1
C THÁI NGUYÊN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
NGUYỄN TRƯỜNG GIANG
G ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
THỰC TRẠNG PHÁT HIỆN, XỬ TRÍ
MỘT SỐ BỆNH PHỔI THƯỜNG GẶP TẠI TRẠM Y TẾ XÃ
CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ
GIẢI PHÁP CAN THIỆP
LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
THÁI
THÁI NGUYÊN – NĂM 2019
NGUYÊN – NĂM 2019
1
2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
AFB
NB
BKLN
CTCL
CTCLQG
DOTS
Chương trình chống lao
Chương trình chống lao quốc gia
Directly Observed Treatment Short course
GOLD
(Điều trị ngắn ngày có giám sát trực tiếp)
Global Initiative for Obstructive Lung Disease
GINA
HIV/AIDS
(Sáng kiến toàn cầu về bệnh phổi tắc nghẽn)
Global Initiative for Asthma (Sáng kiến toàn cầu về hen)
Human Immuno Deficiency Virus/ Acquired Immunodificiency
Symdrom (Vi rút gây ra suy giảm miễn dịch ở người/ Hội
HPQ
KAP
KAS
NVYTTB
chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)
Hen phế quản
Knowledge Attitude Practical (Kiến thức thái độ thực hành)
Knowledge Attitude Skill (Kiến thức thái độ kỹ năng)
United States Agency for International Development
WHO
(Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ)
World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
3
4
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOANi
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ…………………..
DANH MỤC HỘP…………………………………………………………………………………………..…….…………
X
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Phân bố CBYT xã theo tuổi, giới....................................................
Bảng 3.2. Thời gian công tác của đối tượng nghiên cứu.................................
Bảng 3.3. CBYT xã thực hành hỏi bệnh..........................................................
Bảng 3.4. CBYT xã thực hành khám bệnh ....................................................
Bảng 3.5. CBYT xã xử trí sau khi hỏi bệnh, khám bệnh ...............................
Bảng 3.6. CBYT xã thực hiện hướng dẫn NB lấy đờm xét nghiệm lao
Bảng 3.22. Kỹ năng của CBYT 2 nhóm sau can thiệp ...................................
Bảng 3.23. Hiệu quả can thiệp đối với kiến thức, thái độ, kỹ năng của
CBYT xã về phát hiện, xử trí một số BPTG ......................................
Bảng 3.24. Thay đổi KAP của người dân về phòng, chống BPTG.................
Bảng 3.25. Hiệu quả can thiệp đối với người dân về phòng, chống một số BPTG
.............................................................................................................
5
6
Bảng 3.26. Số lượng NB HPQ, COPD thu nhận, quản lý tại CMU tích
lũy hàng năm (tính đến 31/12/2016)...................................................
Bảng 3.27. Kết quả xây dựng mô hình CLB “Hơi thở xanh” tại BVL&BP
tỉnh và các xã của 2 huyện can thiệp (tính đến 31/12/2016)....................
Bảng 3.28. Kết quả sinh hoạt CLB “Hơi thở xanh” ở BVL&BP tỉnh và
các xã của 2 huyện can thiệp trong 2 năm can thiệp...........................
Bảng 3.29. Kết quả hoạt động xét nghiệm phát hiện lao tại 2 huyện can
thiệp trước và sau can thiệp.................................................................
Bảng 3.30. Kết quả phát hiện lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học và
lao phổi AFB(-) tại 2 huyện can thiệp trước và sau can thiệp.............
Bảng 3.31. Kết quả hoạt động phát hiện HPQ, COPD tại 2 huyện can
thiệp trước và sau can thiệp.................................................................
Bảng 3.32. Kết quả hoạt động xét nghiệm phát hiện lao tại 2 huyện đối
chứng theo dõi 2 năm không can thiệp................................................
Bảng 3.33. Kết quả phát hiện lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học và lao
phổi AFB(-) tại 2 huyện đối chứng sau 2 năm, không can thiệp.........
Bảng 3.34. Kết quả hoạt động phát hiện HPQ, COPD tại 2 huyện đối
chứng theo dõi 2 năm không can thiệp................................................
Hộp 3.1. Đánh giá của CBYT huyện và TYT xã về thực trạng phát hiện,
xử trí một số BPTG của CBYT xã..................................................
Hộp 3.2. Đánh giá của CBYT huyện và xã về các yếu tố liên quan trực
tiếp đến năng lực phát hiện, xử trí BPTG của CBYT xã ................
