Đặc điểm lâm sàng rối loạn cơ thể hoá và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi - Pdf 57

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Xã hội phát triển ngày càng hiện đại, cùng với những tiến bộ vượt bậc
trong nhiều ngành khoa học kỹ thuật trong đó có y tế, tuổi thọ của con người
đang ngày càng cao. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Pháp lệnh người
cao tuổi Việt Nam: người cao tuổi là người từ 60 tuổi trở lên. Theo Liên hợp
quốc (2007), tỷ lệ người già (60 tuổi trở lên) trong dân số đã tăng lên một
cách nhanh chóng, từ 8% năm 1950 lên đến 11% năm 2007, và dự báo lên đến
22% vào năm 2050 [1],[2]. Ngoài những bệnh về thực thể như: tim mạch, tiêu
hóa, cơ xương khớp thì các rối loạn tâm thần cũng là một thách thức không
nhỏ với sức khỏe người cao tuổi. Các rối loạn tâm thần kinh ở người già
chiếm 6,6% tổng số năm sống điều chỉnh theo bệnh tật (DALYs) ở nhóm tuổi
này; và 15% người trên 60 tuổi mắc phải các rối loạn tâm thần [2].
Tìm hiểu về những triệu chứng của các rối loạn tâm thần thường gặp ở
người cao tuổi sẽ giúp người cao tuổi và gia đình sớm nhận biết bệnh, có kế
hoạch điều trị và hỗ trợ kịp thời, giúp quá trình hồi phục được nhanh hơn và
nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi.
Rối loạn cơ thể hóa là một rối loạn tâm thần được biểu hiện chủ yếu
bằng các triệu chứng cơ thể. Các triệu chứng này rất đa dạng, thường xuyên
biến đổi, ít nhiều chịu tác động của các yếu tố căng thẳng tâm lý. Bệnh nhân
luôn tin tưởng mình đang mắc một bệnh cơ thể thực sự, mặc dù đi khám bệnh
và làm xét nghiệm nhiều lần đã đưa đến kết luận không mắc bệnh thực thể. Tỷ
lệ ước tính của rối loạn cơ thể hóa là 1% dân số nói chung, 1 - 6% ở các cơ sở
chăm sóc sức khỏe ban đầu và điều trị nội trú, nữ nhiều hơn nam với tỷ lệ 2:1
đến 6:1, thường khởi phát trước 30 tuổi đến 40 tuổi và kéo dài, được coi như
là một rối loạn suốt đời, gặp nhiều khó khăn khi điều trị [3].


2


thể, cùng với những yêu cầu dai dẳng đòi khám xét về y tế, mặc dầu các kết
quả âm tính nhiều lần và các thày thuốc đảm bảo rằng các triệu chứng này
không có cơ sở bệnh cơ thể. Ngay cả khi các triệu chứng khởi đầu và duy trì có
mối quan hệ chặt chẽ với những sự kiện đời sống khó chịu hoặc với những khó
khăn hay những xung đột, người bệnh thường chống lại những cố gắng muốn
thảo luận về khả năng có nguyên nhân tâm lý, điều này thậm chí có thể có, khi
có các triệu chứng lo âu và trầm cảm rõ rệt [4].
Các biểu hiện của rối loạn dạng cơ thể phong phú, đa dạng, tái diễn và
kéo dài nhiều tháng, nhiều năm, đã được khám nhiều lần ở các dịch vụ y tế ban
đầu và các chuyên khoa sâu, nhưng đều không phát hiện được tổn thương thực
thể nào tương xứng.
Trong thời kỳ đầu, các rối loạn dạng cơ thể phát triển dần dần, không rõ
ràng, không thuộc về phạm vi một cơ quan nào, kèm theo biểu hiện cảm xúc lo
âu, trầm cảm mờ nhạt. Do vậy, người bệnh chưa bao giờ đến khám thày thuốc
tâm thần, mà chỉ được các thày thuốc chuyên khoa khác theo dõi. Diễn tiến các
triệu chứng rối loạn dạng cơ thể có xu hướng tiến triển mạn tính và dao động,
dễ hình thành các phản ứng nhân cách bệnh lý khác nhau như nhân cách lo âu
tiến triển, nhân cách nghi bệnh tiến triển, nhân cách suy nhược trầm cảm, nhân
cách trầm cảm ám ảnh… [4].
Tại các bệnh viện, phòng khám đa khoa tại Mỹ, tỷ lệ rối loạn dạng cơ thể
từ 4 - 6%, có nơi lên đến 15%. Nam giới và nữ giới có tỷ lệ mắc các rối loạn


