đặt vấn đề
Rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm là trạng thái bệnh lý tâm thần có tỷ
lệ mắc bệnh khoảng từ 0,8 đến 1,7% dân số, chiếm từ 10 đến 20% ngời bệnh
nội trú tại các cơ sở chuyên khoa tâm thần [17]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới
(TCYTTG): Rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm thờng hay gặp trong chăm
sóc sức khoẻ ban đầu, phần đông những ngời mắc chứng bệnh này hiện còn ít
đợc ngành y tế nói chung và ngành tâm thần nói riêng chú ý đến [9]. Biểu
hiện lâm sàng của rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm rất đa dạng, phức tạp,
vừa có triệu chứng của rối loạn lo âu, vừa có triệu chứng của rối loạn trầm
cảm, nhng không có triệu chứng thuộc rối loạn nào đủ nặng để xác định chẩn
đoán. Bệnh thờng có kèm theo triệu chứng suy giảm chức năng chung [10],
[51].
Trong bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ mời (ICD - 10) rối loạn hỗn
hợp lo âu và trầm cảm đợc xếp mã bệnh F41.2, thuộc các rối loạn bệnh tâm căn
có liên quan đến stress và dạng cơ thể. Tuy thuộc vào nhóm những loại rối loạn
có sự kết hợp ở một tỷ lệ quan trọng với nguyên nhân tâm lý nhng rối loạn hỗn
hợp lo âu và trầm cảm có liên quan không rõ ràng với stress tâm lý [10].
Tiến triển của rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm phụ thuộc nhiều vào
nhận biết và thái độ can thiệp của thầy thuốc, của ngời dân và sự tuân thủ điều
trị của ngời bệnh. Tiên lợng ngắn hạn và dài hạn của rối loạn hỗn hợp lo âu và
trầm cảm còn nhiều ý kiến đánh giá khác nhau, phần lớn các tác giả nhận thấy
chỉ khoảng 50% bệnh nhân hồi phục hoàn toàn, số còn lại có khuynh hớng
thuyên giảm thành các triệu chứng tâm thần không đặc hiệu[34]. Tuy rối loạn
hỗn hợp lo âu và trầm cảm ít gây nguy hại đến tính mạng ngời bệnh nhng nếu
không đợc chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời sẽ để lại cho ng ời bệnh các di
1
chứng tâm thần, ảnh hởng đến chất lợng cuộc sống, hiệu suất công tác, kết
quả học tập, quan hệ xã hội, khả năng tự túc kinh tế và hạnh phúc gia đình.
mất công ăn việc làm, diễn biến nhất thời khi có các sự kiện trong đời sống tác
động đến tâm lý cá nhân, cơ thể có thể tự điều chỉnh, trạng thái căng thẳng
cảm xúc có thể qua đi, hết tác động tâm lý thì lo âu dần mất đi mà không để
lại dấu vết bệnh lý nào, thờng không có hoặc có rất ít triệu chứng rối loạn thần
kinh tự trị.
+ Lo âu bệnh lý (rối loạn lo âu): thờng không có chủ đề và nội dung cụ
thể, mang tính chất vô lý, mơ hồ, thời gian thờng kéo dài, lặp đi lặp lại với
nhiều rối loạn thần kinh tự trị. Trạng thái này để lại những triệu chứng bệnh lý
kéo dài, cần phải đợc can thiệp điều trị.
3
1.1.2. Phân loại rối loạn lo âu:
Hiện nay trên thế giới có hai hệ thống tiêu chuẩn chẩn đoán phân loại các
rối loạn lo âu đợc sử dụng phổ biến, đó là bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ
mời của Tổ chức Y tế Thế giới (International Classification of Diseases 10
th
=
ICD-10) [10] và hớng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần lần thứ
t của hội Tâm thần học Mỹ (The American Psychiatric Associations
Diagnostic and Statistical Manual of Mental disord`er - IV = DSM - IV) [15].
1.1.2.1 Phân loại theo ICD-10: Ra đời năm 1992, ICD-10 có các mã phân
loại bệnh rối loạn lo âu gồm nh sau:
+ F40 Các rối loạn lo âu ám ảnh sợ, bao gồm:
F40.0 Lo âu ám ảnh sợ khoảng trống:
F40.1 Lo âu ám ảnh sợ xã hội.