Hộp 3.3. Đánh giá của Ban CSSKBĐ xã về các yếu tố liên quan gián tiếp
đến năng lực phát hiện, xử trí BPTG của CBYT xã .......................
Hộp 3.4. Đánh giá của CBYT xã, lãnh đạo thôn, bản về các yếu tố liên
quan gián tiếp đến năng lực phát hiện, xử trí BPTG của CBYT
xã.....................................................................................................
Hộp 3.5. Đánh giá của NVYTTB các xã về các yếu tố liên quan gián tiếp
đến năng lực phát hiện, xử trí BPTG của CBYT xã .......................
Hộp 3.6. Nhận xét của lãnh đạo các TYT xã về kết quả thực hiện các giải
pháp nâng cao KAS về xử trí BPTG cho CBYT xã .......................
Hộp 3.7. Lãnh đạo BVL&BP tỉnh và TTYT huyện đánh giá kết quả thực
hiện các giải pháp nâng cao KAS xử trí BPTG cho CBYT xã.
.........................................................................................................
Hộp 3.8. Nhận xét của lãnh đạo TYT xã về kết quả thực hiện các giải
pháp nâng cao KAS về phát hiện, xử trí BPTG cho CBYT xã.
.........................................................................................................
Hộp 3.9. Nhận xét của lãnh đạo Ban CSSKBĐ xã về hiệu quả của các giải
pháp can thiệp thay đổi hành vi dự phòng BPTG ở cộng đồng..........
Hộp 3.10. Ý kiến của các NB đang được quản lý ngoại trú tại phòng
CMU của BVL&BP Thái Nguyên .................................................
Hộp 3.11. Ý kiến của NB về CLB “Hơi thở xanh”.........................................
Hộp 3.12. Hiệu quả chung của các giải pháp can thiệp cộng đồng.................
8
9
10
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cũng đã được phát hiện, chẩn đoán sớm và
được quản lý điều trị hiệu quả [56], [57], [60], [61], [83], [85].
Từ năm 2008, Chương trình chống lao Việt Nam đã có chủ trương áp
dụng chiến lược PAL nhằm nâng cao chất lượng công tác phòng, chống các
bệnh như lao, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen, viêm phổi cộng đồng [13],
[42]. Giai đoạn 2008 đến 2015, PAL được thí điểm tại một số tỉnh nhằm đánh
giá hiệu quả thực tiễn làm cơ sở áp dụng trong cả nước [8], [9], [50].
Tại Thái Nguyên, công tác phòng, chống các bệnh phổi thường gặp còn
nhiều hạn chế, đặc biệt ở tuyến y tế cơ sở. Hàng năm, công tác phát hiện lao
mới đạt từ 45%-50% số nguồn lây ước tính có trong cộng đồng [8], [9].
Người mắc hen, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính chưa được chẩn đoán kịp thời
và hầu hết chưa được quản lý điều trị đúng quy định, nguyên nhân hàng đầu
là do năng lực của CBYT xã còn yếu. Nghiên cứu tìm giải pháp nâng cao chất
lượng phát hiện, xử trí các bệnh phổi thường gặp là việc làm cần thiết đối với
ngành y tế của tỉnh. Câu hỏi đặt ra là thực trạng phát hiện, xử trí các bệnh
phổi thường gặp của cán bộ y tế tuyến xã tỉnh Thái Nguyên hiện nay ra sao?
Yếu tố nào liên quan và giải pháp nào có thể cải thiện vấn đề đó? Trả lời câu
hỏi này góp phần nâng cao chất lượng công tác phòng, chống các bệnh phổi
thường gặp ở tuyến xã, chúng tôi tiến hành đề tài: “Thực trạng phát hiện, xử
trí một số bệnh phổi thường gặp tại trạm y tế xã của tỉnh Thái Nguyên và
hiệu quả một số giải pháp can thiệp” với những mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng phát hiện, xử trí một số bệnh phổi thường gặp của
cán bộ trạm y tế xã tỉnh Thái Nguyên năm 2013.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến phát hiện, xử trí một số bệnh
phổi thường gặp của cán bộ trạm y tế xã tỉnh Thái Nguyên.