4

dạng cơ thể ngang nhau. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy nữ giới có lời
than phiền về cơ thể nhiều hơn nam giới. Mặc dù bệnh có thể khởi phát ở bất
kỳ lứa tuổi nào, nhưng phổ biến nhất ở lứa tuổi 20 - 30 [5].
Phân loại các rối loạn dạng cơ thể
Theo trường phái tâm thần học Liên Xô (quan niệm truyền thống)

- Rối loạn dạng cơ thể, không biệt định (300.82)
Quan niệm mới về y học tâm thể
- Là nhóm rối loạn có các triệu chứng cơ thể không thể giải thích thỏa
đáng là do bệnh nội khoa, ngoại khoa nào
- Các triệu chứng này nặng và kéo dài…làm giảm khả năng lao động và
hoạt động xã hội của bệnh nhân
- Yếu tố tâm lý có vai trò quan trọng trong phát sinh, tiến triển mức độ
trầm trọng và sự kéo dài của các triệu chứng
Bao gồm:
- Các rối loạn truyền thống (ICD-10, DSM-IV)
- Các rối loạn mới được xếp loại:
Rối loạn lo âu, trầm cảm…
Rối loạn nghiện chất..
Rối loạn chức năng tình dục
Rối loạn ăn uống, rối loạn giấc ngủ không thực tổn
Các rối loạn dạ dày ruột….
Sự thống nhất các quan niệm
Có vai trò quan trọng (trong khởi phát, tiến triển), đánh giá được vai trò
của các yếu tố stress, vai trò của nhân cách, yếu tố môi trường, các sự kiện cuộc
sống (lạm dụng thể chất, lạm dụng tình dục, các sang chấn thời thơ ấu…).
1.1.1. Khái niệm rối loạn cơ thể hóa
Rối loạn cơ thể hóa là một rối loạn bao gồm các lời than phiền về cơ thể
ở nhiều hệ thống cơ quan, diễn ra trong nhiều năm và kết quả là suy giảm đáng
kể chức năng và chất lượng cuộc sống hoặc phải đi điều trị nhiều lần hoặc cả
hai. Đây là rối loạn mạn tính và có liên quan đến các yếu tố căng thẳng tâm lý,
suy giảm chức năng hoạt động nghề nghiệp và xã hội, và có hành vi liên tục
tìm kiếm sự trợ giúp từ y tế [7].
Lịch sử của thuật ngữ “rối loạn cơ thể hóa” rất phức tạp trải qua nhiều
thời kỳ với nhiều tên gọi khác nhau.


