nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi từ 19 đến 29 điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần - Pdf 22

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn trầm cảm (RLTC) là một bệnh lý cảm xúc biểu hiện đặc trưng
bởi khí sắc trầm, giảm hoặc mất sự quan tâm, thích thú, giảm năng lượng dẫn
tới tăng mệt mỏi và giảm hoạt động, các biểu hiện này tồn tại trong thời gian
ít nhất hơn hai tuần[1], [2],3].
Ngày nay, trầm cảm là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến và
có xu hướng ngày một tăng ở nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang
phát triển. Trầm cảm là một vấn đề cần được quan tâm, đặc biệt trong công
tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu. Theo thông báo của Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO), ước tính có khoảng trên 200 triệu người bị rối loạn trầm cảm điển
hình, nghĩa là khoảng5% dân số toàn cầu mắc bệnh này, ở Việt Nam tỷ lệ này
là 2,8%. Trầm cảm là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tự sát,
45 – 70% những người tự sát mắc bệnh trầm cảm và 15% số đó đã tử vong do
thực hiện được hành vi tự sát [4], [5].
Trầm cảm có thể gặp ở mọi dân tộc, mọi vùng dân cư và mọi lứa tuổi,
tần suất trầm cảm thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nghề nghiệp, giới
tính, trình độ, mức sống, văn hoá, xã hội và lứa tuổi[6]. Ngày nay,tỷ lệ trầm
cảm ở lứa tuổi trẻ có xu hướng ngày càng tăng. Kết quả nghiên cứu trầm cảm
ở học sinh trung học phổ thông Hà nội năm 2002 của Nguyễn Bá Đạt trên 566
học sinh THPT thì có 8,8% học sinh bị trầm cảm[7].Nghiên cứu của Tô Thanh
Phương (2005) tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở độ tuổi từ 16 – 25 cao nhất (38,84%), độ
tuổi từ 36 – 45 tỷ lệ trầm cảm thấp nhất (13,64%) [8].
Kết quả nghiên cứu của Coben (1993): trẻ từ 11 – 20 tuổi tỷ lệ trầm cảm
là 1,6%. Kết quả nghiên cứu của Pine (1998): Trẻ 17 – 26 tuổi tỷ lệ rối loạn
trầm cảm là 5,0%. Kết quả nghiên cứu của Kessler và Walter (1998): cho thấy
độ tuổi từ 15 đến 24: tỷ lệ có rối loạn trầm cảm là 5,8% trong 1 tháng, 12,4%
trong 1 năm và 15,3% mắc cả đời [9]
1
2
Đặcbiệt, giai đoạn từ 19 đến 29 tuổi là lứa tuổi có hoạt động sinh lý, tâm

TỔNG QUAN
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ RỐI LOẠN TRẦM CẢM
1.1.Khái niệm và lịch sử bệnh
1.1.1. Khái niệm
Trước đây, các nhà tâm thần học mô tả trầm cảm như là một giai đoạn bệnh điển
hình, với tình trạng u sầu (melancholia), biểu hiện ức chế nặng nề các mặt
hoạt động tâm thần. Chủ yếu là các quá trình: 1 Cảm xúc ức chế biểu hiện
bằng khí sắc giảm, buồn rầu; 2/ Các quá trình tư duy bị ức chế, dòng tư duy
chậm lại; 3/ hoạt động bị ức chế thể hiện tình trạng chậm chạp cả lời nói và
hành vi, nhiều khi nặng đến mức sững sờ, bất động [1].
Hiện nay, theo mô tả trong bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD-1-0),
trầm cảm là một hội chứng bệnh lý, biểu hiện đặc trưng bởi khí sắc trầm, mất
mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng dễ mệt mỏi, phổ biến là tăng mệt
mỏi rõ rệt nhiều khi chỉ sau một cố gắng nhỏ. Kèm theo là các triệu chứng
phổ biến khác như: giảm sút tập trung chú ý, giảm sút lòng tự trọng và lòng tự
tin; có ý tưởng bị tội và không xứng đáng; bi quan về tương lai; có ý tưởng và
hành vi tự huỷ hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ; giảm cảm giác ngon miệng.
Ngoài ra còn có các triệu chứng loạn thần. Các biểu hiện trên tồn tại trong
một khoảng thời gian tối thiểu hai tuần liên tục[12].
