Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn cơ thể hóa - Pdf 92

NHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG RỐI
LOẠN CƠ THỂ HÓA
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ NỘI TRÚ BỆNH VIỆN
HÀ NỘI - 2006
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
1
TRẦN THỊ HÀ AN
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong xu hướng phát triển của thế giới hiện nay, con người ngày càng
phải chịu nhiều sức ép từ cuộc sống, từ công việc cũng như từ các mối quan
hệ xã hội. Chính vì vậy, các rối loạn liên quan với stress gặp ngày càng nhiều,
trong đó có các rối loạn dạng cơ thể (RLDCT). Theo Escobar (1987), Swartz
(1986), tỷ lệ mắc RLDCT trong dân số là 4 – 5% [24], [73]. Margot W.M. De
Waal (2004) nghiên cứu 1046 bệnh nhân đến khám tại các phòng khám đa
khoa, nhận thấy RLDCT là rối loạn tâm thần (RLTT) hay gặp nhất, chiếm
16,1% [75].
Rối loạn cơ thể hoá (RLCTH) là một loại RLDCT khá phổ biến, chiếm
khoảng 0,4 – 0,5% dân số [13], [43], đặc biệt cao ở nữ giới - khoảng 2% [13],
[52]. Bệnh cảnh lâm sàng của RLCTH rất đa dạng, gồm nhiều loại triệu
chứng cơ thể không giải thích được bằng các khám xét lâm sàng và cận lâm
sàng. Đồng thời, rối loạn này lại có khuynh hướng tiến triển mạn tính, tái
diễn, dai dẳng nhiều năm và gây ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động chức năng
và lao động nghề nghiệp của bệnh nhân. Chính do các tính chất này mà bệnh
nhân đến khám ở rất nhiều chuyên khoa khác nhau và tâm lý của đa số bệnh
nhân là từ chối đến với bác sỹ tâm thần. Một số tác giả đã chỉ ra rằng tỷ lệ
mắc, mức độ trầm trọng và chi phí cho các dịch vụ y tế ở bệnh nhân RLCTH
tương đương với bệnh nhân tâm thần phân liệt - một trong những bệnh tâm
thần nặng nề nhất [45]. Thomassen và cộng sự (CS) (2003) nghiên cứu hồi
cứu thấy rằng RLCTH gây suy giảm chức năng và gây thất nghiệp nhiều hơn
các RLTT khác [74].
2

xung đột hoặc các yếu tố tâm lý” [44], [52], [53]. Như vậy, từ đây, các triệu
chứng cơ thể được biệt định thành một nhóm bệnh với những đặc trưng và
quy luật phát triển riêng biệt.
Với một số cải biên nhỏ, tên gọi nhóm bệnh này vẫn được giữ trong
DSM - III - R (1987) và trong DSM – IV (1994). Theo DSM – IV, đặc trưng
của RLDCT là hai đặc điểm lâm sàng kéo dài: Thứ nhất, những than phiền về
các triệu chứng cơ thể gợi ý đến bệnh lý thực thể mà không giải thích được
bằng các thăm khám và xét nghiệm. Thứ hai, các xung đột và yếu tố tâm lý
đóng vai trò quan trọng trong sự bắt đầu, duy trì và tiến triển của tình trạng
bệnh. Mối quan tâm về triệu chứng cơ thể tuy chưa đạt tới mức hoang tưởng,
4
ngoại trừ trong rối loạn biến hình cơ thể, nhưng làm hạn chế đáng kể các hoạt
động chức năng, xã hội, nghề nghiệp của bệnh nhân. Niềm tin lệch lạc đó của
bệnh nhân dẫn đến việc họ cố thuyết phục rằng họ có bệnh lý thực thể nhưng
chưa được tìm thấy và có xu hướng đến khám và chữa bệnh ở nhiều bác sỹ và
cơ sở y tế khác nhau mà không đến ngay với thầy thuốc chuyên khoa tâm
thần. Trong DSM – IV, RLDCT bao gồm: RLCTH, RLDCT không biệt định,
rối loạn chuyển di, rối loạn đau, rối loạn nghi bệnh, rối loạn biến hình cơ thể
và RLDCT không biệt định khác[37], [44], [53].
Còn theo hệ thống phân loại bệnh quốc tế - ICD thì cho đến ICD – 9
(1978) cũng vẫn xếp RLDCT trong các bệnh tâm căn Hysteria, bệnh tâm căn
nghi bệnh và rối loạn chức năng sinh lý có nguồn gốc tâm căn. Phải đến ICD
– 10 (1992) thì RLDCT mới được coi là một nhóm bệnh độc lập gồm các
RLTT biểu hiện bằng các triệu chứng cơ thể chủ quan, tái diễn cùng với các
yêu cầu đòi hỏi được khám xét nhiều lần về y tế, mặc dầu các kết quả khám
nghiệm đều âm tính và được các thầy thuốc đảm bảo rằng các triệu chứng này
không có cơ sở bệnh cơ thể, và nếu có bất kỳ rối loạn cơ thể nào thì chúng
cũng không giải thích được bản chất và phạm vi của các triệu chứng hoặc sự
đau khổ, bận tâm của bệnh nhân [3], [8]. Các RLDCT khởi đầu và duy trì liên
quan đến sự kiện đời sống khó chịu hoặc với những khó khăn hay xung đột.