7

các hành vi thái quá [11]. Khái niệm về hành vi bệnh tật ban đầu được nhà xã
hội học y học David Mechanic giới thiệu (1972). Trên lâm sàng, nó mô tả các
cách mà bệnh nhân đối phó với các triệu chứng và bệnh tật của họ. Hành vi
bệnh tật bao gồm các đặc trưng như sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe,
thúc giục bác sĩ thực hiện các lần khám có đơn thuốc hoặc điều trị, khả năng
làm việc giảm sút, tránh các hoạt động thể chất và kể về các triệu chứng cho
các thành viên trong gia đình và những người quan trọng khác biết [12].
Thuyết tập nhiễm cho rằng hành vi học được trong suốt quá trình trải
nghiệm. Khi các hành vi này xuất hiện hoặc nặng lên thì bệnh nhân đạt được
điều mình muốn và ngược lại. Vì thế, rối loạn cơ thể hóa được coi như một
phương thức kém thích nghi của bệnh nhân nhằm đạt được các nhu cầu xã hội.
Một đứa trẻ khi thấy bố mẹ hay anh chị mắc bệnh, đặc biệt là các bệnh
nặng và mạn tính, có thể học được hành vi đau ốm, lớn lên phát triển thành
rối loạn cơ thể hóa. Những trải nghiệm bệnh tật trước đây cũng là một yếu tố
quan trọng trong bệnh sinh. Người ta cũng thấy rằng bố của những phụ nữ rối
loạn cơ thể hóa có khả năng mắc rối loạn nhân cách chống đối xã hội cao. Sự
ảnh hưởng này là do yếu tố di truyền, yếu tố tâm lý xã hội hay do cả hai vẫn
chưa được biết rõ.
Thuyết phân tâm cổ điển cho rằng các triệu chứng cơ thể là biểu hiện
của các xung đột bản năng dồn nén bên trong. Thuyết phân tâm coi những
xung đột với cha, mẹ hoặc những khó khăn trong việc kiểm soát và điều chỉnh
thái độ công kích (aggression) và tâm trạng bất toại (frustration) đóng vai trò
quan trọng trong nhiều trường hợp rối loạn cơ thể hóa [9].
Thuyết tâm lý động cho rằng rối loạn cơ thể hóa như một cơ chế phòng
vệ. Người bệnh có thể đổ lỗi cho những rối loạn cơ thể đã gây ra những thất
bại trong cuộc sống cho bệnh nhân, hoặc khi bệnh nhân lo lắng về những triệu
chứng cơ thể thì có thể tạm quên đi những căng thẳng tâm lý đang hiện hữu,




9

stress, thì các triệu chứng cơ thể nổi lên và tồn tại dai dẳng (Linden, Earle,
Gerin, & Christenfeld, 1997). Theo thời gian, cá nhân cũng có thể trở nên
tăng nhạy cảm với những dấu hiệu của stress, làm trầm trọng thêm các triệu
chứng cơ thể.
1.1.2.3.Yếu tố nhân cách (loại hình thần kinh)
Nhân cách đóng vai trò quan trọng, cùng một phản ứng stress mỗi cá
nhân phản ứng theo những cách khác nhau. Có người thích nghi được không
bị bệnh, có người xuất hiện lo âu, có người xuất hiện trầm cảm, có người xuất
hiện các triệu chứng cơ thể.
Theo học thuyết Paplop một số rối loạn tâm căn xuất hiện trên những
nhân cách đặc biệt: tâm căn Hysteria trên loại hình thần kinh nghệ sĩ yếu, tâm
căn suy nhược tâm thần (Psychasthenia) trên loại hình thần kinh lý trí yếu,
tâm căn suy nhược trên loại hình thần kinh trung gian yếu.
Yếu tố nhân cách có ảnh hưởng tới sự phát sinh rối loạn cơ thể hóa.
Những bệnh nhân mắc rối loạn này thường có rối loạn nhân cách, đặc biệt là
các loại rối loạn nhân cách nhóm B. Những nét nhân cách lệ thuộc - thụ động
(passive - dependent), kịch tính (histrionic) và cảm tính - xâm hại (sensitive
-aggressive) gặp ở bệnh nhân rối loạn cơ thể hóa cao gấp hai lần ở bệnh nhân
lo âu và trầm cảm. Tỷ lệ mắc rối loạn cơ thể hóa ở bệnh nhân rối loạn nhân
cách ranh giới cũng thấy tương đối cao. Mối liên quan này có thể phản ánh
kiểu mẫu giống nhau trong các tương tác xã hội giữa bệnh nhân rối loạn cơ
thể hóa và bệnh nhân rối loạn nhân cách nhóm B [9].
Yếu tố nhân cách còn liên quan tới bệnh sinh rối loạn cơ thể hóa theo
cách thức khác như trong khái niệm “mù đọc cảm xúc” (Alexithymia), thuật
ngữ này dựa trên quan niệm phân tâm rằng bệnh nhân bị rối loạn cơ thể hoá vì
không thể diễn tả cảm xúc thành lời [9].