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu về trầm cảm
Sầu uất (Melancholia) là thuật ngữ được dùng đầu tiên trong học thuyết
3
4
thể dịch của Hyppocrate (460 – 377 trước công nguyên).Năm 1686 Bonet mô
tả một dạng bệnh tâm thần với tên gọi: Hưng cảm –sầu uất “Maniaco –
Melancolicus”; năm 1854 Falret lần đầu tiên mô tả hai trạng thái rối loạn trên
cùng một người bệnh trong một bệnh cảnh chung, được gọi là loạn thần tuần
hoàn; năm 1882 nhà Tâm thần học người Đức Karl Kahlbaum dùng thuật ngữ
“Cyclothymia” (bệnh khí sắc chu kỳ) để mô tả hưng cảm và trầm cảm là các
giai đoạn cảm xúc của cùng một bệnh; năm 1899 nhà Tâm thần học người

người tự sát tăng từ 8.300 người (năm 1975) lên 10400 người (năm 1980) và
12041 người (năm 1994). Theo M.L.Bourgeois (1998), trong số người tự sát,
rối loạn tâm thần chiếm 90% (trong đó trầm cảm chiếm 46%)[9]. Tự sát
nguyên nhân do trầm cảm không giảm, mà còn có xu hướng tăng cao hơn
nhiều bệnh lý khác.
1.2.2. Ở Việt Nam
Ở Việt nam, hơn một thập kỷ gần đây vấn đề sức khoẻ tâm thần nói
chung và trầm cảm nói riêng được đề cập đến nhiều hơn, đã có nhiều công
trình nghiên cứu về trầm cảm ở các khía cạnh khác nhau.
Theo Ngô Ngọc Tản và Cao Tiến Đức (2001), rối loạn trầm cảm chiếm
3,4% khi điều tra các bệnh tâm thần ở một phường thuộc khu vực thành thị. Lã
Thị Bưởi điều tra các bệnh tâm thần ở một phường của một thành phố lớn cho
thấy rối loạn trầm cảm chiếm 4,1%. Nguyễn Văn Siêm và cộng sự thấy rối loạn
trầm cảm chiếm 8,35% dân số khi điều tra ở một xã vùng nông thôn [18].
Theo Trần Văn Cường và cộng sự (2002), trầm cảm điển hình chiếm
2,8% khi điều tra dịch tễ học lâm sàng một số bệnh tâm thần thường gặp ở các
vùng kinh tế - xã hội khác nhau. [19].
5
6
Theo Tô Thanh Phương (2005). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn
trầm cảm nặngcho thấy tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở độ tuổi từ 16 – 25 cao nhất
(38,84%), độ tuổi từ 36 – 45 tỷ lệ trầm cảm thấp nhất (13,64%) [8].
6
7
1.3. Bệnh nguyên, bệnh sinh của trầm cảm
1.3.1.Bệnh nguyên
Kielholf.P. 1973 chia nguyên nhân gây trầm cảm làm 3 nhóm:
1.3.1.1. Do căn nguyên tâm lý
Brice Pitte (1982) cho rằng trầm cảm là một đáp ứng cảm xúc tự nhiên
và bình thường của con người trước những mất mát to lớn, tuyệt vọng, lo âu

Alzheimer là 15 – 40% [22].
Các chất gây nghiện hoặc các chất tác động tâm thần:Như Heroin,
Amphetamin (thuốc lắc), rượu, thuốc lá v.v Đặc điểm chung của các chất
này là giai đoạn đầu thường gây kích thích, sảng khoái, hưng phấn nhưng sau
đó thường rơi vào trạng thái trầm cảm, mệt mỏi, uể oải, giảm sút và ức chế
các hoạt động tâm thần (giai đoạn ức chế).
Đặc biệt, lứa tuổi từ 19 đến 29, là lứa tuổi rất nhạy cảm, dễ bị lôi kéo.