ông [22], [44].
Năm 1859, Paul Briquet nhấn mạnh khía cạnh đa triệu chứng và tiến
triển kéo dài của rối loạn này. Ông thông báo 430 trường hợp ở bệnh viện
Charite – Paris, tập trung vào đặc điểm đa triệu chứng. Briquet cũng ghi nhận
rối loạn này ở đàn ông và cho rằng nguyên nhân gây bệnh là cảm xúc, cho tới
năm 1970, ghi nhận những đóng góp to lớn của P. Briquet, người ta dùng
6
thuật ngữ “Hội chứng Briquet” hay “Bệnh Briquet” để biểu thị rối loạn
hysteria đa triệu chứng. Tên gọi này tồn tại cho đến khi xuất bản DSM - III
(1980), kể từ đây tên gọi RLCTH ra đời[44], [52].
Trong lịch sử của DSM, lần xuất bản đầu tiên (1952), RLCTH được
xếp trong các rối loạn nguồn gốc tâm sinh. Ở lần xuất bản thứ 2 (1968) -
DSM – II, RLCTH nằm trong bệnh tâm căn nghi bệnh. Khi trở thành một
nhóm riêng, RLCTH trong DSM – III yêu cầu 14 triệu chứng đối với phụ nữ
và 12 triệu chứng đối với đàn ông trong số 37 triệu chứng liệt kê thuộc hệ
thống dạ dày - ruột, đau, giả thần kinh, tình dục... DSM - III - R (1987) chỉ
yêu cầu 13 trong số 35 triệu chứng cơ thể và không phân biệt giữa phụ nữ và
đàn ông. Tiêu chuẩn chẩn đoán RLCTH trong DSM – IV đòi hỏi có ít nhất 8
triệu chứng bao gồm 4 triệu chứng đau, 2 triệu chứng dạ dày - ruột, 1 triệu
chứng về hoạt động tình dục và sinh sản và 1 triệu chứng giả thần kinh [17].
Như vậy, đặc điểm cốt lõi của RLCTH là các triệu chứng cơ thể nhiều
loại, tái diễn, diễn ra nhiều năm trước khi đến với thầy thuốc tâm thần mà
không thể giải thích đầy đủ bởi các yếu tố cơ thể, thường dẫn đến sự chú ý về
bệnh cơ thể và gây suy giảm đáng kể các hoạt động chức năng của bệnh nhân.
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU RLCTH TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở
VIỆT NAM
1.2.1. Dịch tễ học
1.2.1.1. Tỷ lệ mắc chung
Tỷ lệ RLCTH chiếm khoảng 0,5% dân số chung và chiếm 5 – 10%
bệnh nhân ở các phòng khám đa khoa [13]. Theo Kaplan – Sadock, tỷ lệ