3. Đánh giá hiệu quả một số giải pháp nhằm cải thiện phát hiện, xử trí
một số bệnh phổi thường gặp của cán bộ trạm y tế xã tỉnh Thái Nguyên sau 2
phổi. Các bệnh này chiếm tỷ lệ lớn trong số các bệnh lý hô hấp. Bên cạnh đó,
còn nhiều bệnh hô hấp khác chiếm tỷ lệ ít hơn, như giãn phế quản, viêm phổi
kẽ, bụi phổi,…[41], [43], [49].
11
12
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính có 65 triệu người mắc COPD từ
trung bình đến nặng với 5% trong tổng số đó (3 triệu người) trên toàn cầu tử
vong được quy cho COPD [6], [15], [57]. Khoảng 90% trong số này tử vong
do COPD xảy ra ở người thu nhập thấp và thu nhập trung bình. Dự báo trong
những năm tới, tỉ lệ tử vong do một số bệnh như tim mạch, ung thư sẽ giảm
đều đặn do khoa học y học phát triển, trong khi tỉ lệ tử vong do COPD lại
tăng lên [68]. Sự gia tăng này phần lớn là do việc gia tăng hút thuốc lá trên
toàn cầu và sự thay đổi cấu trúc tuổi của dân số ở các nước đang phát triển
[15], [68]. Về độ lưu hành của bệnh, trung bình từ 5 dến 15% dân số người
trưởng thành ở các nước công nghiệp phát triển mắc COPD [57]. Theo
Talboom-Kamp E.P. (2017), hiện nay trên toàn thế giới mỗi năm 3 triệu người
chết vì COPD [107]. Theo GOLD (2017), thế giới có khoảng 384 triệu người
bệnh (NB) COPD trong năm 2010, với 3 triệu người tử vong hàng năm. Tỷ lệ
bệnh tăng theo tỷ lệ hút thuốc lá, tuổi cao. Dự báo trong 30 năm tới mỗi năm
thế giới sẽ có 4,5 triệu người tử vong do COPD [6], [15]. Tuy nhiên, với thực
trạng bệnh như vậy nhưng số được chẩn đoán sớm và quản lý kịp thời, đúng
cách rất hạn chế [15], [57]. Đã có rất nhiều nghiên cứu trên khắp thế giới tìm
cách khắc phục vấn đề phát hiện và quản lý điều trị tốt COPD [69], [71], [72],
[75], [76].
Ở Việt Nam, mới chỉ có một số nghiên cứu dịch tễ COPD được tiến
hành tại Hà Nội, thành phố Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh mà chưa có
một con số dịch tễ đại diện cho quốc gia [53].
Tuy nhiên, có một nghiên cứu của Trần Thúy Hạnh, Nguyễn Vãn Ðoàn và
cộng sự (2011), khi tiến hành khảo sát tại 7 tỉnh thành, đại diện cho 7 vùng
miền sinh thái và địa lý trong cả nước là Nam Định, Tuyên Quang, Nghệ An,
Khánh Hòa, Bình Dương, Gia Lai và Tiền Giang nhận thấy độ lưu hành HPQ
ở Việt nam là 3,9%, trong đó: độ lưu hành HPQ ở trẻ em là 3,2% và ở người
trưởng thành là 4,1%. Nam giới có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn nữ giới, tỷ lệ
nam/nữ ở trẻ em là 1,63 và ở người lớn là 1,24 (p
Việc sử dụng các công cụ tiên tiến để chẩn đoán lao đa kháng thuốc vẫn chưa
được sử dụng ở cấp huyện. Việc đảm bảo nguồn lực tài chính để tiếp tục cung
cấp dịch vụ chăm sóc và điều trị miễn phí cho NB lao không có bảo hiểm y tế
vẫn còn là một thách thức [8], [9], [10], [11].
1.1.3. Thực trạng phát hiện, xử trí một số bệnh phổi thường gặp
1.1.3.1. Trên thế giới
Người ta thấy rằng các phác đồ chữa lao mà WHO đưa ra đã cho kết
quả rất tốt ở những nhóm NB nghiên cứu có theo dõi chặt chẽ. Nhưng khi áp
dụng các phác đồ này cho cộng đồng thì kết quả không được như các nhóm
NB được theo dõi chặt chẽ. Nguyên nhân làm cho kết quả kém ở cộng đồng là
nhiều NB đã không thực hiện đúng hướng dẫn điều trị.