Trong xã hội hiện nay, tình trạng lứa tuổi này sử dụng các chất gây nghiện và
các chất tác động tâm thần có xu hướng ngày càng tăng. Theo báo cáo của Bộ
Lao động Thương binh và Xã hội về tình hình sử dụng ma tuý ở Việt nam
năm 2011: gần 70% người nghiện ma túy ở độ tuổi dưới 30 tuổi (năm 1995 tỷ
lệ này chỉ khoảng 42%). Hơn 95% người nghiện ma túy ở Việt Nam là nam
giới. Tuy nhiên, tỷ lệ người nghiện là nữ giới cũng đang có xu hướng tăng
trong những năm qua [23]. Do vậy, sử dụng ma tuý và các chất tác động tâm
thần cũng là một trong những căn nguyên quan trọng gây nên trầm cảm ở lứa
tuổi từ 19 đến 29.
1.3.1.3. Do nội sinh
Khi đã loại trừ tất cả các nguyên nhân trên. Do rối loạn hoạt động của các
chất dẫn truyền thần kinh trong não như: Serotonin, Noradrenalin thường là
dẫn đến trầm cảm nặng, có thể có ý tưởng và hành vi tự sát, kèm theo các rối
8
9
loạn loạn thần như hoang tưởng bị tội, ảo thanh sai khiến tự sát v.v Loại trầm
cảm này điều trị rất khó khăn và thường dễ tái phát.
Cho đến nay trầm cảm nội sinh vẫn dựa vào giả thuyết đa yếu tố như là:
Các giả thuyết về di truyền, giả thuyết về các amin sinh học, thuyết về thần kinh
nội tiết và thuyết về hệ thần kinh trung ương.
1.3.2.Bệnh sinh
Trầm cảm có cơ chế bệnh sinh khá phức tạp, có nhiều giả thuyết khác
nhau về căn nguyên, cơ chế bệnh sinh, hình thái bệnh học, tiến triển bệnh,

2
- adrenergic được
xác định nằm trên các neuron thần kinh serotonergic và điều hoà lượng
serotonin. Hiệu quả lâm sàng các thuốc CTC tác dụng lên noradrenergic như
Sertraline làm tăng cường vai trò của norepinephrine trong sinh lý bệnh các
triệu chứng của trầm cảm [27], [29].
- Serotonin: Người ta nhận thấy trong rối loạn trầm cảm, nồng độ
Serotonin tại khe synap thần kinh ở vỏ não giảm sút so với người bình thường
(có trường hợp chỉ còn bằng 30% so với người bình thường). Bên cạnh đó,
nồng độ các sản phẩm chuyển hóa của Serotonin trong máu, trong dịch não
tủy cũng giảm thấp. Giảm Serotonin có thể làm suy nhược cơ thể nặng thêm
và một số bệnh nhân có ý tưởng thôi thúc tự sát, có sự giảm tập trung các chất
chuyển hóa Serotonin ở dịch não tủy và giảm tập trung ở vị trí hấp thụ
Serotonin trên tiểu cầu. Tác dụng ức chế chọn lọc tái hấp thu Serotonin
(SSRIs) như Fluoxetine sẽ làm tăng nồng độ Serotonin ở khe synap và có tác
dụng trong điều trị trầm cảm. Hơn nữa SSRIs và các thuốc CTC khác giải
phóng Serotonin cũng có hiệu quả trong điều trị chống trầm cảm. Như vậy
Serotonin trở thành chất dẫn truyền thần kinh sinh học phổ biến nhất liên
quan đến sinh lý bệnh của trầm cảm [27],[30].
- Dopamine: chất dẫn truyền thần kinh Dopamine không đóng vai trò lớn
trong trầm cảm như Norepinephrine và Serotonin. Nhiều bằng chứng cho thấy
10
11
hoạt tính của Dopamine giảm trong trầm cảm và tăng trong hưng cảm. Khám
phá các kiểu thụ thể Dopamine mới và tăng hiểu biết về sự điều tiết trước
synap và sau synap được phong phú hơn khi tiến hành nghiên cứu mối liên
quan giữa Dopamine và các rối loạn khí sắc. Các thuốc làm giảm độ tập trung
Dopamine như Reserpine (Serpasil) và các bệnh giảm dopamine như bệnh
Parkinson có sự liên quan với các triệu chứng trầm cảm. Ngược lại, các thuốc
làm tăng độ tập trung dopamine như Tyrosine, Amphetamine và Bupropion

nhận thấy ở ít nhất 50% bệnh nhân trầm cảm: khi mất điều hòa hệ thống HPA
làm tăng cortisol trong máu dẫn tới làm giảm serotonin. Test giảm
Dexamethasone không đặc hiệu cho bệnh trầm cảm. Rối loạn hoạt động của
trục HPT cũng được nhận thấy ở bệnh nhân trầm cảm: TRH của vùng dưới
đồi kích thích tuyến yên giải phóng TSH - có vai trò điều hòa sản xuất
hormone tuyến giáp T3, T4. Khi TSH tăng cao dẫn tới rối loạn cảm xúc lưỡng
cực. Khoảng 4% bệnh nhân rối loạn cảm xúc có tăng nồng độ TSH, hơn nữa
có khoảng 25 - 70% bệnh nhân giảm đáp ứng TSH đối với TRH [6], [31].