văn hoá và các chủng tộc [58].
8
1.2.2. Bệnh học
Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của RLCTH đến nay vẫn chưa được
biết rõ nhưng có rất nhiều giả thuyết lý giải triệu chứng của rối loạn này
1.2.2.1 Giả thuyết về yếu tố di truyền và yếu tố gia đình
Từ thế kỷ 19, Briquet đã nhận thấy tính chất gia đình của hysteria đa
triệu chứng [52]. RLCTH được quan sát thấy ở 10 đến 20% phụ nữ họ hàng
bậc một của bệnh nhân nữ RLCTH. Nam giới có quan hệ họ hàng với bệnh
nhân nữ RLCTH có nhiều khả năng mắc rối loạn nhân cách chống đối xã hội
và rối loạn liên quan đến sử dụng chất [18]. Có tác giả cho rằng RLCTH và
rối loạn nhân cách chống đối xã hội có thể có chung một nền tảng di truyền,
và RLCTH ở nữ tương ứng với rối loạn nhân cách chống đối xã hội ở nam
[19], [37], [44], [58].
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng cả yếu tố di truyền và yếu tố môi
trường đều có ảnh hưởng đến nguy cơ mắc rối loạn nhân cách chống đối xã
hội, rối loạn liên quan sử dụng chất và RLCTH. Một người có cha mẹ đẻ hoặc
cha mẹ nuôi mắc rối loạn nhân cách chống đối xã hội và rối loạn liên quan sử
dụng chất hay RLCTH thì khả năng mắc các rối loạn này sẽ cao hơn [37].
Ở những trẻ em sống trong hoàn cảnh có xung đột như cha mẹ ly hôn,
nghèo đói hay lạm dụng rượu cũng thấy tăng nguy cơ mắc RLCTH [58].
1.2.2.2 Giả thuyết thực tổn
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy mối liên quan giữa RLCTH và bệnh lý
não. Slater [68], Merskey và Buhrich [55] đã nhận thấy mối tương quan giữa
RLCTH và bệnh lý não, đặc biệt là với động kinh và xơ cứng rải rác.
Một số tác giả nghiên cứu về tâm thần - thần kinh học cho biết khả
năng về chú ý và trí nhớ ở bệnh nhân RLCTH giảm [53],[59]. Kết quả một số
nghiên cứu khác cũng cho thấy có sự giảm chức năng thuỳ trán hai bên, đặc
9
biệt là bán cầu không ưu thế ở bệnh nhân RLCTH [28], [56]. RLCTH còn liên

tạp và tốn kém thì rất có thể những phàn nàn của họ sẽ trở nên sâu đậm và
bệnh lý hoá. Ở những bệnh nhân này, yếu tố y sinh có ý nghĩa lớn trong cơ
chế bệnh sinh [52].
Yếu tố nhân cách có ảnh hưởng tới sự phát sinh RLCTH. Những bệnh
nhân RLCTH thường có rối loạn nhân cách, đặc biệt là các loại rối loạn nhân
cách nhóm B [71]. Những nét nhân cách lệ thuộc - thụ động (passive -
dependent), kịch tính (histrionic) và cảm tính – xâm hại (sensitive –
aggressive) gặp ở bệnh nhân RLCTH cao gấp hai lần ở bệnh nhân lo âu và
trầm cảm. Tỷ lệ mắc RLCTH ở bệnh nhân rối loạn nhân cách ranh giới cũng
thấy tương đối cao [52]. Yếu tố nhân cách còn liên quan tới bệnh sinh
RLCTH theo cách thức khác như trong khái niệm “mù đọc cảm xúc”
(Alexithymia), thuật ngữ này dựa trên quan niệm phân tâm rằng bệnh nhân cơ
thể hoá vì không thể diễn tả cảm xúc thành lời [44].
Các sự kiện trong cuộc sống cũng có thể thúc đẩy RLCTH. Một số tác
giả đã nghiên cứu vai trò của các sự kiện không thuận lợi và lợi lộc thứ phát
trong các RLTT. Họ nhận thấy các sự kiện không thuận lợi có ở tất cả các
RLTT nhưng lợi lộc thứ phát lại phổ biến hơn ở bệnh nhân cơ thể hoá. Họ
cũng đưa ra 3 lý do giải thích RLCTH: Một là, sự khác biệt mang tính cá thể
về khí chất và phản ứng sinh lý học. Hai là, yếu tố xã hội, văn hoá và ngôn
ngữ. Ba là, những trải nghiệm bệnh tật trước đó, khi còn nhỏ những bệnh
nhân này bị bỏ mặc và chỉ được chú ý đến khi bị ốm [20].
11
1.3. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG CỦA RLCTH
1.3.1 Đặc điểm lâm sàng đặc trưng [4] [12] [22] [37] [44] [53] [57]
* Các triệu chứng cơ thể thường gặp ở phụ nữ tuổi 30, xuất hiện ít nhiều liên
quan đến các stress, tái diễn thay đổi theo thời gian mà bệnh nhân than phiền
nhiều năm. Các triệu chứng này có thể liên quan đến mọi bộ phận, hệ thống
trong cơ thể.
- Đau:
+ Vị trí: trong quá trình phát triển bệnh, đau xuất hiện thay đổi ở nhiều vị