15
16
Trước thực trạng trên, năm 1992, WHO đưa ra yêu cầu cho một chương
trình chống lao (CTCL) có hiệu quả là phải áp dụng hoá trị ngắn ngày có
kiểm soát trực tiếp gọi tắt là DOTS (Directly Observed Treatment Short–
course). Nói cụ thể hơn là NB lao phải được điều trị bằng các phác đồ hoá trị
ngắn ngày, dưới sự kiểm soát chặt chẽ của cán bộ y tế (CBYT). Chiến lược
DOTS đạt kết quả điều trị cao hơn bất kỳ chiến lược chống lao nào có từ
trước đó. Chỉ có DOTS mới giảm được tỷ lệ bệnh lao kháng thuốc và ngăn
chặn được bệnh lao trong tình hình hiện nay. Khi áp dụng DOTS cứ 10 NB
lao thì 9 người khỏi bệnh hoàn toàn. Nếu sử dụng DOTS chữa khỏi cho 85%
NB lao được phát hiện (phát hiện được 70% số NB theo ước tính) vào năm
2010 thì ít nhất 1/4 số NB lao và 1/4 số chết do lao có thể tránh được trong 2
thập niên tới [13], [39], [42], [57].
Tuy nhiên, DOTS mới chỉ được áp dụng trong quản lý, điều trị NB lao,
châu Phi cận Sahara còn rất trầm trọng. Để giải quyết vấn đề này, WHO đã
đưa ra 'Phương pháp tiếp cận thực tế đối với Sức khỏe phổi' (PAL) để cải
thiện việc quản lý chăm sóc chính các bệnh này. Để kiểm tra bằng chứng về
tác động của PAL đối với chẩn đoán và xử trí bệnh lao và các bệnh khác như
HPQ, COPD ở châu Phi cận Sahara. Kết quả cho thấy tăng chẩn đoán bệnh
lao và tỷ lệ chữa khỏi lao được cải thiện đáng kể. Nghiên cứu hạn chế được
thực hiện cho thấy PAL có thể có hiệu quả trong chẩn đoán lao và thành công
điều trị một phần; triển khai PAL tại Nepal cung cấp sức khỏe tốt hơn cho
những NB bị ho mạn tính nhiều khả năng bị COPD hoặc lao. Tuy nhiên, cần
có thêm bằng chứng để đánh giá tác dụng của nó đối với các bệnh hô hấp
khác, đặc biệt là ở châu Phi cận Sahara quá rộng lớn [56].
Nghiên cứu của Banda H. T. và Cs (2015) theo dõi PAL ở Malawi (một
quốc gia ở Đông Phi) cho thấy ước tính rằng Malawi chỉ phát hiện 50%
trường hợp mắc lao phổi có ho khạc ra vi trùng, thấp hơn mục tiêu toàn cầu là
70%. Bên cạnh đó tác giả cũng nhận ra mối quan hệ giữa bệnh HPQ, COPD
và bệnh lao ở các nước đang phát triển có tỷ lệ mắc bệnh lao cao, chỉ từ 10
đến 20% NB được phát hiện lao, phần lớn 80 đến 90% NB còn lại sẽ bị mắc
17
18
HPQ, COPD không được phát hiện, chữa trị. Một tỷ lệ NB mắc bệnh lao cũng
sẽ đồng mắc bệnh HPQ, COPD [57]. Cũng ở nghiên cứu này đã cho thấy mặc
dù có bằng chứng về hiệu quả, chiến lược PAL đã không được áp dụng phổ
biến ở hầu hết các nước đang phát triển, bao gồm cả Marốc và một số nước
khác. Đây có thể là kết quả của sự chấp nhận kém và thiếu ý chí chính trị của
y tế quốc gia, chính quyền, hoặc do lo ngại về tính khả thi thực hiện chiến
lược tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) [57].
Bên cạnh những nghiên cứu triển khai PAL nhằm phát hiện, chẩn đoán,
[101], [102]. Nhiều nước đã áp dụng thành công PAL, tuy nhiên ở một số
quốc gia, khu vực áp dụng chưa thành công do những rào cản về nhận thức
của NB, về kinh tế, văn hóa, địa hình khó khăn và đặc biệt do các cấp lãnh
đạo chính quyền chưa quyết tâm thực hiện [56], [57], [60], [61], [66]. Từ thực
tiễn này trên thế giới, CTCLQG đã đưa PAL về áp dụng thí điểm tại Việt Nam từ
1998 và hiện nay PAL đang được theo dõi đánh giá ở một số tỉnh trong điều kiện
cụ thể của nước ta [50], [51].