Một số nghiên cứu nhận thấy rối loạn trầm cảm hay gặp ở phụ nữ, các giai
đoạn trầm cảm thường xuất hiện liên quan với các thời kỳ dậy thì, có thai, sau
sinh đẻ, chu kỳ kinh nguyệt [31].
1.3.2.3. Các giả thuyết về di truyền
Các yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của rối
loạn trầm cảm. Các nghiên cứu về gia đình và các cặp sinh đôi ủng hộ giả
thuyết này[24].Những người họ hàng mức độ 1 của bệnh nhân trầm cảm có
nguy cơ bị trầm cảm cao hơn người bình thường từ 2-3 lần.
- David nhận thấy bố mẹ, anh chị em ruột và con cái của những bệnh
nhân bị trầm cảm nặng có nguy cơ bị rối loạn này lên đến 10 - 15% so với
nguy cơ trong dân số là 1 - 2% và tỷ lệ này ở những cặp sinh đôi cùng
trứng là 23%.
12
13
1.3.2.4. Giả thuyết về hình thái của hệ thần kinh trung ương
Các nghiên cứu gần đây cho thấy có vài vùng não bị thay đổi cấu trúc,
thay đổi chuyển hoá, teo hay chết một số tế bào thần kinh đặc hiệu trong não
của những người rối loạn trầm cảm.
Nghiên cứu trên hình ảnh CT – sọ não ở bệnh nhân trầm cảm, Targum
SD (1983) [32] thấy rõ giãn rộng não thất bên (phụ thuộc vào tuổi khởi phát
và thời gian kéo dài của bệnh).
Các nghiên cứu hình ảnh não bằng chụp cộng hưởng từ thấy bệnh nhân

nặng, mạn tính [35]. Tình trạng hôn nhân tan vỡ, thất nghiệp kéo dài và tự sát
là cũng phổ biến. Các báo cáo từ nhiều quốc gia cho thấy có 8- 20% những
người rối loạn cảm xúc nghiện rượu kết thúc cuộc sống của họ bằng tự sát
(Ritson 1977) [36]. Có khi có những hành vi vi phạm pháp luật từ nhẹ như
gây rối trật tự xã hội đến hành vi giết người [37].
Thuyết hành vi - nhận thức[34].
Peter Lewinsohn cho rằng trầm cảm xuất hiện là do có những hoạt động tích
cực (positive reinforcements) trong cuộc sống hàng ngày tác động vào,sự tác động
này có thể xảy ra theo hai cách:
 Môi trường thiếu các hoạt động tích cực
 Do một người không thể tiếp cận được với những hoạt động tích cực (ví dụ như ở trong
môi trường cách ly do đó các kỹ năng xã hội nghèo nàn).
Martin Seligman đã phát triển học thuyết “không được giúp đỡ tập nhiễm”
(learned helplessness) từ những thí nghiệm trên động vật. Từ đó, ông cho rằng trầm
cảm xuất hiện là do sự mất kiểm soát (có thể thật sự hoặc do tưởng tượng) đối với
những sự kiện tiêu cực hàng ngày trong cuộc sống.
Aaron Beck đã phát triển học thuyết nhận thức hành vi (cognitive
behavioural theory) về trầm cảm. Ông cho rằng trầm cảm được hình thành là do
bệnh nhân diễn giải sai lệch những sự kiện trong cuộc sống. Điểm cốt lõi của học
thuyết này bao gồm bộ ba nhận thức trong trầm cảm, đó là:
14
15
 Cái nhìn tiêu cực về bản thân: ví dụ mọi việc đều tệ hại vì tôi là người xấu.
 Diễn giải những sự kiện trải nghiệm một cách tiêu cực: ví dụ mọi thứ
đều luôn luôn tệ hại.
