ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRƢƠNG THỊ HƢỜNG
KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TƢ LIỆU VỀ DI TÍCH
LỆ CHI VIÊN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM
LỚP 7 Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN GIA BÌNH, TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM LỊCH SỬ
Hà Nội - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRƢƠNG THỊ HƢỜNG
KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TƢ LIỆU VỀ DI TÍCH
LỆ CHI VIÊN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM
LỚP 7 Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN GIA BÌNH,TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM LỊCH SỬ
CHUYÊNNGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN LỊCH SỬ)
MÃ SỐ:60140111
Cán bộ hƣớng dẫn: TS.Nguyễn Văn Ninh
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
THCS
: Trung học cơ sở
THPT
: Trung học phổ thông
HS
: Học sinh
GV
: Giáo viên
KHTN
: Khoa học tự nhiên
KHXH
: Khoa học xã hội
LSVN
: Lịch sử Việt Nam
7. Đóng góp của luận văn .......................................................................... 11
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn .......................................... 12
9. Cấu trúc của luận văn ............................................................................. 12
CHƢƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG TƢ LIỆU VỀ DI TÍCH LỆ CHI
VIÊN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG THCS HUYỆN
GIA BÌNH .................................................................................................... 13
1.1. Cơ sở lý luận ....................................................................................... 13
1.1.1. Khái niệm liên quan ...................................................................... 13
1.1.2. Phân loại di tích ............................................................................ 17
1.1.3. Xuất phát điểm của vấn đề khai thác và sử dụng tƣ liệu về di
tích lịch sử - văn hóa trong dạy học lịch sử ở trƣờng phổ thông ............ 18
1.1.4. Vai trò, ý nghĩa của việc khai thác và sử dụng tƣ liệu di tích
Lệ Chi Viên trong dạy học lịch sử ở trƣờng THCS nói chung, ở
huyện Gia Bình nói riêng. ....................................................................... 27
1.1.5. Những yêu cầu đối với việc khai thác và sử dụng tƣ liệu về di
tích trong dạy học lịch sử ở trƣờng THCS.............................................. 29
1.1.6. Nội dung di tích lịch sử Lệ Chi Viên ............................................ 30
iii
1.2. Thực tiễn việc khai thác và sử dụng tƣ liệu di tích lịch sử - văn
hóa ở địa phƣơng trong dạy học Lịch sử ở trƣờng THCS huyện Gia
Bình ............................................................................................................ 36
1.2.1. Thực trạng về khai thác và sử dụng di tích lịch sử nói chung
và di tích lịch sử Lệ Chi Viên nói riêng ở huyện Gia Bình .................... 36
1.2.2. Thực trạng khai thác và sử dụng tƣ liệu về di tích Lệ Chi
Viên trong dạy học Lịch sử lớp 7 ở trƣờng THCS huyện Gia Bình....... 38
CHƢƠNG 2:HÌNH THỨC, BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TƢ LIỆU VỀ
kết quả điểm thi Lịch sử trong các kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông,
tuyển sinh vào đại học điểm rất thấp và ngày càng ít học sinh lựa chọn Lịch
sử là môn thi tốt nghiệp. Thực trạng đó do nhiều nguyên nhân và cần phải có
các giải pháp khắc phục khác nhau, song vấn đề đổi mới phƣơng pháp dạy
học Lịch sử là vấn đề đƣợc nhiều nhà nghiên cứu lịch sử và giáo dục quan
tâm nhằm khơi dậy hứng thú, niềm say mê tìm hiểu về lịch sử của thế giới,
dân tộc đối với mỗi học sinh. Đổi mới phƣơng pháp dạy học nói chung và
phƣơng pháp dạy học lịch sử nói riêng đƣợc Đảng quan tâm chỉ đạo. Nghị
quyết Hội nghị TƢ 8 khóa XI năm 2013 đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ
phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối
truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách
nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri
thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ
chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa,
nghiên cứu khoa học”. Tại Điều 5 Luật giáo dục Việt Nam năm 2005 cũng chỉ
rõ:“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư
duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả
năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn;
tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Môn Lịch sử với đặc thù: nhiều mốc thời gian, sự kiện, nhân vật…nên
học sinh rất khó nhớ, không gian học tập trong nhà trƣờng phần nào khiến các
em cảm thấy lịch sử là gì đó rất khô khan, phức tạp. Do vậy, một trong những
nội dung của đổi mới phƣơng pháp dạy học là thay đổi môi trƣờng học tập
không chỉ học lịch sử trong nhà trƣờng mà học sinh cần đƣợc học, tìm hiểu
1
lịch sử ở ngoài nhà trƣờng cụ thể là tại bảo tàng hay tại các di tích lịch sử. Ở
đó học sinh sẽ thấy đƣợc, cảm nhận đƣợc, trải nghiệm đƣợc những sự việc đã
B.P. Epixốp trong “Những cơ sở của lý luận dạy học”, NXB Giáo dục,
Hà Nội, 1971, đề cập đến những cơ sở tâm lý của nhận thức trực quan sinh
động trong học tập lịch sử.