1.1.3.2. Tại Việt Nam
Việt Nam bắt đầu triển khai các hoạt động chống lao từ năm 1957 với
việc thành lập Viện Chống lao Trung ương (nay là Bệnh viện phổi Trung
ương). Chương trình Chống lao Quốc gia (CTCLQG) Việt Nam được thành
lập năm 1986. Chiến lược DOTS được áp dụng từ năm 1992. Năm 1995,
Chính phủ Việt Nam tuyên bố phòng chống lao là ưu tiên quốc gia. CTCLQG
đạt được độ bao phủ toàn bộ về địa lý vào năm 2000 và là một trong những
chương trình thành công nhất về kết quả điều trị, với tỷ lệ điều trị thành công
các ca bệnh lao AFB dương tính mới liên tục đạt trên 90% từ năm 1998. Mặc
dù đạt được kết quả này nhưng Việt Nam vẫn xếp thứ 12 trong số 22 quốc gia
có gánh nặng bệnh lao cao nhất thế giới. Điều tra hiện mắc lao toàn quốc lần
thứ nhất (2006-2007) cho thấy tỷ lệ hiện mắc lao AFB dương tính chung cho
mọi lứa tuổi ở mức 145/100.000 dân [42]. WHO ước tính Việt Nam có
khoảng 180.000 ca bệnh lao mỗi năm (199/100.000 dân) [13]. Việt Nam cũng
nằm trong nhóm 27 quốc gia có gánh nặng bệnh lao kháng đa thuốc cao,
chiếm khoảng 85% số ca bệnh lao kháng thuốc ước tính trên toàn cầu (3.500
19
20
ca lao kháng đa thuốc/năm) [7], [8], [9], [12], [13]. Từ giữa thập niên đầu của
thế kỷ này, tỷ lệ phát hiện lao (các thể) đã giảm khoảng 0,8% một năm và
[6], hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh lao, quản lý bệnh lao [7],
[12], [13]. Vấn đề đặt ra là hệ thống Y tế triển khai các giải pháp của Quyết
định và các Hướng dẫn này ra sao sẽ quyết định kết quả công tác phòng
chống các bệnh lao, HPQ và COPD. Qua công tác giám sát hàng năm của
CTCLQG cho thấy còn nhiều tồn tại, bất cập trong toàn bộ hệ thống y tế cả
nước khi triển khai các hoạt động phòng chống lao, HPQ, COPD cần phải
được sớm khắc phục trong thời gian tới [8], [9], [50], [51].
* Tại Y tế cơ sở:
Thực trạng hiện nay, tại các cơ sở y tế ban đầu có tới hơn 30% số người
đến khám sức khỏe vì lí do liên quan đến các triệu chứng như ho, khạc, khó
thở [50], [51]. Các triệu chứng này là biểu hiện của bệnh hô hấp, trong đó có
lao phổi. Đa số những NB đó không được CBYT cơ sở chỉ định xét nghiệm
đờm phát hiện lao mà thường được chẩn đoán các bệnh phổi khác không phải
bệnh lao và hầu như toàn bộ số NB này đều được chỉ định dùng kháng sinh
[20], [32], [46]. Việc phân loại NB mắc các bệnh phổi ở mức nặng, trung
bình, nhẹ để xử trí theo hướng để lại điều trị những NB nhẹ và trung bình,
chuyển tuyến trên những NB nặng vượt quá khả năng điều trị của y tế cơ sở
cũng chưa được thực hiện tốt. Vì vậy, đã xảy ra tình trạng nhiều NB nhẹ,
trung bình có thể điều trị ở cơ sở lại được chuyển lên tuyến trên gây nên sự
quá tải ở hầu hết các bệnh viện tuyến trên, trong khi không ít những NB nặng
lại được giữ lại điều trị ở cơ sở, đến khi bệnh quá nặng mới chuyển tuyến trên
gây khó khăn cho công tác điều trị [50], [51], [52].
* Tại các bệnh viện tuyến trên:
Thực tế cho thấy còn một tỷ lệ khá lớn NB mắc các bệnh phổi khi được
y tế cơ sở chuyển đến các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh hoặc tuyến trung
ương cũng chưa được các bệnh viện này quan tâm đến việc xét nghiệm đờm
phát hiện lao. Những NB này, hầu hết được điều trị một đợt kháng sinh không
thấy đỡ mới cho xét nghiệm đờm hoặc chuyển bệnh viện chuyên khoa lao và
21
trạng thiếu trang thiết bị, cơ sở vật chất, thiếu thuốc điều trị ở nhiều nơi, thiếu
22
23
hiểu biết của người dân về các bệnh phổi …đó là những thách thức lớn cho
công tác phòng chống BPTG của các địa phương trong cả nước.
