động giúp người đọc như cùng cảm nhận với mình.
Bài tập luyện viết câu sẽ giúp học sinh có ý thức viết văn ngày càng chặt
chẽ về ý tứ, sinh động, giàu xúc cảm,…từ đó giúp các em thêm hứng thú học tập
môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng. Sau đây là một
số ví dụ (bài tập) về cách dùng từ, viết câu văn sinh động:
*Bài tập 1: Từ những câu văn đã cho, viết lại cho sinh động, gợi cảm xúc
bằng cách thêm biện pháp nghệ thuật:
a- Các em HS quần áo đủ màu sắc sặc sỡ đang nô đùa trên sân trường.
- Các em học sinh quần áo đủ màu sắc sặc sỡ đang nô đùa trên sân
trường tựa như một đàn bướm xinh tung tăng bay lượn. (Biện pháp so sánh).
b- Ông Hét đến cửa nhà tôi.
- Ông Hét, người đàn ông đáng sợ nhất mà tôi từng gặp, đã đến cửa nhà
tôi. (Giải thích)
c- Bông hoa hồng xinh đẹp.
- Bông hoa hồng xinh đẹp đang tươi cười và thì thầm toả hương

b- Hoa cam trắng muốt
- Hoa cam kết lại thành chùm, bông hoa trắng muốt, bung tỏa năm cánh
sao nhũ bạc duyên dáng.
12


c- Hương cam ngan ngát, dịu nhẹ.
- Mùa hoa nở, hương cam ngan ngát, dịu nhẹ dâng lên khiến không khí
vườn quê thật thanh mát, trong lành, dễ chịu.
d- Khi mùa thu đến, quả bàng vàng óng.
- Khi mùa thu bắt đầu thêu lên vòm lá xanh dịu dàng những chiếc lá
vàng, lá đỏ thì quả bàng cũng chuyển màu vàng óng.
e - Dòng sông vắt qua cánh đồng.
- Dòng sông mền như một dải lụa đào vắt qua cánh đồng xanh mướt lúa
khoai.
g - Ánh nắng trải khắp cánh đồng.
- Ánh nắng vàng như mật ong đang nhảy nhót dạo chơi khắp cánh
đồng.
h - Mùa xuân, cây cối đâm chồi nảy lộc.
- Xuân về, những chồi non như những ngọn nến xanh choàng tỉnh giấc,
ngỡ ngàng nhìn khung trời mới lạ sau giấc ngủ đông dài.
*Bài tập 4: Thay những từ gạch chân bằng những từ ngữ gợi tả hơn cho
câu văn thêm sinh động:
a- Cây chanh trong vườn đang nở hoa rất trắng.
- Cây chanh trong vườn đang nở hoa trắng muốt và tỏa ngát hương thơm.
b- Các loài hoa trong vườn đang đua nhau nở.
- Các loài hoa trong vườn đang đua nhau nở nụ cười tươi khoe sắc thắm.
c - Tiếng chim kêu sau nhà khiến Lan giật mình thức dậy.
- Tiếng chim lảnh lót sau nhà khiến Lan giật mình choàng tỉnh giấc.
d - Những đám mây đang khẽ trôi.