Kết quả khám cơ thể và xét nghiệm cận lâm sàng không cắt nghĩa được đầy
đủ các triệu chứng trên.
Các phương pháp điều trị, thậm chí cả phẫu thuật ít có hiệu quả nhưng thường
đưa đến lạm dụng thuốc, đôi khi nghiện thuốc.
1.3.2 Các rối loạn phối hợp
* Các RLTT thường gặp nhất ở bệnh nhân RLCTH là rối loạn trầm cảm, rối
loạn lo âu và rối loạn nhân cách [12], [40], [44], [69].
Theo Kaplan – Sadock (1995), hơn một nửa số bệnh nhân RLCTH
trong quá trình bệnh có kèm trầm cảm. Holloway (2000) cũng cho rằng 55%
bệnh nhân RLCTH có trầm cảm.
Rối loạn lo âu thường gặp là ám ảnh, rối loạn hoảng sợ và rối loạn lo âu
lan toả. Theo Holloway, 34% bệnh nhân RLCTH là có kèm rối loạn lo âu,
26% kèm rối loạn hoảng sợ.
Rối loạn nhân cách gặp ở 26% bệnh nhân RLCTH gồm rối loạn nhân
cách kịch tính và rối loạn nhân cách chống đối xã hội.
13
* Một số hành vi bất thường hay gặp ở bệnh nhân RLCTH [44].
Đe doạ tự sát thường thấy nhưng mang tính chất điệu bộ, hình thức chứ
hiếm khi cố gắng tự sát của bệnh nhân dẫn đến tử vong hoặc suýt tử vong.
Thường xuyên đến gặp bác sỹ và thường chuyển từ bác sỹ này sang bác
sỹ khác.
Trong trường hợp điển hình, bệnh nhân RLCTH có những vấn đề trong
hôn nhân như: ly dị, ly thân và tái hôn, họ luôn gặp trục trặc trong công việc,
và thường không có khả năng duy trì công việc của mình.
1.3.3 Tiến triển và tiên lượng [6], [44], [52], [53].
RLCTH thường tiến triển mạn tính, dao động, tái diễn. Chưa có
phương pháp điều trị đặc hiệu.
Bệnh thường khởi phát từ giữa hoặc cuối tuổi thành niên nhưng cũng
có khi muộn hơn vào tuổi 30.
Trong trường hợp điển hình, bệnh nhân xuất hiện một hoặc nhiều triệu

D (Depression): trầm cảm
Hy (Hysteria): rối loạn phân ly
Pd (Personality Deviation): lệch lạc nhân cách
Mf (Masculinity femininity): giới tính
Pa: Paranoia
Pt (Psychasthenia): lo âu, suy nhược
Sc (Schizophrenia): tâm thần phân liệt
Ma (Hypomania): hưng cảm nhẹ
Si (Social introvertion): tránh né xã hội
15
1.4.2 Thang đánh giá trầm cảm của Beck (Beck Depression Inventory -
BDI)
Bậc thang đánh giá trầm cảm do A. T. Beck và cộng sự giới thiệu năm
1974 từ những quan sát lâm sàng bệnh nhân trầm cảm (Từ đây, chúng tôi xin
được dùng cụm từ “Test Beck”). Trắc nghiệm này nhằm đánh giá lâm sàng và
thực nghiệm cường độ trầm cảm, dự đoán tiến triển của hội chứng trầm cảm.
Test Beck được TCYTTG thừa nhận để đánh giá trạng thái trầm cảm và hiệu
quả của các phương pháp điều trị.
Test có 21 mục, ghi từ 1 đến 21, bao gồm 95 mục nhỏ thể hiện trạng
thái cảm xúc của đối tượng với 4 mức độ được ghi điểm mẫu từ 0 đến 3. Tổng
số điểm: 21 × 3 = 63.
Đánh giá kết quả:
Tổng số điểm < 14: bình thường
Từ 14 – 19 : trầm cảm nhẹ
Từ 20 – 29 : trầm cảm vừa
> 30 : trầm cảm nặng
1.4.3 Thang tự đánh giá lo âu của Zung (Self Rating Anxiety Scale -
SAS)
Bậc thang đánh giá lo âu do Zung W. K đề xuất năm 1980 (Từ đây
chúng tôi xin được dùng cụm từ “Test Zung”), được coi là tiêu chuẩn để đánh