1.2.1. Yếu tố trực tiếp
1.2.1.1. Nhân lực và trình độ chuyên môn
Về nguồn nhân lực còn có sự bất hợp lý về số lượng và cơ cấu [2], [3],
[35]. Bên cạnh đó, CBYT xã trình độ chuyên môm hạn chế do ít được đào tạo
và đào tạo lại, nhiều CBYT từ khi ra trường về công tác ở xã nhiều năm
nhưng chưa một lần được đào tạo lại. Vì vậy, kiến thức dần bị mai một, kiến
thức mới lại không được học, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng chuyên môn ở
TYT xã, phường [1], [2], [3].
Nghiên cứu của Hà Quyết Thắng (2013) về thực trạng và một số yếu tố
ảnh hưởng đến nguồn nhân lực y tế xã, phường tỉnh Tuyên Quang cho thấy
chỉ có 72,3% TYT xã có bác sỹ; 2,84% TYT xã có dược sỹ trung cấp [47].
Thực tế ở khu vực miền núi như tỉnh Thái Nguyên, nhân lực Y tế xã
chưa đủ về số lượng cũng như cơ cấu. Đó là một yếu tố liên quan không tốt
đến khám, chữa bệnh chung và BPTG nói riêng.
1.2.1.2. Kỹ năng tư vấn về phòng chống một số BPTG
CBYT tuyến xã còn yếu về kỹ năng tư vấn nhiều loại bệnh, trong đó có
một số BPTG nên cần chú trọng nâng cao năng lực của CBYT xã về kỹ năng
tư vấn BPTG. Đây cũng là một yếu tố liên quan không tốt đến khám chữa
bệnh chung và phát hiện, xử trí BPTG nói riêng.
Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2014 của Bộ Y tế đã nêu cần
tăng cường dự phòng và kiểm soát BKLN, trong đó có 2 BPTG là HPQ và
quốc gia, từng khu vực, tuỳ thuộc vào nền văn hóa, thậm chí tuỳ vào từng
nhóm dân cư trong cộng đồng [60], [61], [62], [64].
Tại Việt Nam, thực trạng thiếu hiểu biết về BPTG của cộng đồng,
những khó khăn, thiếu thốn ở tuyến y tế cơ sở, nhất là y tế xã về cơ sở vật
chất, trang thiết bị, nhân lực, kiến thức chuyên môn....Là những yếu tố ảnh
hưởng lớn đến công tác chăm sóc sức khỏe nói chung trong đó có việc xử trí
tốt các bệnh phổi, phát hiện lao [2], [8], [10], [11].
24
25
Hoàng Hà, Đàm Khải Hoàn (2001) nghiên cứu tại 4 xã, phường của
tỉnh Thái Nguyên thấy tỉ lệ người dân biết về nguyên nhân gây bệnh lao là
41,8%, biết lao là bệnh lây truyền đạt 59,4%, chỉ có 39,6% biết bệnh lao lây
qua đường hô hấp, 65,6% biết triệu chứng ho kéo dài là triệu chứng chính của
bệnh lao [21].
Nguyễn Quốc Hoàn (2005) nghiên cứu tại huyện vùng cao Võ Nhai
tỉnh Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ khá cao cán bộ trong Ban CSSKBĐ ở cơ sở
thiếu hiểu biết về bệnh lao: 12,8% chưa biết nguyên nhân gây bệnh lao,
14,3% không biết đường lây, 30,8% không phân biệt được nhiễm lao và mắc
lao, 51,9% chưa biết cách dùng thuốc lao. Bên cạnh đó, tỷ lệ người dân thiếu
hiểu biết về bệnh lao cũng còn khá lớn, 30,0% không biết nguyên nhân gây
bệnh lao và đường lây bệnh, 37,7% không ủng hộ điều trị lao tại nhà [26].
Nghiên cứu của Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) năm 2015
về những rào cản đối với việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ chẩn đoán lao của
người dân tại một số tỉnh đại diện cho 3 miền Bắc–Trung–Nam của Việt Nam
cho thấy những rào cản đó là kiến thức về bệnh lao của người mắc lao và
người nghi lao thấp; mặc cảm, sợ bị kỳ thị khi mắc lao; không biết nơi cung