F40.2 Lo âu ám ảnh sợ đặc hiệu (riêng lẻ).
F40.8 Các rối loạn lo âu ám ảnh sợ khác
F40.9 Rối loạn lo âu ám ảnh sợ không biệt định
+ F41 Các rối loạn lo âu khác, bao gồm:
triệu chứng hồi hộp, tim đập mạnh, nhịp tim nhanh, vã mồ hôi, run, khô
miệng
1.1.3.2 Theo DSM-IV: Một giai đoạn sợ hoặc lo lắng kèm theo nổi trội trong
10 phút 4 hoặc nhiều hơn trong các triệu chứng sau đây:
1) Hồi hộp đánh trống ngực, tim đp mạnh hoặc nhịp tim nhanh
2) Ra mồ hôi
3) Run hoặc lắc l
4) Cảm giác thở nông hoặc bức thở
5) Cảm giác choáng váng
5
6) Đau hoặc khó chịu vùng ngực
7) Nôn hoặc khó chịu vùng bụng
8) Cảm giác chóng mặt, loạng choạng, đầu trống rỗng hoặc bị ngất
9) Cảm giác không thực hoặc giải thể nhân cách
10) Sợ mất tự chủ hoặc bị điên
11) Sợ bị chết
12) Loạn cảm giác ( cảm giác tê cóng hoặc ngứa)
13) ớn lạnh hoặc nóng bừng
1.2. rối loạn trầm cảm (RLTC):
1.2.1. Lợc sử quan niệm rối loạn trầm cảm:
Thuật ngữ trầm cảm mới xuất hiện vào thế kỷ XVIII nhng bệnh học
về trầm cảm đã đợc nghiên cứu từ thời Hippocrate (năm 460-377 trớc công
nguyên). Quá trình nghiên cứu về trầm cảm trên thế giới có nhiều quan niệm
khác nhau:
- Hippocrate: đã mô tả trạng thái bệnh lý sầu uất (melancholie).
- Bonet (1686): mô tả bệnh hng cảm- sầu uất.
- Đến thế kỷ XVIII: các tác giả đã mô tả hai trạng thái bệnh lý trầm
cảm và hng cảm, bệnh có xu hớng tiến triển mạn tính và dễ tái phát, các tác
triệu chứng cơ thể có thể tính đến hoặc bỏ đi mà vẫn không làm mất thông tin
để chẩn đoán rối loạn trầm cảm[10].
1.2.2. Phân loại rối loạn trầm cảm:
Mặc dù trầm cảm đợc nghiên cứu từ thời Hippocrate, cho đến nay vẫn
còn có những quan điểm khác nhau về cách phân loại các rối loạn trầm cảm,
nhiều tác giả cho rằng có một số vấn đề khó xác định tách biệt trong phân loại
7
rối loạn trầm cảm. Một số quan điểm phân loại rối loạn trầm cảm sau đây đợc
quan tâm hơn cả:
- Quan điểm phân loại của Kendell: Ông phân ra hai loại trầm cảm [48]:
+ Loại A: Trầm cảm có thay đổi khí sắc trong ngày
+ Loại B: Trầm cảm thay đổi khí sắc giữa các ngày
- Quan điểm phân loại của Hamilton: Ông đa ra 5 phân lớp trầm cảm:
+ Phân lớp 1: trầm cảm trong rối loạn cảm xúc lỡng cực, tiền sử có
giai đoạn hng cảm
+ Phân lớp 2: trầm cảm trong rối loạn cảm xúc đơn cực, trong tiền sử
có các giai đoạn trầm cảm
+ Phân lớp 3: trầm cảm có hoang tởng sầu uất
+ Phân lớp 4: giai đoạn trầm cảm điển hình, tiền sử không có rối loạn
cảm xúc.
+ Phân lớp 5: giai đoạn trầm cảm nhẹ, thờng có bệnh lý cơ thể kèm theo.