đến bệnh lý thần kinh không phải đau
Các triệu chứng “chuyển di”: rối loạn phối hợp động tác, thăng bằng, liệt khu
trú, khó nuốt, nuốt nghẹn, mất tiếng, bí tiểu, các ảo giác, mất cảm giác sờ hay
đau, nhìn đôi, mù, điếc, co giật...
Các triệu chứng phân ly: quên, lên đồng, mất ý thức.
C. Có một trong hai biểu hiện sau:
- Khi làm xét nghiệm, các triệu chứng trên không cắt nghĩa được thoả đáng là
do các bệnh nội khoa, thần kinh hoặc hậu quả trực tiếp của rượu, ma tuý...
- Nếu có bệnh nội khoa, thần kinh nào đó có liên quan thì các triệu chứng trên
là quá mức so với đánh giá về lâm sàng và xét nghiệm
17
D. Các triệu chứng này không phải do bệnh nhân cố ý hay giả vờ.
1.5.1.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD – 10 [9].
Một chẩn đoán xác định đòi hỏi có tất cả các tiêu chuẩn sau:
A. Ít nhất 2 năm có các triệu chứng cơ thể nhiều và thay đổi mà không tìm
thấy một giải thích thoả đáng nào về mặt cơ thể
B. Dai dẳng từ chối chấp nhận lời khuyên hoặc lời trấn an của nhiều bác sỹ
rằng không cắt nghĩa được các triệu chứng về mặt cơ thể.
C. Một số mức độ tật chứng của hoạt động xã hội và gia đình có thể quy vào
bản chất của các triệu chứng và hành vi đã gây ra
1.5.2 Chẩn đoán phân biệt
- Các RLDCT khác: rối loạn nghi bệnh, rối loạn đau, rối loạn chuyển di.
∗ Rối loạn nghi bệnh: Bệnh nhân bận tâm dai dẳng với nỗi sợ hãi hoặc
với ý tưởng mình bị một bệnh lý trầm trọng do sự hiểu biết sai lệch về các
triệu chứng cơ thể. Nỗi bận tâm này tồn tại dai dẳng mặc dù được giải thích
thoả đáng. Tuy nhiên niềm tin sai lệch này chưa đạt đến mức hoang tưởng
[13], [36].
Như vậy ở RLCTH, bệnh nhân nhấn mạnh vào sự biểu hiện của các triệu
chứng cơ thể và đòi hỏi được điều trị hết các triệu chứng này nên thường lạm
dụng nhiều loại thuốc. Trong khi đó ở rối loạn nghi bệnh, bệnh nhân lại tập