2.1.2. Tài liệu về giáo dục lịch sử
Trong tác phẩm “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?” của tiến
sĩ N.Đ Đairi – nhà giáo dục lịch sử của Liên Xô trƣớc đây, đã nêu lên
quan niệm về cách tổ chức nghiên cứu, dạy học nơi xảy ra sự kiện lịch sử
là một trong những điều kiện của hoạt động dạy và học để hình thành tƣ
duy độc lập của học sinh, chính tính cụ thể, tính hình ảnh của sự kiện có
giá trị lớn lao cho phép hình dung lại quá khứ.
A.A Vaghin, nhà nghiên cứu phƣơng pháp dạy học Liên Xô trƣớc
đây, trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông” - NXB
Matxcova, 1972 (tài liệu dịch ĐHSP Hà Nội) đã đề cập đến các biện pháp
nâng cao chất lƣợng dạy học lịch sử nhƣ vai trò của đồ dùng trực quan,
vị trí, vai trò, cách sử dụng tài liệu địa phƣơng trong khoá trình lịch sử
phổ thông.
N.K.Crupxcaia coi công tác tham quan, học tập tại di tích lịch sử văn hóa là một công tác quan trọng trong nhà trƣờng, là cách dạy cho
học sinh đọc cuốn sách trong cuộc sống qua những trải nghiệm thực tế.
I.Ia.Lence với “Phát triển tư duy học sinh trong dạy học lịch sử”, NXB
Giáo dục, Hà Nội, 1982 cũng đã chỉ ra rằng dạy học có sử dụng đồ dùng trực
quan sẽ là cơ sở để diễn ra sự tái hiện tri thức và phƣơng pháp hoat động. Ông
khẳng định sự cuốn hút của các phƣơng tiện thông tin tạo hình trực quan có ý
nghĩa rất quan trọng.
F.K.Kôrovkin khi nghiên cứu về “Phương pháp dạy học lịch sử
ởtrường phổ thông” cũng khẳng định vai trò quan trọng của việc sử dụng đồ
dùng trực quan. Tính trực quan là phƣơng tiện cơ bản để hình thành kiến thức
lịch sử.
4
5
Trong cuốn “Phương pháp giảng dạy lịch sử” (Phần đại cƣơng) tập 1,
2 xuất bản năm 1966 của Trần Văn Trị, Phan Ngọc Liên, Nguyễn Cao Lũy,
Nguyễn Tiến Cƣờngở chƣơng II (tập 2) “Các phƣơng châm giảng dạy lịch sử
ở trƣờng phổ thông”. Các tác giả một lần nữa khẳng định: Dạy lịch sử gắn
liền với đời sống và cần phải liên hệ tri thức lịch sử trong sách vở với cuộc
sống, liên hệ lịch sử toàn quốc với lịch sử địa phƣơng đặc biệt là các di tích
lịch sử- cách mạng.
Giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” do GS. TS Phan Ngọc
Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi ,2002, NXB Đại học
Sƣ phạm, tái bản có sữa chữa bổ sung năm 2009… các tác giả đã nêu
những hình thức, phƣơng pháp sử dụng di tích lịch sử có tính khả thi và
đạt hiệu quả sƣ phạm nhƣ tổ chức bài học tại thực địa, tham quan ngoại
khóa, công tác công ích xã hội tại di tích lịch sử…, cùng nhiều biện pháp
dạy học khác. Các tác giả đã chỉ rõ tầm quan trọng của việc sử dụng di
tích trong dạy học lịch sử, coi đó là những tài liệu, hiện vật, đồ dùng trực
quan hàng đầu có ý nghĩa bổ sung, là những hình ảnh cụ thể nhất, sinh
động nhất, để giúp các em học sinh hiểu và tiếp cận nhanh, sâu sắc lịch
sử, nhằm dựng lại bức tranh lịch sử một cách chính xác nhất.