- Quan điểm phân loại của Pinel và Kraepelin: hai Ông đã đa ra ba
cách phân loại chính, hiện nay vẫn đang còn đợc sử dụng:
Cách một: dựa vào bệnh nguyên ngời ta chia trầm cảm làm ba loại:
trầm cảm nội sinh, trầm cảm tâm sinh, trầm cảm thực tổn.
Cách hai: dựa trên đặc điểm triệu chứng học chia ra trầm cảm không có
loạn thần và trầm cảm có loạn thần.
Cách ba: dựa trên giai đoạn, thời gian hiện diện, trầm cảm đợc phân ra
triệu chứng cơ thể
- Nhóm các triệu chứng đặc trng: Gồm ba triệu chứng :
9
Khí sắc trầm
Mất mọi quan tâm thích thú
Giảm năng lợng dẫn đến tăng mệt mỏi và giảm hoạt động
- Nhóm các triệu chứng phổ biến: Gồm bảy triệu chứng thờng có:
Giảm sút sự tập trung và sự chú ý
Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin
Những ý tởng bị tội và không xứng đáng
Nhìn vào tơng lai ảm đạm, bi quan
Những ý tởng và hành vi tự huỷ hoại hoặc tự sát
Rối loạn giấc ngủ
Ăn kém ngon miệng: đắng miệng, chán ăn
- Nhóm các triệu chứng cơ thể: Triệu chứng cơ thể thờng xuất hiện
nhng không luôn có. Các triệu chứng cơ thể có thuộc về hệ tuần hoàn, hệ hô
hấp, hệ tiêu hoá, hệ thần kinh ngoại biên, giác quan hoặc các triệu chứng toàn
thân. Các triệu chứng cơ thể là triệu chứng thứ yếu trong rối loạn trầm cảm
điển hình, có hay không có không làm ảnh hởng đến chẩn đoán, nhng trong
rối loạn trầm cảm không điển hình, các triệu chứng cơ thể lại là những triệu
chứng chính, chính vì các triệu chứng cơ thể mà ngời bệnh tái khám nhiều lần
ở các chuyên khoa khác nhau nhng không đợc chẩn đoán rối loạn trầm cảm
mặc dù không phát hiện thấy tổn thơng thực thể hoặc mức độ tổn thơng không
tơng xứng với mức độ các triệu chứng cơ thể.
1
1.2.4. Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn trầm cảm theo ICD 10:
định có thể tạng di truyền chung đối với rối loạn trầm cảm và lo âu, chúng có
thể biểu hiện riêng biệt hoặc chung với nhau tuỳ thuộc vào điều kiện môi tr-
ờng[21], [24].
- Quan niệm ngày nay: Ngày càng có nhiều nghiên cứu nội viện và
ngoại viện đa ra các chứng cứ không đồng tình với quan điểm gộp hai rối loạn
lo âu và trầm cảm làm một. Từ những thập niên 60 và 70 của thế kỷ XX, lo âu
và trầm cảm đã đợc xem nh hai loại bệnh riêng biệt. Sự khác biệt này đ ợc
minh chứng qua nhiều khía cạnh, trong đó hoá dợc trị liệu đóng vai trò quan
trọng: rối loạn trầm cảm đợc điều trị chủ yếu bằng thuốc chống trầm cảm, rối
loạn lo âu đợc điều trị chủ yếu bằng thuốc giải lo âu. Sử dụng benzodiazepine
điều trị có hiệu quả rối loạn lo âu là minh chứng cho quan điểm tách riêng hai
rối loạn lo âu và trầm cảm[13],[34], [54]
Kendler và cộng sự qua phân tích mối liên quan giữa các yếu tố di
truyền với các triệu chứng lâm sàng trong một nghiên cứu nhóm lớn các cặp
trẻ sinh đôi, đã chứng dẫn ra trầm cảm và lo âu là hai nhóm rối loạn riêng
biệt[48].
Theo Fravelli và cộng sự, 2/3 bệnh nhân trầm cảm có phối hợp rối loạn
lo âu hiện hành, nếu tính cả trong tiền sử thì tỷ lệ này là 3/4 [40].