chọn được những từ ngữ, hình ảnh gợi tả, gợi cảm. Các em nên sử dụng nhiều từ
láy, từ tượng hình, từ tượng thanh và các từ ghép.
+ Về cách đặt câu: Khi viết câu cần linh hoạt, không nhất thiết phải viết
câu theo một công thức đơn điệu mà có thể thay đổi cách diễn đạt (dùng biện
pháp đảo ngữ,..), ... Ví dụ: Từ câu văn “Hai bên đường, hoa cúc vàng rực.” ta có
thể đổi lại “Vàng rực hai bên đường là những thảm hoa cúc”. Muốn viết câu văn
hay ta còn phải biết sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa, điệp từ,... Ví dụ:
“Nhìn từ xa, cánh đồng như một tấm thảm xanh khổng lồ” hoặc; “Những bông
hoa ngả nghiêng cười đùa, hớn hở cùng những chị bướm xinh tươi.”...
Khi viết đoạn văn cần hết sức tránh sự cẩu thả về chữ viết, cách trình bày,
tránh các sai sót về lỗi chính tả. Muốn thế, trong khi viết, chúng ta phải hết sức
chú ý suy nghĩ và vận dụng đúng, trình bày cho sáng sủa; nếu viết xong, phải
dành thời gian để đọc lại và sửa chữa những sai sót nếu có thể.
2.3.7. Tập viết bài văn có bố cục chặt chẽ, sắp xếp ý phù hợp với yêu
cầu của đề bài:
Để học sinh viết được bài văn hay, bố cục chặt chẽ cần hướng dẫn học
sinh làm các việc sau:
- Tìm hiểu bài.
- Lập dàn ý.
- Trình bày miệng.
- Viết thành bài văn hoàn chỉnh.
Tả cảnh là dùng lời văn có hình ảnh làm hiện ra trước mắt người đọc bức
tranh cụ thể về một cảnh vật đã làm ta chú ý và cảm xúc sâu sắc. Người tả phải
nắm vững cảnh vật mình định tả có những nết gì nổi bật, đặc sắc và diễn tả lại
bằng những từ ngữ giàu sức gợi cảm, cho thấy rõ hình khối, kích thước, màu
sắc, âm thanh, hương vị,... và những cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, thích thú,...
khi nhìn cảnh vật. Tả là phải cụ thể, phải làm cho người đọc, người nghe như
trông thấy trước mắt cảnh vật đó. Bài tả phải gợi hình, gợi cảm, phải đạt được
yêu cầu sau:
14

vả của bà con nông dân.
Nhìn chung mỗi giáo viên có một phương pháp giảng dạy, có những biện
pháp đối với học sinh khác nhau song để tiết học đạt kết quả cao thì mỗi học
sinh cũng phải làm tốt các công việc mà giáo viên giao cho.
2.3.8. Đổi mới cách ra đề tập làm văn
Với Tập làm văn, để kích thích hứng thú của học sinh, ta có thể thay đổi
cách ra đề. Bàn về vấn đề này, GS Lê Phương Nga cho rằng thay vì những đề
văn cộc lốc như tả lại khu vườn nhà em, tả lại cánh đồng làng em, tả cô giáo - bố
- mẹ… em, cần có những đề văn khuyến khích và tạo điều kiện để học sinh viết
sáng tạo.
Ví dụ: Thay vì yêu cầu học sinh tả một loài hoa yêu thích, giáo viên có
thể ra đề như sau:
15


"Để lại sắc vàng trong nắng
Cúc vẫy tay chào mùa thu
Để lại hương nồng trong gió
Ngọc lan khẽ bước qua mùa…
Từ ý thơ trên, em hãy tả một loài hoa mà em yêu thích."
- Hay, thay vì yêu cầu học sinh tả dòng sông quê em, giáo viên có thể ra
đề: "Buổi sáng, khi ông mặt trời thức giấc, dòng sông quê em vàng rực rỡ với
những hạt nắng vàng nhảy nhót trên sóng. Buổi trưa, sông lại hiền hòa yên ả
với con đò êm êm khua nước, với những rặng cây xanh mướt nghiêng soi, xanh
mầu xanh thăm thẳm của trời. Em hãy tả lại sự thay đổi của dòng sông quê em
trong ngày để mọi người cùng biết."
- Một ví dụ khác mà Giáo sư Lê Phương Nga sử dụng trong bài giảng
của mình: "Một con sẻ non mép hãy còn vàng óng, trên đầu chỉ có một nhúm
lông tơ rơi từ trên tổ xuống đất. Con chó săn tiến lại gần. Bỗng sẻ mẹ từ một
ngọn cây gần đó lao xuống, lấy thân mình phủ kín sẻ con… Con chó săn bối rối,