 Nhìn về tương lai ảm đạm: mọi việc đều sẽ tệ hại.
Nguyên lý cơ bản của học thuyết nhận thức hành vi là bệnh nhân diễn giải
thế giới theo chiều hướng tiêu cực. Những sai lệch về nhận thức điển hình bao gồm:
 Sự liên hệ độc đoán (arbitrary inference): bệnh nhân cho rằng những sự
kiện tiêu cực là do lỗi của bản thân mình.

chứng phổ biến.
* 3 triệu chứng đặc trưng bao gồm: khí sắc trầm, mất mọi quan tâm và thích
thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi và giảm hoạt động.
* 7 triệu chứng phổ biến bao gồm:
- Giảm sút sự tập trung, chú ý.
- Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin.
- Xuất hiện những ý tưởng bị tội và không xứng đáng.
- Nhìn vào tương lai ảm đạm, bi quan.
- Ý tưởng và hành vi tự hủy hoại cơ thể hoặc tự sát.
- Rối loạn giấc ngủ: Bệnh nhân thường mất ngủ vào cuối giấc.
- Ăn ít ngon miệng.
Ngoài ra bệnh nhân còn có biểu hiện của mất hoặc giảm khả năng tình dục,
các triệu chứng của lo âu, rối loạn thần kinh thực vật. Trong những trường hợp trầm
cảm nặng bệnh nhân có thể xuất hiện hoang tưởng tự buộc tội, hoang tưởng về
những tai họa sắp xảy ra hoặc ảo thanh với những lời kết tội, phỉ báng, ảo khứu với
mùi thịt thối rữa.
1.4.2. Chẩn đoán trầm cảm (Theo ICD 10)
1.4.2.1. Chẩn đoán giai đoạn trầm cảm
* Chẩn đoán giai đoạn trầm cảm: dựa vào những triệu chứng sau:
 3 triệu chứng đặc trưng:
+ Khí sắc trầm
+ Mất mọi quan tâm và thích thú
+ Giảm năng lượng dẫn đến mệt mỏi và giảm hoạt động
16
17
 7 triệu chứng phổ biến:
+ Giảm sút sự tập trung và sự chú ý
+ Giảm sút tính tự trọng và lòng tin
+ Những ý tưởng bị tội và không xứng đáng
+ Nhìn vào tương lai ảm đạm và bi quan

trầm cảm nặng bệnh nhân không thể tiếp tục sinh hoạt và làm việc được.
Trong trầm cảm mức độ nặng được phân thành hai loại là trầm cảm mức độ
nặng không có các triệu chứng loạn thần và trầm cảm mức độ nặng có các triệu
chứng loạn thần. Các triệu chứng loạn thần có thể là hoang tưởng liên quan đến
những ý nghĩ về sự nghèo đói, tội lỗi hoặc những thảm họa sắp xảy ra mà bệnh
nhân là người gây ra nó. Ảo giác có thể là ảo thanh với lời lẽ kết tội, phỉ báng bệnh
nhân hoặc ảo giác khứu giác với mùi thịt thối rữa.
1.4.2.2.Chẩn đoán trầm cảm tái diễn
Biểu hiện đặc trưng bởi sự lặp đi lặp lại những giai đoạn trầm cảm đã
được biệt định như giai đoạn trầm cảm nhẹ, giai đoạn trầm cảm vừa hoặc giai
đoạn trầm cảm nặng. không có rối loạn khí sắc đáng kể. Bao gồm các nhóm
nhỏ sau[12]:
 Rối loạn trầm cảm tái diễn, hiện tại giai đoạn nhẹ
Có đủ tiêu chuẩn cho một rối loạn trầm cảm tái diễn và giai đoạn hiện
nay phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn cho giai đoạn trầm cảm nhẹ.
 Rối loạn trầm cảm tái diễn, hiện tại giai đoạn vừa
Có đủ tiêu chuẩn cho một rối loạn trầm cảm tái diễn và giai đoạn hiện
nay phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn cho giai đoạn trầm cảm vừa.
 Rối loạn trầm cảm tái diễn, hiện tại giai đoạn nặng không có các triệu chứng
loạn thần.
Có đủ tiêu chuẩn cho một rối loạn trầm cảm tái diễn và giai đoạn hiện
nay phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn cho giai đoạn trầm cảm nặng không kèm theo
các triệu chứng loạn thần.