Tác giả Phan Khanh trong “Bảo tàng-di tích-lễ hội”, 1992, NXB
Thông tin, Hà Nội, [14], chỉ rõ: “Lịch sử đã trôi qua, nhưng sự tích anh
hùng của thế hệ đó còn lưu mãi, vang vọng mãi trong tâm hồn bao thế hệ
và niềm tự hào dân tộc. Di tích nhắc nhở chúng ta điều đó…Như vậy, di
tích là tấm gương lịch sử, để mỗi người đến chiêm ngưỡng, dù một mình
cũng phải soi bóng mình và tự vấn mình là đang làm gì để góp phần đóng
góp cho sự trường tồn, phát triển thịnh vượng của non nước này”.
Thạc sĩ. Nguyễn Thị Thành trong cuốn “Bảo tàng, di tích - nơi khơi
nguồn cảm hứng dạy và học lịch sử cho học sinh phổ thông”, 2014, NXB
Với gần 40.000 di tích, thắng cảnh đã đƣợc xếp hạng khắp cả nƣớc đây là
một lợi thế lớn đối với việc dạy học lịch sử ở trƣờng phổ thông, nhƣng vì
nhiều lý do khác nhau lợi thế này chƣa đƣợc phát huy.
7
Tại Hội nghị giao ban sử dụng di sản trong dạy học ở trƣờng phổ thông
do Bộ GD-ĐT đã tổ chức (20-8-2013) Thứ trƣởng Nguyễn Vinh Hiển đã nhấn
mạnh: “Trong quá trình đưa di sản vào dạy học ở trường phổ thông, GV cần
tận dụng các cơ hội, điều kiện cho HS tiếp cận với di sản. Điều đó góp phần
đẩy mạnh, hướng dẫn hoạt động nhận thức, kích thích hứng thú, giúp học
sinh phát triển kỹ năng học tập, tự chiếm lĩnh kiến thức.”
Trong báo cáo khoa học “Đổi mới dạy học Lịch sử địa phương với các
hình thức ngoại khóa thông qua di sản” của tác giả Nguyễn Thị Minh Nguyệt
có đề cập đến vấn đề giáo dục di sản cho HS: “Trong dạy học Lịch sử địa
phƣơng, giáo dục di sản chính là phƣơng thức giáo dục truyền thống từ thực
tế địa phƣơng, góp phần giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp của con
ngƣời. Giáo dục di sản có thể vận dụng nhiều phƣơng pháp dạy học tích cực,
ngƣời học có thể học tập ở nhiều môi trƣờng khác nhau trong một chủ thể.
Dạy và học kiến tạo, học theo nhóm, tự học… là những yếu tố quan trọng của
giáo dục di sản.”
Trong luận văn thạc sĩ của Lê Thị Thảo, 2014 - Đại học Giáo Dục
Hà Nội, đã trình bày đề tài “Sử dụng di tích lịch sử - cách mạng ở địa
phương trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 lớp 12 trung học
phổ thông tỉnh Tuyên Quang(chương trình chuẩn)”, tác giả khẳng định
việc sử dụng di tích lịch sử - cách mạng trong dạy học lịch sử dân tộc là
quan trọng, cần thiết, đồng thời đây cũng là biện pháp thực hiện đổi mới
phƣơng pháp dạy học lịch sử ở trƣờng phổ thông để nâng cao hiệu quả
giáo dục bộ môn.
Đó là những tài liệu vô cùng quý giá, làm cơ sở lý luận để chúng tôi
di tích lịch sử.
5. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở phương pháp luận:
Cơ sở phƣơng pháp luận của luận văn dựa trên những quan điểm của
chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm đƣờng lối của
Đảng và Nhà nƣớc ta về lịch sử, giáo dục.
10
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí thuyết:
+ Đọc và phân tích, tổng hợp các tài liệu sách báo, tạp chí, internet…
về triều Lê Sơ, về di tích Lệ Chi Viên, về tâm lý học, giáo dục học, phƣơng
pháp dạy học lịch sử.
+ Nghiên cứu chƣơng trình sách giáo khoa lớp 7 và lựa chon những tƣ
liệu về di tích Lệ Chi Viên.
-Nghiên cứu thực tiễn:
+ Tiến hành khảo sát thực tế một số trƣờng THCS của huyện Gia Bình
đối với giáo viên và học sinh về sử dụng tƣ liệu di tích Lệ Chi Viên trong dạy
học trên lớp và hoạt động ngoại khóa thông qua các phiếu điều tra, dự giờ,
trao đổi.