xã hội có thể có chung một nền tảng di truyền, và rối loạn này ở nữ tương ứng
với rối loạn nhân cách chống đối xã hội ở nam.


11

Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng cả yếu tố di truyền và yếu tố môi
trường đều có ảnh hưởng đến nguy cơ mắc rối loạn nhân cách chống đối xã
hội, rối loạn liên quan sử dụng chất và rối loạn cơ thể hóa. Một người có cha
mẹ đẻ hoặc cha mẹ nuôi mắc rối loạn nhân cách chống đối xã hội và rối loạn
liên quan sử dụng chất hay rối loạn cơ thể hóa thì khả năng mắc các rối loạn
này sẽ cao hơn. Theo Z.J. Lipowski (1986), rối loạn cơ thể hóa đã được tìm
thấy phổ biến hơn ở những phụ nữ được nhận làm con nuôi, đặc biệt ở những
người có cha mẹ đẻ mắc rối loạn chống đối xã hội hoặc nghiện rượu [23].
Các nghiên cứu cũng cho thấy các ảnh hưởng văn hóa xã hội cũng rất
quan trọng. Rối loạn cơ thể hóa có xu hướng phổ biến ở những người có trình
độ học vấn và vị thế kinh tế xã hội thấp hơn và đang sinh sống ở những nước
đang phát triển [23]. Mối tương quan cao cũng được tìm thấy giữa rối loạn cơ
thể hóa với giới tính nữ [24].
1.1.3. Dịch tễ
Tỷ lệ rối loạn cơ thể hóa theo DSM ước tính khoảng 2% nguy cơ trong
đời người đối với nữ giới, tỷ lệ ở người Mỹ da trắng và người Mỹ gốc Tây
Ban Nha là 11%, ở người Mỹ gốc Phi là 15% [25]. Theo Kaplan - Sadock, các
nghiên cứu ở Mỹ, Puerto Rico, Đức và Ý cho thấy tỷ lệ trong đời người rối
loạn cơ thể hóa đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn chẩn đoán từ 0,1% ở Mỹ đến 0,8%
ở Đức, trong khi tỷ lệ trong đời người ở bệnh nhân có rối loạn cơ thể hóa đáp
ứng đủ tiêu chuẩn chẩn đoán từ 5,6% ở Đức đến 19% ở Puerto Rico [26].
Trong một nghiên cứu quốc tế được thực hiện ở 15 trung tâm chăm sóc sức
khỏe ban đầu (n=5438) ở 14 quốc gia, tỷ lệ rối loạn cơ thể hóa theo tiêu chuẩn
ICD-10 là 2,8% [27]. Đa số các tác giả đều nhận định rằng rối loạn cơ thể hóa

+ Các triệu chứng cơ thể (chức năng/thực tổn)
+ Kéo dài/ tái diễn
+ Theo 1 hệ thống cơ quan nhất định
+ Chiếm ưu thế trong bệnh cảnh lâm sàng
+ Chịu sự tác dụng rõ rệt của yếu tố tâm lý
+ Không chấp nhận lời giải thích về y tế, xét nghiệm
+ Không cắt nghĩa được bằng 1 bệnh cơ thể thực tổn
+ Kèm theo hoặc không kèm theo bệnh cơ thể
+ Có sự khác biệt ở trẻ em và người già
+ Có các triệu chứng nhận thức hành vi kèm theo.