 Rối loạn trầm cảm tái diễn, hiện tại giai đoạn nặng có các triệu chứng loạn
thần.
18
19
Có đủ tiêu chuẩn cho một rối loạn trầm cảm tái diễn và giai đoạn hiện
nay phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn cho giai đoạn trầm cảm nặng có kèm theo các
triệu chứng loạn thần (có các hoang tưởng, ảo giác hoặc sững sờ trầm cảm).

đời sống con người được nâng cao, tuổi thọ con người được kéo
dài hơn. Yêu cầu lao động đòi hỏi kỹ thuật công nghệ cao, thời
gian học tập kéo dài, độ tuổi trưởng thành của con người chậm
hơn. [38].
Theo các nhà tâm lý học:, thời kỳ đầu tuổi trưởng thành bắt đầu từ khoảng tuổi
20 và kéo dài đến khoảng 40 tuổi. Trong thời kỳ phát triển này, sự thay đổi cơ
thể diễn ra chậm hơn và ít rõ ràng hơn so với các giai đoạn trước. Điểm đặc
biệt ở giai đoạn này là sự biến đổi rất phức tạp của các yếu tố xã hội đòi hỏi
con người phải có sự thích ứng về tâm lý với những biến đổi đó[39]. Levison
cho rằng:sự trưởng thành của cá nhân trong giai đoạn đầu tuổi trưởng thành
là giai đoạn giải quyết các cuộc xung đột tuổi vị thành niên đi tìm vị trí của
mình trong xã hội của người trưởng thành, hình thành các khuôn mẫu ứng xử
ổn định. Giai đoạn này được chia thành 3 giai đoạn nhỏ: giai đoạn chuyển
tiếp từ tuổi vị thành niên sang tuổi trưởng thành, giai đoạn thâm nhập vào thế
giới người lớn và giai đoạn chuyểnthành người lớn. Những khủng hoảng của
cá nhân khi gặp khó khăn có thể diễn ra ở bất kỳ giai đoạn nào đó trong 3
giai đoạn trên[40].
Như vậy, giai đoạn từ 19 đến 29 tuổi là thời kì đầu tuổi trưởng thành,
thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi vị thành niên lên tuổi trưởng thành.Điểm đặc biệt
ở giai đoạn này là sự biến đổi rất phức tạp về tâm lý.
2.2.Đặc điểm phát triển thể chất
Giai đoạn từ 19 đến 29 tuổi là thời điểm đánh dấu sức khoẻ đạt đến
mức hoàn thiện về phát triển thể chất. Đặc biệt, từ 18 – 25 tuổi thể lực con
người ở mức cao nhất. Sau 25 tuổi mọi sử phát triển về thể chất đều dừng lại.
20
21
Từ 30 sự phát triển thể chất bắt đầu giảm xuống. Hoạt động của hệ thống sinh
hoạt đều giảm sau 40 tuổi[40]. [41].
Đặc điểm phát triển của hệ thần kinh giai đoạn từ 19 đến 29 tuổi: Trọng
lượng não đạt đến mức tối đa, số lượng nơron thần kinh lên tới mức cao (14 –

phải đưa ra những quyết định và vượt qua những khó khăn một cách độc lập
nhất định, việc giải quyết các khó khăn mâu thuẫn, các vấn đề nảy sinh trong
hoạt động sống một cách tích cực[39], [40], [41].
Năm 1985, Birren và Cunningham đã xác định các thời kì phát triển
của người trưởng thành theo “Ba yếu tố cấu thành độ tuổi” đó là: Sinh học, xã
hội và tâm lí. Trong mỗi một nền văn hoá, xã hội khác nhau,có các đặc điểm
tâm sinh lý, độ tuổi của người trưởng thành cũng khác nhau. Các yếu tố này
có quan hệ mật thiết với nhau. Thế nhưng không phải cả ba yếu tố này xuất
hiện cùng một thời điểm trong mỗi con người, mà ở người này yếu tố tâm lí,
xã hội hình thành trước yếu tố sinh học, ở người khác yếu tố sinh học lại hình
thành trước yếu tố tâm lí xã hội… Những công trình nghiên cứu về xã hội
học, tâm lý học trên thế giới cho thấy sự chín muồi sinh học thường diễn ra
sớm hơn yếu tố tâm lý, xã hội. Việc ba yếu tố này có quan hệ mật thiết với
nhau nhưng không chín muồi cùng một thời điểm cũng gây ra không ít khó
khăn cho mỗi cá nhân con người. Nó là một trong những nguyên nhân gây
nên sự khủng hoảng tâm lí lứa tuổi này. Đây là một giai đoạn ảnh hưởng lớn
nhất đến đời sống của con người [39], [45]. ], [45].
