Tích hợp tài liệu văn học, địa lý trong dạy học lịch sử việt nam lớp 12 ở trường trung học phổ thông - Pdf 57

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam
Lịch sử không chỉ đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội mà trong
chừng mực không nhỏ còn là công cụ giáo dục tình cảm, đạo đức, phẩm chất.
Đó là giáo dục lòng yêu nước, trung thành với dân tộc, với cách mạng, với
Đảng... là việc noi gương người xưa để hành động trong ngày hôm nay.
Nhưng hiện nay trong xã hội và nhà trường môn lịch sử bị xem là là môn phụ.
Kết quả học tập của học sinh rất yếu kém và đáng báo động. Vậy nguyên nhân
do đâu ?
Tình trạng trên do nhiều nguyên nhân gây nên song cơ bản không phải do
bản thân môn lịch sử mà do quan niệm, phương pháp dạy học chưa phù hợp,
chưa đáp ứng yêu cầu môn học đề ra. Giáo viên dạy lịch sử chưa phát huy được
thế mạnh của bộ môn, chưa chỉ cho các em xác định được đây là bộ môn khoa
học cần phải có sự học tập nghiên cứu nghiêm túc, chưa tái hiện được không khí
của lịch sử trong giờ học nên để học sinh rơi vào tình trạng thụ động, chưa phát
huy được tính tích cực của học sinh làm cho không khí học tập mệt mỏi, làm cho
giờ học trở nên khô khan nặng nề. Vì vậy làm thế nào để tạo cho học sinh hứng
thú học lịch sử, phát huy tích cực xây dựng bài, kích thích sự tìm hiểu khám phá
về kiến thức.
Là một giáo viên trực tiếp dạy học lịch sử, trong tôi cũng đang có những
suy nghĩ về việc dạy học lịch sử hiện nay. Tôi cũng mong tìm ra con đường biện
pháp tích cực để áp dụng trong công việc của mình đang làm và tìm ra nhiều
hướng đi hơn cho tư duy của bản thân trong quá trình dạy lịch sử.
Hiện nay ở các trường phổ thông đã áp dụng rất nhiều phương pháp dạy
học, nhiều phương tiện kĩ thuật mới và bước đầu mang lại những hiệu quả thiết
thực cho quá trình dạy và học lịch sử. quá trình sử dụng công nghệ thông tin
trong dạy học là một xu thế hiện nay đã mang lại hiệu quả đáng kể. Hay áp dụng
nguyên tắc dạy học liên môn , dạy học theo vấn đề, dạy học theo nhóm, dạy học
theo qua các chương trình học lịch sử... đã góp phần tích cực vào quá trình tìm

1.2. Mục đích nghiên cứu
Cũng như các môn học khác, môn học lịch sử có nhiệm vụ và khả năng
góp phần vào việc thể hiện mục tiêu đào tạo của trường Trung học phổ thông nói
chung. Bộ môn lịch sử cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản của khoa
học lịch sử, nên đòi hỏi học sinh không chỉ ghi nhớ các sự kiện, ngày tháng mà
còn phải hiểu và vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống. Cho nên, cùng với
các môn học khác, việc học tập lịch sử đòi hỏi phát triển tư duy, thông minh,
sáng tạo của học sinh và giúp học sinh đạt kết quả cao trong kỳ thi THPT quốc
gia.
Trước đây đã có nhiều đề tài nghiên cứu về việc nâng cao chất lượng
trong dạy học lịch sử. Tuy nhiên vấn đề tích hợp tài liệu văn học, địa lý chưa
2


được ứng dụng rộng rãi, nhiều người chưa chú trọng đến việc tích hợp tài liệu
văn học, địa lý trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 .
Điều bất cập nữa ở các giải pháp là chỉ mới chú trọng việc trang bị kiến
thức văn học,địa lý đơn thuần mà chưa chưa gây hứng thú cho người học. Do đó
chất lượng dạy- học lịch sử chưa cao.
Những phân tích trên cho thấy, việc « Tích hợp tài liệu văn học, địa lý trong
dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 12 » là một việc làm thiết thực, một yêu cầu bức
thiết nhằm nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay.
1.3.