13

1.1.5.1. Các triệu chứng lâm sàng đặc trưng
Các triệu chứng cơ thể thường gặp ở phụ nữ tuổi 30, xuất hiện ít nhiều
liên quan đến các stress, tái diễn thay đổi theo thời gian mà bệnh nhân than
phiền nhiều năm. Các triệu chứng này có thể liên quan đến mọi bộ phận, hệ
thống trong cơ thể.
- Đau:
+ Vị trí: trong quá trình phát triển bệnh, đau xuất hiện thay đổi ở nhiều
vị trí và hoạt động như đau đầu, ngực, lưng, bụng, khớp, đau khi có kinh, đau
khi giao hợp, đau khi đi tiểu...
+ Tính chất: đau thường khó mô tả rõ ràng và không nêu được chính
xác thời điểm khởi phát. Đau thường tản mạn, không khu trú và thay đổi theo
cảm xúc của bệnh nhân. Hơn nữa, đau ở đây thường ít hoặc không thay đổi
khi dùng thuốc giảm đau thông thường nhưng lại giảm hoặc mất đi khi dùng
rượu hoặc thuốc tác động tâm thần.
- Các triệu chứng dạ dày - ruột: Hầu hết các triệu chứng chức năng ở
hệ thống dạ dày - ruột đều có thể gặp ở bệnh nhân rối loạn cơ thể hóa: ăn

B. Phải có các triệu chứng sau (xuất hiện ở một thời điểm nào đó của bệnh):
- 4 triệu chứng đau: có triệu chứng đau ở ít nhất 4 vị trí hay hoạt động
khác nhau (ví dụ đau đầu, bụng, lưng, khớp, tứ chi, ngực, trực tràng, đau khi
có kinh, đau khi giao hợp, đau khi đi tiểu).
- 2 triệu chứng dạ dày - ruột: có ít nhất 2 triệu chứng dạ dày - ruột không
phải đau (ví dụ buồn nôn, nôn, đầy bụng, tiêu chảy, kém hấp thu).


15

- 1 triệu chứng về hoạt động tình dục, sinh sản: ít nhất 1 triệu chứng về
hoạt động tình dục, sinh sản không phải đau (lãnh đạm, cường dương, xuất
tinh, kinh nguyệt không đều hay kéo dài, nôn nhiều khi có thai...).
- 1 triệu chứng giả các triệu chứng thần kinh: có ít nhất 1 triệu chứng gợi
ý đến bệnh lý thần kinh không phải đau
Các triệu chứng “chuyển di”: rối loạn phối hợp động tác, thăng bằng,
khó nuốt, nuốt nghẹn, mất tiếng, bí tiểu, rối loạn cảm giác sờ hay đau, nhìn
đôi, mù, điếc, co giật...
Các triệu chứng phân ly: quên, lên đồng, ý thức thu hẹp.
C. Có một trong hai biểu hiện sau:
- Khi làm xét nghiệm, các triệu chứng trên không cắt nghĩa được thoả đáng
là do các bệnh nội khoa, thần kinh hoặc hậu quả trực tiếp của rượu, ma tuý...
- Nếu có bệnh nội khoa, thần kinh nào đó có liên quan thì các triệu
chứng trên là quá mức so với đánh giá về lâm sàng và xét nghiệm.
D. Các triệu chứng này không phải do bệnh nhân cố ý hay giả vờ.
*Tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD - 10.
Một chẩn đoán xác định đòi hỏi có tất cả các tiêu chuẩn sau:
A. Ít nhất 2 năm có các triệu chứng cơ thể nhiều và thay đổi mà không
tìm thấy một giải thích thoả đáng nào về mặt cơ thể.
B. Dai dẳng từ chối chấp nhận lời khuyên hoặc lời trấn an của nhiều bác

- Các cơ quan nội tạng: Tim phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của hệ
tuần hoàn, mà có thể là nguyên nhân phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến lão
hoá. Phổi của người già thường làm việc ít hiệu quả khi hít vào và lượng ôxy
giảm. Khả năng dự phòng của tim, phổi và các cơ quan khác cùng với cũng
giảm sút.