vờ
Không Có Có

- Rối loạn lo âu: Triệu chứng cơ thể trong rối loạn lo âu thường là các rối
loạn thần kinh thực vật như hồi hộp, đánh trống ngực, vã mồ hôi... và các
triệu chứng này xuất hiện và mất đi đồng thời với sự xuất hiện và mất đi
cảm giác lo lắng chủ quan của bệnh nhân.
19
- Rối loạn trầm cảm: Các triệu chứng cơ thể trong trầm cảm có thể là các
triệu chứng dạ dày-ruột hay các triệu chứng đau nhưng ít có tính chất di
chuyển như trong RLCTH. Hơn nữa, các triệu chứng này tồn tại và mất đi
cũng liên quan chặt chẽ với sự tiến triển của đợt trầm cảm.
- Các bệnh lý nội khoa: Phân biệt RLCTH với các bệnh nội khoa dựa
chủ yếu vào 3 đặc điểm sau của RLCTH [37]:
1. Các triệu chứng cơ thể ở hầu hết các hệ thống, cơ quan trong cơ
thể.
2. Không có sự tiến triển trầm trọng của các triệu chứng và không
có bất thường về cấu trúc.
3. Không có các dấu hiệu cận lâm sàng phù hợp với các triệu chứng
lâm sàng.
1.6. MỘT SỐ NÉT VỀ ĐIỀU TRỊ RLCTH
RLCTH là một chứng bệnh khó điều trị. Hiện nay, chưa có một phương
pháp nào điều trị triệt để RLCTH [53]. Các thầy thuốc thường có thái độ tiêu
cực và bi quan về điều trị RLCTH [52]. Neligh cho rằng tốt nhất nên coi đây
là một rối loạn suốt đời hơn là một tình trạng có thể chữa trị được [58].
Kaplan và Sadock [44] cho rằng nguyên nhân của RLCTH còn chưa
được biết rõ và chưa có một phương pháp nào có thể chữa được RLCTH nên
các thầy thuốc cần tập trung vào việc quản lý bệnh nhân hơn là việc điều trị.
Tuy nhiên, một số phương pháp trị liệu tâm lý và hoá dược cũng được
các tác giả cho là có hiệu quả trong điều trị RLCTH.

1) Phát triển hợp đồng điều trị (gồm sự thống nhất về tần suất, thời
gian và số lần trị liệu)
21
2) Thiết lập các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn. Xem lại thường
xuyên.
3) Tập trung vào cách đối phó với triệu chứng.
4) Khuyến khích bệnh nhân ghi lại hàng ngày những suy nghĩ, cảm
xúc và hành vi đối phó. Xem lại thường xuyên.
5) Thúc đẩy các hoạt động thể chất, xã hội, giải trí và nghề nghiệp
hàng ngày.
6) Thúc đẩy các bài tập thư giãn hàng ngày.
7) Thúc đẩy bệnh nhân kiềm chế và tự quản lý.
Có rất nhiều nghiên cứu về hiệu quả của liệu pháp nhận thức hành vi
đối với bệnh nhân RLCTH. Speckens và cộng sự (2003) [70] trong một
nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng, sau 6 tháng điều trị 82% bệnh nhân
RLCTH và 64% nhóm đối chứng có cải thiện hoặc hồi phục và sự thay đổi
này còn duy trì sau 12 tháng điều trị.
∗ Liệu pháp nâng đỡ
Liệu pháp nâng đỡ tốt nhất nên được thực hiện bởi một thầy thuốc nội
khoa hiểu và thông cảm với những khó khăn đặc biệt của bệnh nhân và có khả
năng đáp ứng thoả đáng với cả những vấn đề về tâm lý và cơ thể. Điều này
xuất phát từ thực tế là hầu hết bệnh nhân RLCTH tin rằng họ có bệnh cơ thể
chứ không phải RLTT nên họ dễ chấp nhận một bác sỹ nội khoa để chữa
chứng bệnh cơ thể cho họ hơn. Các buổi trị liệu phải được lên kế hoạch và
nhất quán. Thầy thuốc cung cấp sự bảo đảm và nâng đỡ bệnh nhân nhưng
không thường xuyên đến nỗi sự phụ thuộc quá mức xuất hiện [52].
1.6.2.2 Liệu pháp hoá dược
22
Stress được nhiều tác giả cho là có liên quan đến cơ chế bệnh sinh của
RLCTH. Stress tác động thông qua trục dưới đồi - tuyến yên - tuyến thượng

CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được tiến hành tại Viện Sức khoẻ Tâm thần - Bệnh viện
Bạch Mai.
2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Bao gồm tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán xác định RLCTH nhập
Viện Sức khoẻ Tâm thần trong thời gian nghiên cứu.
2.2.1 Cỡ mẫu nghiên cứu:
Cỡ mẫu được tính theo công thức “Ước tính một tỉ lệ trong quần thể”
[11]:

2
2
)2/1(
)1(


×=

pp
Zn
α
Trong đó:
n: Cỡ mẫu tối thiểu.
α : Mức ý nghĩa thống kê.
Z
2
(1-
α


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status