+ Soạn và tiến hành thực nghiệm sƣ phạm ở trƣờng THCS Thị Trấn
Gia Bình để khẳng định tính khả thi của các biện pháp đƣa ra
+ Sử dụng phƣơng pháp thống kê toán học để xử lý kết quả thực
nghiệm sƣ phạm.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu giáo viên thiết kế các hình thức tổ chức dạy học tại di tích Lệ Chi
Viên sẽ đáp ứng đƣợc chủ trƣơng đổi mới phƣơng pháp dạy học nói chung và
dạy học lịch sử địa phƣơng nói riêng nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng dạy
12
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KHAI THÁC VÀ SỬ
DỤNG TƢ LIỆU VỀ DI TÍCH LỆ CHI VIÊN TRONG DẠY HỌC LỊCH
SỬ Ở TRƢỜNG THCS HUYỆN GIA BÌNH
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm liên quan
1.1.1.1. Di tích là gì?
Lịch sử là bản thân hiện thực khách quan, tất cả những sự kiện lớn nhỏ
đã xảy ra, tạo nên một quá khứ nối tiếp nhau qua các thời kỳ. Lịch sử loài
ngƣời từ khi có con ngƣời xuất hiện, trải qua hàng triệu năm đấu tranh vì sự
sinh tồn và phát triển, đã để lại những dấu vết minh chứng cho quá khứ có
thật của mình. Một trong những dấu vết quan trọng đó là di tích.
Theo ý nghĩa ban đầuthì di tích là những “dấu vết, mảnh vụn” còn sót
lại của các thời đại trƣớc gắn liền với những nhân vật, sự kiện, hiện tƣợng,
biến cố lịch sử. Ta cũng dễ dàng nhận thấy từ xa xƣa nhiều nƣớc trên thế giới
đã đặt tên chung cho di tích lịch sử là dấu tích, dấu vết còn lại. Tiếng Pháp
viết vestiges, tiếng Anh cũng viết vestiges, tiếng Nga viết pomiatnik, tiếng
Trung Quốc viết cổ tích.
Trong quá trình nghiên cứu các nhà sử học đã đƣa ra nhiều khái niệm
khác nhau về di tích:
Theo “Tự điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam (Xuất bản
năm 2006 thì: “Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc
trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử”.
Theo hiến chƣơng Vơnije- Italia năm 1946 thì di tích bao gồm “ những
công trình xây dựng riêng lẻ, những khu di tích ở đô thị hay nông thôn, là
bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa
hay là một biến cố về lịch sử” [19-Tr50]. Điều này cho phép chúng ta khẳng
tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời
kỳ lịch sử, địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu.Công trình kiến trúc, nghệ
thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị
14
tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật của
giai đoạn đó ở một địa điểm cụ thể, nhất định.”
Trên góc độ khoa học, giáo trình của trƣờng Đại học Văn hóa đã đƣa ra
định nghĩa khái quát nhƣ sau: “ Di tích lịch sử - văn hóa là những không gian
vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử,
do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để
lại”[14 - Tr24].
Di tích còn gồm những hiện vật bằng vật chất nhƣ nhà cửa, thành
quách, y phục, công cụ lao động, lăng mộ…Di tích lịch sử phản ánh những
hoạt động, đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của con ngƣời qua các thời đại.
“Bất cứ thời đại nào, trình độ phát triển mọi mặt của nó đều được phản ánh
khá rõ trong các di tích lịch sử. Vì vậy, di tích lịch sử là những tấm gương soi
của lịch sử, là hơi thở của lịch sử đương thời” [14-Tr 171]
Di tích lịch sử là những loại dấu vết của lịch sử còn lƣu lại cho đến
ngày nay, nó phản ánh những hoạt động, đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa,
phong tục tập quán của con ngƣời qua các thời đại hay phản ánh cả một thời
kỳ lịch sử dài.
Di tích lịch sử còn là nơi lƣu niệm, tƣởng nhớ các nhân vật lịch sử, các
anh hùng dân tộc trong những cuộc kháng chiến chống xâm lƣợc, chống thiên
tai, các danh nhân văn hóa…nhƣ những đền thờ, tƣợng đài, bia mộ…
Nhƣ vậy, một di tích đƣợc xác định là di tích lịch sử “ là nó phải có
thực từ trước và được lưu giữ đến ngày nay, bao giờ cũng gắn liền, phản ánh,
ghi nhận, minh chứng một sự kiện, nhân vật lịch sử, đặc biệt là những sự kiện
ngƣời nhƣ: truyền bá kiến thức khoa học, tìm hiểu lịch sử, giáo dục truyền
thống, tham quan du lịch…Trong thời đại ngày nay, với sự phát triển của
khoa học, kĩ thuật, đời sống kinh tế đƣợc nâng cao, thì phải cần chú ý đến
việc giữ gìn, khai thác, sử dụng các di tích lịch sử, đặc biệt là khai thác, sử
dụng vào việc dạy học lịch sử cho các thế hệ học sinh.