Đối tượng nghiên cứu

Đề tài xoay quanh việc nghiên cứu giảng dạy và học tập với “Tích hợp
tài liệu văn học, địa lý trong dạy học lịch sử lớp 12”. Đối tượng nghiên cứu mà
tôi áp dụng cho đề tài này là học sinh một số lớp khối 12 của trường THPT Tĩnh
Gia 1.

người xã hội chủ nghĩa của Đảng và nhà nước ta
Mục tiêu của chương trình đổi mới giáo dục phổ thông là nhằm tích cực
hoá hoạt động của học sinh trong quá trình tiếp thu kiến thức mới. Một trong
những phương pháp hiệu quả nhất đó là áp dụng việc dạy học liên môn.
Dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng của dạy học
ở trường phổ thông. Đây là cách tìm các nội dung chung giữa những môn học
với bộ môn lịch sử, từ đó sẽ bổ sung, làm sáng tỏ hơn những kiến thức mới cho
học sinh.
Như vậy dạy học liên môn là hết sức cần thiết với việc sử dụng nội dung
các bộ môn khác như văn học, địa lý, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, âm nhạc…
nhằm hổ trợ bổ sung những kiến thức lịch sử, trong đó đặc biệt hiệu quả nhất là
việc sử dụng các tư liệu văn học trong giảng dạy lich sử. Hơn thế nữa dạy học
liên môn, nhất là việc sử dụng các tư liệu văn học trong giảng dạy lich sử còn
giúp cho học sinh tăng niềm hứng thú say mê học tập, góp phần nâng cao hiệu
quả bài học.
2.2. Thực trạng vấn đề
“Lịch sử là sự kiện”, do đó những sự kiện lịch sử thường khô khan với rất
nhiều những con số về thời gian (ngày, tháng, năm) hoặc những số liệu kết quả
(của các thành tựu hoặc của những cuộc chiến dịch…). Nếu giáo viên chuyển tải
cho học sinh những số liệu một cách khô cứng chỉ để bài đủ ý, chắc chắn người
học sẽ thấy giờ sử quá khô khan, nặng nề và thực tế này đã xảy ra ở nhiều
trường, học sinh “chán” học môn Sử, học chỉ để đối phó với thi cử điểm số.
Thực trạng này đòi hỏi người giáo viên phải linh hoạt, sáng tạo trong việc
sử dụng phương pháp và để làm bài giảng thêm sinh động hấp dẫn hơn giáo viên
nên sử dụng tài liệu văn học trong giờ dạy lịch sử.
Theo tôi, các tài liệu văn học, địa lý là nguồn tư liệu quan trọng và vô
cùng dồi dào phong phú ( đặc biệt là trong lịch sử dân tộc ta thời kì vận động
giải phóng dân tộc và trong kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ).

4

Những mẩu chuyện lịch sử luôn cuốn hút học sinh, với ngữ điệu và các thao tác
sư phạm phù hợp, giáo viên khi kể một câu chuyện lịch sử không những khiên
học sinh dễ nhớ và nhờ lâu sự kiện mà tâm hồn, trái tim các em cũng sẽ thực sự
rung cảm.
5


Khi dạy Bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng
tám(1939-1945). Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời-Khi giới thiệu cho
học sinh kênh hình: Lán Nà Lừa, nơi Bác Hồ ở và làm việc cho những ngày
tiền khởi nghĩa, giáo viên có thể kể rằng:“Giữa lúc thời cơ cách mạng đang chín
muồi, Người ốm nặng, sôt li bì. Thấy mình yếu quá, nghĩ rằng khó qua khỏi, bác
đã dặn đồng chí Võ Nguyên Giáp: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù phải hy
sinh đến đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết dành
cho được độc lập”). Điều này làm cho học sinh hiểu sâu sắc rằng, Đẳng ta đã
nhận thức đúng thời cơ cách mạng và khi nắm bắt được thời cơ “Ngàn năm có
một” thì kiên quyết hành động. Đó chính là nghệ thuật, sự sáng tạo tài tình trong
lãnh đạo cách mạng của Đảng.
2.3.2. Giải pháp thứ hai: Giải pháp “Sử dụng tài liệu văn học, địa lý để xây dựng
các bài miêu tả, tường thuật. ”. Khi dạy bài 14- Phong trào cách mạng 19301931, khí thế đấu tranh sôi sục ở Nghệ Tĩnh được cụ thể hóa qua tài liệu thơ Xô viết
Nghệ Tĩnh
“Trên gió cả cờ đào phất thẳng
Dưới đất bằng giấy trắng tung ra
Giữa thành một trận xông pha
Bên kia đạn sắt bên ta gan vàng
Hơi nghĩa khí dồn vang bốn mặt
Dải đồng tâm thắt chặt muôn người
Lợi quyền ta cố ta đòi Dần xương đế quốc, xẻo môi quan trường”
(Thơ văn cách mạng 1930-1945,NxbGD,HN1964,tr 13,18).
2.3.3. Giải pháp thứ ba: Giải pháp “Sử dụng tài liệu văn học, địa lý để khắc sâu