17

- Khả năng tình dục giảm: Do sự thay đổi của nội tiết tố, ham muốn
tình dục ở người cao tuổi cũng giảm rõ rệt. Ở người già xương và khớp không
còn linh hoạt, mềm dẻo, các cơ đều yếu đi dẫn đến mọi cử động đều chậm
chạp, vụng về.
1.2.2.2. Quá trình thoái triển: cùng với sự lão hóa của tuổi già, các cơ quan
bộ phận đều có sự thoái triển. Sức đề kháng của người già cũng giảm sút do
vậy người già thường gặp nhiều bệnh thực thể, không chỉ gặp một bệnh mà
cùng lúc có thể gặp nhiều bệnh kết hợp với nhau.
- Các bệnh tim mạch và huyết áp: Cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, suy
tim, loạn nhịp tim…
- Các bệnh về xương khớp: Thoái hóa khớp, loãng xương, bệnh gút…
- Các bệnh về hô hấp: Cảm sốt, viêm họng - mũi, cúm, viêm phế quản,
viêm phổi, ung thư phổi…
- Các bệnh răng miệng: Khô miệng, sâu răng, bệnh nha chu…
- Các bệnh về tiêu hóa và dinh dưỡng: Rối loạn tiêu hóa, suy dinh dưỡng…
1.2.2.3. Đặc điểm tâm lý người cao tuổi
Trạng thái tâm lý và sức khỏe của người cao tuổi không chỉ phụ thuộc
vào nội lực của bản thân mà còn phụ thuộc vào môi trường xã hội, đặc biệt là
môi trường văn hóa - tình cảm và quan trọng nhất là môi trường gia đình. Khi
bước sang giai đoạn tuổi già, những thay đổi tâm lý của mỗi người mỗi khác,
nhưng tựu trung những thay đổi thường gặp là:

thể nói chung. Một trong những lý do gây khó khăn cho chẩn đoán là rối loạn
cơ thể hóa thường xuất hiện trước 30 tuổi, vì vậy thời kỳ bệnh sử kéo dài từ
thời điểm đó đến khi trên 60 tuổi rất khó đánh giá. Mặt khác, người càng cao
tuổi càng xuất hiện nhiều những triệu chứng và bệnh lý mạn tính, liên quan
tới quá trình lão hóa. Vì vậy, các triệu chứng cơ thể đa dạng, các biểu hiện
đau thường được các bác sỹ quy kết cho các bệnh lý thực thể, vì thế tỷ lệ rối
loạn dạng cơ thể không được xác định chính xác. Đồng thời, bản thân bệnh
nhân là người cao tuổi cũng gặp khó khăn trong việc phân biệt các triệu
chứng là các cảm giác chủ quan của mình, mà thường có xu hướng giải thích
đó là biểu hiện của bệnh lý thực thể ở một cơ quan, hệ thống nào đó và từ
chối điều trị theo chuyên khoa tâm thần.
Rối loạn cơ thể hóa là hiện tượng phổ biến ở mọi lứa tuổi và nền văn
hóa, ở người già các triệu chứng nổi bật liên quan đến đường ruột hoặc các
triệu chứng cơ thể khác, nhưng không có nghĩa rối loạn cơ thể hóa ở người
già có tỷ lệ cao hơn người trẻ. Ở người già, rối loạn cơ thể hóa đặc biệt liên
quan với trầm cảm, lo âu và bệnh cơ thể [32]. Nghiên cứu của Pang (2000)
trên 70 người Hàn Quốc, có độ tuổi 60 trở lên, định cư ở Mỹ cho thấy những
người đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm có điểm trung bình trên tiểu
thang đánh giá các triệu chứng cơ thể hóa của Bảng nghiệm kê triệu chứng rút
gọn (BSI) cao hơn nhóm có các rối loạn tâm thần khác hoặc không mắc rối
loạn tâm thần [33].
Dù vậy, tỷ lệ mắc phải của các rối loại này ở quần thể người cao tuổi là
rất khác nhau giữa các nghiên cứu. Sự khác biệt được giải thích do khác biệt
về công cụ nghiên cứu và mẫu nghiên cứu. Nghiên cứu của Hiller cho biết