Mặc dù có sự tách ra thành hai rối loạn lo âu và trầm cảm riêng biệt
trong hệ thống phân loại, sự xuất hiện đồng thời và phổ biến các triệu chứng
lo âu và trầm cảm trong thực hành lâm sàng, nhất là trong hệ thống chăm sóc
sức khoẻ ban đầu đã khơi dậy khuynh hớng xem xét lại quan điểm về một trục
liên tục giữa hai rối loạn này.
1
Angst, Dobler và Mikola kết luận khi xem xét sự hiện diện các dữ kiện
nghiên cứu: mặc dù thờng có sự liên quan chặt chẽ với nhau về triệu chứng
học nhng không thể đồng nhất hai rối loạn này làm một nh quan niệm một
trục liên tục[18].
lut kht khe ca nn kinh t th trng tỏc ng, gõy tng nhng xung t
ni tõm v bnh lý lo õu - trm cm cho nhiu cỏ nhõn vi nhng mc
khỏc nhau. õy l hai thc th bnh lý phn ỏnh trng thỏi lo õu v trm cm
khú tỏch ri. Thut ng bnh lý ny bt u c tip cn t na cui th k
XX da trờn s ng xut hin cỏc triu chng trm cm v lo õu trong thc
hnh lõm sng tõm thn hc.
Trong thc hnh lõm sng tn ti mt s trng thỏi bnh lý phi kt hp
lo õu vi trm cm, phn ỏnh s tn ti hai thc th bnh lý trờn mt cỏ th
trong cựng thi im. S kt hp ny c Trn Hu Bỡnh khỏi quỏt nh sau:
- Ri lon trm cm + cỏc triu chng lo õu
- Ri lon lo õu + cỏc triu chng trm cm:
- Ri lon hn hp lo õu v trm cm: Ri lon hn hp lo õu v trm
cm c nh ngha l s cú mt ca mt hn hp cỏc triu chng trm cm v
lo õu m khụng ngng chn oỏn cho bt c mt ri lon riờng r no.
1.3.3.2 Quan nim ri lon hn hp lo õu v trm cm theo ICD 10:
- Rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm đợc chẩn đoán khi các triệu chứng
của cả lo âu và trầm cảm đều có, nhng không có triệu chứng thuộc rối loạn
nào đủ nặng để đánh giá chẩn đoán riêng. Triệu chứng của rối loạn hỗn hợp lo
âu và trầm cảm tơng đối nhẹ và không kéo dài, hỗn hợp thờng thấy trong
chăm sóc sức khoẻ ban đầu, có tỷ lệ cao trong nhân dân, nhng không ít trờng
1
hợp cha đợc quan tâm chú ý tới, đặc biệt là đối với các nớc đang phát triển và
chậm phát triển. Các triệu chứng thần kinh tự trị nh run, đánh trống ngực, khô
mồn, sôi bụng và một số triệu chứng khác luôn xuất hiện dù liên tục hoặc chỉ
từng hồi. Nhiều cơn kích thích thần kinh tự trị mức độ nhẹ hoặc đôi khi trầm
trọng nhng tồn tại ngắn. Thờng các triệu chứng xẩy ra trong khoảng thời gian
một tháng với các đặc điểm: trong hoàn cảnh không có nguy hiểm về mặt
khách quan; không khu trú vào hoàn cảnh đợc biết trớc, không lờng trớc đợc;
diễn, bắt đầu đột ngột và thời gian tồn tại ngắn (vài phút, đôi khi kéo dài hơn),
các biểu hiện phổ biến nh đánh trống ngực, đau ngực, cảm giác bị choáng,
chóng mặt và cảm giác không thực, các triệu chứng thần kinh tự trị mạnh dần
lên trong cơn, luôn có mối sợ thứ phát phát nh sợ chết, sợ mất tự chủ hay sợ
điên, trong trờng hợp này có thể nên đợc xem xét đặt chẩn đoán là rối loạn
hoảng sợ;
+ Các triệu chứng rất thay đổi, phổ biến là bệnh nhân phàn nàn luôn
cảm thấy lo lắng, run rẩy, căng thẳng cơ bắp, ra mồ hôi, đầu óc trống rỗng,
đánh trống ngực, chóng mặt, khó chịu vùng thợng vị, đồng thời với các loại lo