học có thể kết hợp với một số tài liệu sau: Thứ nhất, tài liệu văn học kết hợp
với tài liệu của Hồ Chí Minh. Tài liệu Hồ Chí Minh là một tài liêu rất phong
phú, góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lịch sử. Tài liệu Hồ Chí Minh kết hợp
với tài liệu văn học sẽ làm cho bài học sinh động, cụ thể, học sinh nắm kiến thức
một cách sâu sắc. Văn kiện Đảng là nguồn tư liệu đáng tin cậy trong nghiên cứu
và giảng dạy lịch của Đảng, về sự phát triển của lịch sử dân tộc qua mỗi thời kì
dấu tranh cách mạng. Sử dụng tài liệu văn học kết hợp với văn kiện của Đảng sẽ
làm cho học sinh hứng thú học tập, củng cố, khắc sâu kiến thức lịch sử. Ví dụ
khi dạy “ Tổng khởi nghĩ tháng Tám năm 1945”, giáo viên sử dụng tài liệu
văn học kết hợp với tài liệu của Hồ Chí Minh và Văn kiện Đảng để trình bày
thời cơ cách mạng chín muồi và Lệnh tổng khởi nghĩ giành chính quyền trong
toàn quốc. Giáo viên dẫn chứng các tài liệu:
“Chính phủ phát xít Nhật hoàng Đã vô điều kiện đầu hàng Đồng minh
Thế là kết thúc chiến tranh Á châu sẽ lại thái bình từ nay. Hỡi dân Nam Việt ta
đây.Trong tình hình ấy làm ngay việc cần Việt Minh hiệu triệu toàn dân Lập
ngay chính phủ nhân dân của mình”( Thơ ca cách mạng ở Việt Bắc (1936-1945),
Nxb Văn hóa dân tộc, 1977, tr242).
7


Để làm cho sáng tỏ thời cơ “ngàn năm có một”, giáo viên hướng dẫn học sinh
đọc “Bản quân lệnh số 1” của Ủy ban khởi nghĩ, đặc biệt nhấn mạnh đoạn:
“Giờ Tổng khởi nghĩa đã đánh!”…Chúng ta phải hành động cho nhanh với một
tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng!”. Giọng đọc trang trọng, dõng
dạc, dứt khoát thể hiện sự quyết tâm hành động khi thời cơ cách mạng đến. Tiếp
đó, một học sinh đọc thư của Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân vùng dậy khởi nghĩ
giành chính quyền:“Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc
đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta…Tiến lên! Tiến lên!
Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”.(Phan Ngọc Liên (CB),
Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử, NxbĐHQG,2002,tr11026).