 Giai đoạn từ 19 – 29 tuổi, các chức năng tâm lý có nhiều thay đổi, đặc biệt là
trong lĩnh vực phát triển trí tuệ, khả năng tư duy. Các nghiên cứu tâm lý học
cho thấy rằng hoạt động tư duy của lứa tuổi này rất tích cực và tính lý luận
phát triển mạnh và rất ưa thích khái quát các vấn đề. Sự phát triển mạnh của
22
23
tư duy lý luận liên quan chặt chẽ với khả năng sáng tạo. có thể tự phát hiện ra
những cái mới.
 Vị thế xã hội của lứa tuổi này có nhiều thay đổi so với lứa tuổi trước đó. Một
mặt các quan hệ xã hội được mở rộng. Trong các quan hệ đó đòi hỏi mỗi cá
nhân phải có các cách ứng xử phù hợp. Những thay đổi quan hệ trong xã hội,
sự thách thức khách quan của cuộc sống làm xuất hiện những nhu cầu về hiểu
biết thế giới, hiểu biết xã hội và các chuẩn mực quan hệ người - người, hiểu

trang, gia đình hạnh phúc, con ngoan khỏe mạnh[10], [39], [40].
Thời kỳ đầu của độ tuổi trưởng thành khát vọng đó không nhất thiết
đều phải trở thành hiện thực. Tuy nhiên, thông qua việc xác định khát vọng và
thực hiện nó, mỗi người sẽ tìm thấy được động cơ, hứng thú để làm việc, học
tập và có ý chí quyết tâm trong công việc cũng như trong cuộc sống. Đây là
một điểm tốt nhưng đồng thời chính nó cũng tạo ra áp lực và mâu thuẫn trong
bản thân mỗi người, đó là sự mâu thuẫn giữa những hạn chế của bản thân với
nhu cầu hiểu biết vô tận. Nếu những cá nhân không biết điều chỉnh và thích
ứng tốt thì sẽ dần đến thái độ tự ti, tự chê trách bản thân, mặc cảm và nếu lâu
ngày sẽ trở thành bế tắc, khủng hoảng[10], [39],[40].
2.3.2. Đặc điểm về phẩm chất nhân cách
Theo S. Freud và một số nhà tâm lý học khác, giai đoạn từ 0 – 5 tuổi là
giai đoạn quan trọng nhất, có ý nghĩa lớn nhất trong việc phát triển nhân cách
của con người. Giai đoạn từ 19 đến 29 tuổi là giai đoạn các thuộc tính của
nhân cách tiếp tục được củng cố, có sự thay đổi và phát triển. Đây là thời kì
con người thực hiện những nhiệm vụ có ảnh hưởng lớn, lâu dài và quyết định
tới toàn bộ hoạt động sống ở các giai đoạn sau của cuộc đời.
Theo Erickson, sự phát triển của con người gồm một chuỗi những mâu
thuẫn trong bản thân mỗi người. Những mâu thuẫn này là bẩm sinh nổi lên ở
24
25
những giai đoạn khác nhau của hoàn cảnh sống,đòi hỏi những sự thích nghi
nhất định mà các cá nhân phải đương đầu. Mỗi lần cá nhân phải đương đầu để
thích nghi với hoàn cảnh sống như vậy có thể xảy ra theo hướng thích nghi tốt
hoặc không tốt. Erickson gọi đó là một lần khủng hoảng đòi hỏi mỗi người
phải vượt qua để chuyển sang một giai đoạn phát triển tiếp theo. Nếu khủng
hoảng xảy ra mà được giải quyết một cách hiệu quả sẽ góp phần tích cực vào
sự phát triển nhân cách của con người, có ảnh hưởng to lớn đến thái độ và sự
phát triển của mỗi cá nhân sau này. Những người không vượt quađược khủng
hoảng sẽ ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển nhân cách, dễ bị tổn thương,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status