chọn không trùng với tên bạn nào trong lớp). Hãy chỉ vào cái ghế trống đó và
hỏi cả lớp xem Bin ở đâu. Nói cho học sinh biết Bin vẫn thường ngồi ở vị trí của
bạn ấy (chỉ vào cái ghế trống) và hôm qua bạn ấy vẫn ngồi chỗ đó nhưng hôm
nay không có ở đó. Hi vọng là ai đó trong lớp sẽ nghĩ ra lí do tại sao Bin không
có ở lớp hôm nay. Tạo ra tranh luận bằng cách nói rằng bạn đã nghe thấy một lí
do khác. Hỏi xem có ai biết gì khác về chuyện Bin vắng mặt không? Ai là người
cuối cùng nhìn thấy Bin. Tiếp tục giải thích như vậy để học sinh đưa ra các dự
đoán Bin đang ở đâu, vì sao? Cuối cùng, nói rằng vì Bin thất lạc nên chúng ta
phải làm một tờ thông báo tìm người thất lạc, giải thích Bin là ai, mô tả nhận
dạng, tính cách, thói quen của Bin (có thể kèm theo một hình vẽ để mọi người
dễ nhận ra Bin), thông báo là đã nhìn thấy Bin lần cuối cùng ở đâu, có thể liên
lạc với ai nếu các bạn nhìn thấy Bin,… Khi làm xong tờ thông báo hãy dán nó ở
nơi có nhiều bạn trong trường tập trung nhất.
- Tạo ra sự mới mẻ khi giải thích những sự việc hiển nhiên trong thực tế.
Ví dụ: Yêu cầu học sinh sáng tác truyện để giải thích tại sao con Voi có
cái vòi dài, tại sao con Báo có những đốm màu, Tại sao cổ con Hươu lại cao….
sau khi học sinh đọc những câu chuyện như "Trí khôn của ta đây" (giải thích
màu vằn vện trên lưng Hổ và vì sao Trâu không có hàm răng trên) hay Quạ và
Công (giải thích tại sao Công có bộ lông đẹp mà Quạ thì đen thui, xấu xí) …
- Miêu tả một con vật mới lạ:
Yêu cầu HS miêu tả một con vật do các em tự sáng tạo ra. Nó trông như
thế nào? Giống cái gì? Nó sống ở đâu? Nó ăn gì? Nó làm được điều gì?...Sau đó
cho học sinh trao đổi, thảo luận và hoàn thiện bài viết của mình trong nhóm,
trong lớp.
- Tập làm thám tử:
Ví dụ: Giáo viên lấy một số đồ vật của một người nào đó, cho học sinh
quan sát kĩ các đồ vật đó để đoán đặc điểm, tính cách, lứa tuổi, sở thích, ước mơ
17



Qua thực tế giảng dạy, thời gian đầu tôi còn gặp một số khó khăn. Song
với lòng nhiệt tình, tâm huyết với nghề tôi đã nghiên cứu và áp dụng các giải
pháp như đã nêu trên trong quá trình giảng dạy kiểu bài Tả cảnh trong phân môn
Tập làm văn ở lớp 5A, tôi nhận thấy kết quả học tập của học sinh có chuyển
biến rõ rệt, các em không còn ngại học Tập làm văn, một số em đã có kỹ năng
quan sát tốt, viết văn có hình ảnh, dung từ chính xác, bố cục rõ ràng, bài viết
sáng tạo hơn. Giáo viên không còn lệ thuộc vào sách giáo viên hoặc sách tham
18


khảo mà đã chủ động hơn trong quá trình giảng dạy, nên qua một năm học tôi đã
thu được kết quả đáng kể.
Qua các bài Tập làm văn, vốn từ của học sinh được mở rộng, tăng cường,
kĩ năng dùng từ, diễn đạt câu trong hoạt động giao tiếp của học sinh được hình
thành và phát triển. Học sinh có ý thức hơn về từ ngữ, về cách dùng từ trong
thực tiễn nói - viết, trong học tập và trong giao tiếp.
Kết quả đạt được qua lần khảo sát chất lượng giữa kì 2 năm học 2017 2018 ở 2 lớp 5A và 5B của Trường Tiểu học Thị Trấn Hậu Lộc như sau:
Lỗi sai

số

Lớp

Sử dụng
Về bố
biện pháp
cục
nghệ thuật

Về diễn

5C
(Đối chứng)