16
1.1.1.3. Di tích lịch sử cách mạng
Di tích lịch sử cách mạng không phải là một loại hình di tích riêng, mà
là những di tích thuộc loại hình di tích lịch sử hoặc di tích lịch sử - kiến trúc
nghệ thuật.
Đối với di tích lịch sử, gồm có: loại di tích lƣu niệm sự kiện và lƣu
niệm danh nhân.
- Di tích lƣu niệm sự kiện là công trình, địa điểm, nơi diễn ra sự kiện
lịch sử. Căn cứ vào tính chất, giá trị và ý nghĩa của sự kiện lịch sử diễn ra tại
địa điểm đó để xếp hạng là di tích cấp tỉnh (thành phố) hoặc di tích quốc qia,
hay di tích quốc gia đặc biệt quan trọng.
- Di tích lƣu niệm danh nhân là công trình, địa điểm gắn liền hoặc có sự
liên hệ mật thiết với quá trình hoạt động, hoặc nơi diễn ra sự kiện lịch sử tiêu
biểu của nhân vật lịch sử, danh nhân lịch sử nhƣ: anh hùng dân tộc, các nhà
hoạt động cách mạng tiêu biểu…
Nhƣ vậy ta thấy, trải qua hàng nghìn năm dựng nƣớc và giữ nƣớc, các
di tích lịch sử ở địa phƣơng là những bằng chứng về truyền thống lịch sử văn hóa của quốc gia, dân tộc, của từng địa phƣơng qua nhiều thế hệ, gắn với
sự phát triển của xã hội cũng nhƣ những bƣớc thăng trầm trong lịch sử khai
phá, xây dựng, đấu tranh để giữ gìn và phát huy những thành quả đạt đƣợc,
những giá trị truyền thống, để cuối cùng tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam.
1.1.2. Phân loại di tích
Trên cơ sở những tiêu chí quy định tại điều 28 Luật Di sản Văn hóa,
cũng là cơ sở khoa học giúp các ngành, các cấp có kế hoạch trong việc bảo
tồn và phát huy giá trị của các di tích.
1.1.3. Xuất phát điểm của vấn đề khai thác và sử dụng tư liệu về di tích lịch
sử - văn hóa trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
1.1.3.1. Mục tiêu giáo dục của bộ môn Lịch sử
Mục tiêu giáo dục bộ môn Lịch sử ở trƣờng phổ thông thể hiện rõ qua
mục tiêu chung của giáo dục phổ thông với chức năng, nhiệm vụ, đặc trƣng,
nội dung của môn học và tình hình, nhiệm vụ cụ thể của đất nƣớc trong những
điều kiện cụ thể. Mục tiêu giáo dục ở trƣờng phổ thông quán triệt đƣờng lối,
18
chính sách của Đảngvà Nhà nƣớc về giáo dục, yêu cầu của từng giai đoạn
phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc đối với giáo dục.
Luật Giáo Dục (đã sửa đổi, bổ sung) đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X thông qua và có hiệu lực thi hành ngày
1/7/2010 đã nêu: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát
triển toàn diện,có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẫm mỹ và nghề nghiệp, trung
thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi
dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Là bộ môn khoa học xã hội, môn Lịch sử trƣờng THCS phải thực hiện
những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Giáo dưỡng: Cung cấp kiến thức chính về quá trình phát triển của lịch
sử dân tộc trên cơ sở những sự kiện nổi bật của từng thời kì, hiểu đƣợc nội
dung chủ yếu của mỗi giai đoạn lịch sử nƣớc ta. Về lịch sử thế giới là những
sự kiện quan trọng, những nội dung cơ bản của lịch sử loài ngƣời từ nguồn
gốc đến nay, đặc biệt chú trọng những sự kiện, những vấn đề liên quan đến
lịch sử dân tộc và các nƣớc trong khu vực. Qua đó, học sinh có những hiểu
biết đơn giản, bƣớc đầu của quan điểm duy vật lịch sử - vai trò của quần