20

87,1% người trên 45 tuổi có ít nhất 1 triệu chứng nhẹ, 26,8% có ít nhất 1 triệu
chứng nặng hoặc rất nặng [34]. Nghiên cứu khảo sát 2 giai đoạn của Erico

triệu chứng cơ thể nổi bật và dai dẳng [39].
Cũng theo Sheehan, quan niệm cổ điển về cơ thể hóa ở người già trước
kia tập trung vào việc coi đó là một tình trạng trầm cảm ẩn, rằng những cảm xúc
khó chịu được thể hiện ra bên ngoài bằng triệu chứng cơ thể. Những ý tưởng này
có mối liên quan gần gũi với nền tảng phân tâm truyền thống về rối loạn phân ly
[38]. Những nghiên cứu gần đây đã gợi ý 4 cơ chế bệnh nguyên sau:
Thứ nhất, cơ thể hóa có thể là là đặc điểm suốt đời mà kéo dài cho tới
tận tuổi già. Quan điểm này được ủng hộ bởi những bằng chứng gợi ý là
không có sự khác biệt hệ thống về đặc điểm nhân khẩu học hoặc các hành vi
tìm kiếm chữa trị ở người già và người trẻ tuổi mắc rối loạn cơ thể hóa. Tuy
nhiên, điều này bị phản bác bởi 1 nghiên cứu theo dõi dọc trong 3 năm, thấy
rằng các trường hợp theo dõi là những trường hợp mới xuất hiện. Do vậy cần
thêm những nghiên cứu theo dõi cá nhân từ trẻ tới khi già.
Thứ hai, có mối liên quan chặt chẽ giữa rối loạn cơ thể hóa và rối loạn
trầm cảm. Tuy nhiên, các mẫu tham gia nghiên cứu là những đối tượng được
gửi đến chuyên khoa và đã được tìm hiểu kỹ. Cần thêm những nghiên cứu
dựa trên quần thể người già để xem tỷ lệ của trầm cảm và cơ thể hóa như thế
nào. Trầm cảm dường như không thường gặp hơn ở người già so với người trẻ
mà được chẩn đoán rối loạn cơ thể hóa.
Thứ ba, mối liên quan với lo âu ở cả mức độ triệu chứng và mức độ rối
loạn có thể là rõ rệt. Bận tâm cơ thể là thường gặp ở lo âu nặng, và có thể lo âu
như là một con đường dẫn tới cơ thể hóa trong các rối loạn tâm thần khác nhau.
Thứ tư, ngược lại với bệnh nhân trẻ tuổi, vai trò của các yếu tố nhận
thức trong cơ thể hóa ở người già có thể quan trọng. Những người trầm cảm
lớn tuổi dường như ít có khả năng chấp thuận rằng các vấn đề tâm lý là vấn đề
thực thể. Trong một nghiên cứu cộng đồng trên nhiều độ tuổi về mối liên quan
giữa việc hiểu biết về triệu chứng với tuổi, cho thấy người già có thể quan