Khi dạy “ Cao trào kháng Nhật cứu nước tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng
Tám 1945” Giáo viên sử dụng bản đồ “Khu giải phóng Việt Bắc”
Giáo viên đặt câu hỏi tình huống: “Vì sao Hồ Chí Minh quyết định thành lập
khu giải phóng Việt Bắc?” sau đó hướng dẫn học sinh nhận thức rằng do những
thắng lợi của cao trào kháng Nhật cứu nước, vùng giải phóng được mở rộng bao
gồm các tỉnh miền thượng du: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang,
Thái Nguyên, Hà Giang (giáo viên chỉ bản đồ), địa thế các tỉnh này nối liền
nhau nên Hồ Chí Minh đã chỉ thị thành lập khu giải phóng. “Khu giải phóng trở
thành một căn cứ địa vững chắc về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế… để làm
bàn đạp Nam tiến, giải phóng toàn quốc ”
Tân Trào được chọn làm thủ đô của khu giải phóng, trong khu giải phóng đã thi
hành lời chính sách của Việt Minh, người dân bước đầu được hưởng các quyền
tự do, dân chủ. Khu giải phóng Việt Bắc chính là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt
Nam mới: “Ai lên xứ Lạng cùng anh Thăm khu giải phóng, thăm thành Bắc Sơn
Suối trong in mặt trời tròn Xem cô gái Thổ trèo non đi tuần”
(Hợp tuyển thơ văn yêu nước, thơ văn cách mạng (1913-1945), NxbVH, 1980)
Sự kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn các loại tài liệu trong dạy học lịch sử đã tạo
sức cuốn hút học sinh, hiệu quả dạy học được nâng lên rõ rệt.
2.3.5. Giải pháp thứ năm: Sử dụng kiến thức địa lí giúp học sinh khắc sâu
kiến thức bài học lịch sử.
Kiến thức Địa lí nói chung, bản đồ Địa lí nói riêng có ưu thế trong việc khắc
sâu kiến thức lịch sử cho học sinh. Chẳng hạn, khi trình bày Nghị quyết của Hội
nghị Trung ương VIII (5/1941), giáo viên cung cấp cho học sinh những kiến thức
về vị trí chiến lược của Cao Bằng, từng được Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: "Cao
Bằng là một trong những vị trí quan trọng về chiến lược 32 của ta từ năm 1924 1925 đến sau này"(1) Đến năm 1941 Người lại khẳng định: "Căn cứ địa Cao
Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào
tốt từ trước, lại kề sát biên giới lấy đó làm cơ sở liên lực quốc tế thuận lợi. Nhưng
Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp
xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc
thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn

Thuột, Bộ Chính trị đã chỉ thị triển khai lực lượng để đánh tan ý đồ tái chiếm
của quân ngụy Sài Gòn, đồng thời cũng dự kiến về một cuộc rút lui của chúng
khỏi Tây Nguyên khi Plâycu bị uy hiếp. Chính những phán đoán nhạy cảm và
chính xác đó đã chỉ đạo lực lượng chủ lực của ta đập tan cuộc phản kích hòng
tái chiếm Buôn Ma Thuột của quân ngụy ( 12-3- 1975) đồng thời khép chặt
vòng vây đẩy mạnh truy kích địch khi chúng tìm đường rút chạy. Khoét sâu
những sai lầm chiến lược của địch , lực lượng chủ lực mặt trận Tây Nguyên
đã thần tốc, nắm vững thế chủ động tiến công, truy kích, giáng đòn quyết
định, làm tan rã lực lượng quân đoàn II ngụy, giải phóng Tây Nguyên với 60
vạn dân. Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã mở ra bước ngoặt từ thế
tiến công chiến lược sang tổng tiến công chiến lược trên toàn miền Nam.
Dựa vào bản đồ, giáo viên cần chỉ cho học sinh nhận thức rõ rằng,
thuật ngữ “ Chiến dịch Huế - Đà Nẵng” trình bày trong sách giáo khoa là cách
10


nói tắt, giản đơn về 3 chiến dịch trong thế trận đồng thời và liên hoàn là:
Chiến dịch Trị -Thiên; chiến dịch Nam - Ngãi; Chiến dịch Đà Nẵng. Nhận
thức mới này được xuất phát từ thực tiễn chỉ đạo của cơ quan chỉ huy tối cao
là Bộ Chính trị, Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và thực tiễn diễn ra
trên chiến trường. Ngay trong khi chiến chiến dịch Tây Nguyên chưa kết thúc,
Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã kịp thời chỉ đạo mở chiến dịch Trị Thiên. Tại cuộc họp ngày 25-3-1975, Bộ Chính trị nhận định rằng:" Thời cơ
chiến lược mới đã đến, ta có điều kiện hoàn thành sớm quyết tâm giải phóng
miền Nam". Vì vậy, cần tập trung nhanh nhất mọi điều kiện vật chất, khí tài,
lực lượng, hành động nhanh chóng táo bạo bất ngờ, đánh cho địch không kịp 36
trở tay giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa."(1) song trước mắt phải tiêu diệt hoàn
toàn quân địch ở Huế và Đà Nẵng. Sau những thắng lợi liên tiếp của quân dân ta ở
Quảng Trị (19-3), Tam Kỳ (24-3), Huế, Quảng Ngãi (25-3), Chu Lai(26-3) địch
dồn về co cụm ở Đà Nẵng trong thế bị bao vây tuyệt vọng . Tổng thống Nguyễn
Văn Thiệu đã ra lệnh cho tướng Ngô Quang Trưởng cố thủ Đà Nẵng bằng mọi

tiếp thu bài tốt hơn, chủ động, không khí lớp học sôi nổi hào hứng, giờ học trở
12


nên sinh động, hấp dẫn lôi cuốn học sinh,các em thuộc và hiểu bài rất nhanh.
Qua các bài kiểm tra, phiếu kiểm tra thu được kết quả so sánh như sau:
Các mức độ