25

1

4

1

4

%

%

%

%

1

3,3

1

3,3

1

cứu tài liệu, tìm hiểu phương pháp dạy học Tiếng Việt để trao đổi với bạn bè
đồng nghiệp. Tôi hy vọng rằng kinh nghiệm nhỏ bé của mình sẽ phần nào giúp
các đồng chí giáo viên Tiểu học đặc biệt là các giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp
5 áp dụng trong quá trình dạy kiểu bài Tả cảnh trong phân môn Tập làm văn của
lớp mình, đơn vị mình góp phần nâng cao hiệu quả dạy học nói chung để thực
hiện tốt mục tiêu giáo dục của cấp học, bậc học.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
Thầy cô giáo cũng như nghệ sĩ, ngoài việc giảng dạy tri thức, họ còn
mang thiên chức bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, cảm xúc và những rung động
thẩm mĩ cho học sinh. Để khơi gợi sự sáng tạo ở học sinh, không thể bị sự bó
buộc trong những khuôn khổ, những quy định quá chặt chẽ, giáo điều. Thầy cô
nào chỉ chăm chăm vào những điều được ghi trong sách giáo khoa và sách giáo
viên, học thuộc lòng để rồi lên lớp và "diễn" lại theo một quy trình định sẵn,
không sai một bước, thì bất quá cũng chỉ là "thợ dạy" chứ không thể là thầy cô
19


giáo - nghệ sĩ thực thụ được và học sinh của họ sẽ chỉ mãi mãi quanh quẩn với
những bài viết nhàm chán, đồng loạt, không cảm xúc và đặc biệt là thiếu đi sự
sáng tạo của các em.
Qua việc thực hiện đề tài: "Một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho
học sinh khi dạy kiểu bài Tả cảnh trong phân môn Tập làm văn lớp 5”, tôi
thấy đây là một hình thức dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh,
các em hoàn toàn chủ động trong quá trình nhận thức. Đây là một trong những
nguyên tắc giáo dục có hiệu quả. Cụ thể tôi thấy khi vận dụng phương pháp dạy
học này - các tiết học tập làm văn diễn ra tự nhiên, nhẹ nhàng và hiệu quả hơn.
Tất cả các em đều được thực hành luyện tập nhiều. Khắc sâu nội dung kiến thức
từng bài học. Biết vận dụng lý thuyết vào thực tế một cách linh hoạt, sáng tạo.
Đối với đa số học sinh các em đã xác định đúng yêu cầu đề, biết viết câu

20


- Thường xuyên tìm hiểu sách báo tham khảo, nghiên cứu nội dung
chương trình Tiểu học hiện nay. Không ngừng tự bồi dưỡng, tích luỹ vốn tri
thức, kinh nghiệm giảng dạy từ bạn bè đồng nghiệp; học hỏi những giáo án hay
trên sách báo, trên Tạp chí, chuyên san Giáo dục hay Thế giới trong ta…
- Kết hợp giữa dạy luyện từ, luyện câu và tập làm văn một cách nhịp
nhàng trong mỗi tiết học, bài học.
- Tìm hiểu kỹ và chú ý tới tất cả các đối tượng học sinh …
3.2. Kiến nghị
Qua việc thực hiện đề tài: "Một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho
học sinh khi dạy kiểu bài Tả cảnh trong phân môn Tập làm văn lớp 5", tôi
nhận thấy rằng thành công có được là cả một quá trình rèn luyện lâu dài của cả
thầy và trò. Thông qua đây, tôi xin được đề xuất:
3.2.1. Đối với học sinh:
Nắm vững các kiến thức về kiểu bài văn tả cảnh, đồng thời mở rộng thêm
hiểu biết thông qua quan sát hàng ngày, sách báo, phim ảnh, internet.... Luôn tìm
tòi, trau dồi khả năng quan sát, tưởng tượng, so sánh, liên tưởng… làm cho bài
văn của các em thêm sinh động hấp dẫn.
3.2.2. Đối với giáo viên:
- Không ngừng học hỏi, tìm tòi để nâng cao hiểu biết cũng như tìm ra
cách truyền đạt kiến thức tốt nhất đến học sinh. Tạo cơ hội cho học sinh mở
rộng hiểu biết về các cảnh vật ở mọi giờ học: trong giờ hoạt động ngoại khóa
bằng cách thông qua hệ thống câu đố về cảnh, trong giờ địa lí, lịch sử địa
phương, trong giờ khoa học, trong giờ tập đọc... Bài văn tả cảnh còn là kết quả
của các bài văn tả: cây cối, đồ vật, con vật, con người,.. cùng những hoạt động
của nó. Chính vì vậy không nên tách rời văn tả cảnh với các dạng văn miêu tả đã
học.
- Trong quá trình dạy học phải tạo thói quen cho học sinh ghi chép

XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Hậu Lộc, ngày 18 tháng 3 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
NGƯỜI VIẾT

Hoàng Thị Năm

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status