22

23

thân, li thân, góa bụa hay li hôn [41]. Tuy nhiên, ICD - 10 không yêu cầu tiêu
chuẩn tuổi khởi phát mà chỉ cần các triệu chứng kéo dài ít nhất 2 năm.
1.4.2. Giới
Rối loạn cơ thể hóa gặp ở nữ nhiều hơn ở nam, tỷ lệ nữ/nam xấp xỉ
10/1. Nghiên cứu của Trần Thị Hà An cho biết tỷ lệ này là 7/1 [31].
Theo Holloway (2000), rối loạn cơ thể hóa thường gặp ở nữ giới gấp 10
lần ở nam giới [40]. Cloninger và cộng sự (1986) nhận thấy, theo tiêu chuẩn
chẩn đoán của DSM-III, tỷ lệ rối loạn cơ thể hóa ở những bệnh nhân nữ tâm
thần ngoại trú là 22% [42].
Nghiên cứu của E. Morawa (2017) trên 335 người gốc Thổ Nhĩ Kỳ
định cư ở Đức cho thấy tuổi trên Bảng hỏi Sức khỏe người bệnh - 15 (PHQ15) đánh giá các mức độ rối loạn cơ thể hóa, nữ giới có điểm trung bình hiệu
chỉnh cao hơn nam giới (M = 10,4 ± 6,3 so với M = 8,1 ± 6,3, p = 0,001), sự
khác biệt về tuổi có ý nghĩa thống kê (p = 0,028) [43].
1.4.3. Đặc điểm văn hóa, xã hội
Các nghiên cứu cho thấy rối loạn cơ thể hóa gặp nhiều hơn ở những
người độc thân, góa bụa hoặc li hôn, ở đô thị và có trình độ văn hoá thấp [40].
Theo L. J. Kirmayer (1998), trong nghiên cứu ECA, rối loạn cơ thể hóa có ở
0,01% dân số và phổ biến nhất ở những người phụ nữ Mỹ gốc Phi (0,8%),
tiếp theo là nam giới Mỹ gốc Phi (0,4%) [44]. Một nghiên cứu của tác giả
Ritsner và cộng sự (2000) cho biết tỷ lệ mắc rối loạn cơ thể hóa ở những
người nhập cư tại Isarel là 21,9%, tức cao hơn rất nhiều so với những quần
thể khác [45].
Theo E. Morawa (2017), nghiên cứu cắt ngang văn hóa của J.I. Escobar
năm 1995 và năm 2007 cho thấy các triệu chứng cơ thể hóa như “cảm thấy
nóng”, “cảm giác sởn gai ốc và nóng rát”, và “tê cóng” là các than phiền phổ
biến ở Châu Phi, trong khi “nóng rát ở bàn tay và bàn chân” và “cảm giác



Vợ, chồng chết
Hạn chế vận động đi lại, giao tiếp


25

Bệnh cơ thể nặng, mạn tính….
1.4.6. Các bệnh lý thực thể
Người già thường đi cùng với sự lão hóa các cơ quan, bộ phận, do đó
người cao tuổi thường gặp nhiều bệnh cơ thể một lúc. Các bệnh thường găp
như bệnh lý tim mạch và huyết áp (Cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, suy tim,
loạn nhịp tim…). Các bệnh về xương khớp: Thoái hóa khớp, loãng xương,
bệnh gút… Các bệnh về hô hấp: Cảm sốt, viêm họng - mũi, cúm, viêm phế
quản, viêm phổi, ung thư phổi…Các bệnh răng miệng: Khô miệng, sâu răng,
bệnh nha chu… Các bệnh về tiêu hóa và dinh dưỡng: Rối loạn tiêu hóa, suy
dinh dưỡng… Trong khi đó các bệnh cơ thể thường tiến triển âm thầm do các
triệu chứng không rầm rộ, do đó không được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Bên cạnh đó khả năng dung nạp thuốc kém, và phải dùng nhiều thuốc nên
việc tương tác thuốc là không thể tránh khỏi. Do đó khả năng hồi phục là rất
thấp. Chính bởi vậy, rối loạn cơ thể hóa ở người cao tuổi là hết sức phức tạp
và việc điều trị cũng hết sức thận trọng.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status