Khối lớp thực hiện

Khối lớp ít thực hiện

Hứng thú học tập bộ môn

Tăng

Không tăng

Khả năng ghi nhớ sự kiện - Nhanh.
nhân vật
- Nhiều, hiểu rõ sự kiện

- Mức độ chậm

Khả năng làm bài phân - Đa dạng, phân tích có - Chủ yếu học thuộc lòng,
tích sự kiện
chiều sâu
ghi nhớ các sự kiện
Học sinh có tình cảm, thái - Học sinh có thái độ đúng
Công tác giáo dục tư

mình cho nước nhà.
Tuy nhiên khi sử dụng các tài liệu văn học, địa lý trong giảng dạy giáo
viên cần chú ý:
- Giáo viên cần có sự lựa chọn kĩ càng, phải tim hiểu cặn kẽ để tìm ra những tài
liệu văn học, địa lý tâm đắc nhất phục vụ cho từng khóa trình lịch sử.
- Không lạm dụng những tài liệu văn học, tránh việc ôm đồm đưa vào quá
nhiều kiến thức thơ văn sẽ làm loãng nội dung bài học lịch sử và biến giờ học sử
thành giờ giới thiệu các tác phẩm văn học, kiến thức địa lý.
- Những tài liệu văn học, địa lý phải phù hợp với trình độ nhận thức của học
sinh, đảm bảo tính vừa sức với học sinh, đồng thời phải đảm bảo cả giá trị giáo
dưởng, giáo dục và giá trị văn học, địa lý.
- Khi khai thác những tài liệu văn học, địa lý giáo viên cần chú ý sử dụng ngữ
điệu phù hợp để tạo những điểm nhấn, những nút thắt gây sự chú ý tập trung
của học sinh từ đó sẽ có tính thuyết phục, hấp dẫn với học sinh.
- Tài liệu văn học, địa lý có thể được sử dụng để tổ chức thực hành cho các
nhóm, các tổ học sinh trong lớp như kể chuyện Lịch sử, diễn kịch hoặc tổ chức
những buổi ngoại khoá Lịch sử trong trường
3.2. Đề xuất
- Có quan niệm đúng về môn lịch sử từ các cấp quản lý đến cha mẹ học sinh
và toàn xã hội. Vì môn lịch sử có vai trò quan trọng trong việc giáo dục học sinh
về lòng yêu nước, tự hào truyền thống dân tộc và ghóp phần hình thành nhân
cách con người, môn lịch sử không chỉ là môn học mà còn là công cụ tuyên
truyền đường lối cách mạng của Đảng, bồi dưỡng niềm tin yêu đối với Đảng. Từ
đó, học sinh (sau này là công dân) sẽ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong
công cuộc xây đựng và bảo vệ đất nước.
- Phải xây dựng kế hoạch hoạt động của bộ môn với những yêu cầu cụ thể
đối với việc dạy học. Triển khai công tác đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng dạy học bộ môn.
- Mua sắm trang thiết bị, đồ dùng dạy học, đổi mới phương pháp theo hướng
hiện đại, trong đó bộ môn Lịch sử được trang bị bản đồ, tranh ảnh đầy đủ, phòng

các em học tập ngày càng tiến bộ hơn (hoàn thiện kiến thức, hình thành thế giới
quan, phát triển ngôn ngữ, tư duy và giáo dục lòng yêu lao động cho học sinh)(3).
Kiểm tra, đánh giá là một khâu quan trọng không thể thiếu được của quá
trình dạy học. Nó là công việc của cả giáo viên và học sinh. Vì vậy kiểm tra,
đánh giá có ý nghĩa to lớn đối với việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
Song thực tế việc kiểm tra, đánh giá trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
chưa tốt. Vì vậy cùng với việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, cần thiết
phải đổi mới việc kiểm tra, đánh giá trên tất cả các mặt về quan niệm, nội dung,
hình thức, phương pháp.

15


XÁC NHẬN CUA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Thanh Hoá, ngày 10 tháng 5 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác

Lê Thị Hải Ngọc

16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status