âu và linh tính điềm gở, trờng hợp này có thể nên đợc xem xét tính đến chẩn
đoán là rối loạn lo âu lan toả. Rối loạn lo âu lan toả thừơng liên quan với
stress môi trờng mạn tính, lan toả và dai dẳng, không khu trú hoặc không trội
mạnh lên trong bất kỳ hoàn cảnh môi trờng nào, thờng kèm theo là sợ bản
thân hoặc ngời thân thích sẽ sớm mắc bệnh hoặc bị tai nạn, linh tính điềm gở,
các triệu thờng gặp là: sợ hãi (lo lắng về bất hạnh tơng lai, dễ cáu, khó tập
trung t tởng), căng thẳng vận động (bồn chồn đứng ngồi không yên, đau căng
đầu, run rẩy, không có khả năng th giãn) và hoạt động quá mức thần kinh tự trị
(đầu óc trống rỗng, ra mồ hôi, mạch nhanh hoặc thở gấp, khó chịu vùng thờng
vị, chóng mặt, khô mồm, v.v )
1
1.3.4. Đặc điểm cỏc nhúm triệu chứng trong rối loạn hỗn hợp lo âu và
trầm cảm:
Triệu chứng lâm sàng của rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm bao gồm
nhóm các triệu chứng thuộc về rối loạn lo âu, nhóm các triệu chứng thuộc về
rối loạn trầm cảm, nhóm các triệu chứng thuộc cơ thể, nhóm các triệu chứng
có liên quan đến trạng thái tâm thần, nhóm các triệu chứng toàn thân, nhóm
các triệu chứng căng thẳng tâm lý và một số triệu chứng không đặc hiệu khác.
Mặc dù biểu hiện một phức hợp các triệu chứng đa dạng nhng không có triệu
+ Khô miệng: Ngời bệnh cản thấy khô miệng hoặc/và đắng miệng mặc
dù không do dùng thuốc hoặc mất nớc.
1.3.4.2 Nhóm các triệu chứng đặc trng của rối loạn trầm cảm:
Các triệu chứng đặc trng thuộc rối loạn trầm cảm trong rối loạn hỗn hợp
lo âu và trầm cảm có đặc điểm nh sau :
- Khí sắc trầm: Giảm khí sắc có thể biểu hiện rõ ràng hoặc không rõ
ràng, ngời bệnh thờng có cảm giác buồn mơ hồ, kín đáo, ngời ngoài nếu
không thực sự quan tâm thì khó nhận thấy.
- Mất quan tâm thích thú: Ngời bệnh vẫn duy trì những mối quan tâm,
sở thích thờng ngày trớc đây nhng ở mức độ giảm nhiệt tình, không đều hoặc
không duy trì lâu.
- Giảm năng lợng: Ngời bệnh vẫn duy trì các hoạt động thờng ngày.
Tình trạng giảm nhẹ năng lợng cơ thể, biểu hiện bởi sự chóng dẫn đến mệt
mỏi hơn khi lao động gắng sức, giảm ở mức độ nhẹ hoặc vừa hiệu suất hoạt
động chuyên môn và hoạt động xã hội
- Giảm sút sự tập trung và sự chú ý: Thờng không duy trì đợc lâu nh
trớc đây sự chú ý vào một sự vật hoặc hiện tợng, hậu quả là trí nhớ tức thì bị
giảm, đây là triệu chứng ngời bệnh hay than phiền.
1
- Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin : Triệu chứng này biểu hiện rất
kín đáo, ít đợc bộc lộ. Biểu hiện chủ yếu là ngời bệnh thấy nghi ngờ vào khả
năng của bản thân, cảm thấy khó khăn hơn trong suy nghĩ và thực hiện những
việc mà trớc đây hoàn thành không mấy khó khăn nhng ngời bệnh vẫn còn hy
vọng sẽ đợc cải thiện trong tơng lai.
- Ăn kém ngon miệng: Triệu chứng ăn kém ngon xuất hiện nhng không
liên tục .
- Rối loạn giấc ngủ: Đây là triệu chứng thờng gặp. Có thể mất ngủ đầu
giấc (khó vào giấc ngủ khi bắt đầu ngủ), mất ngủ giữa giấc (tỉnh ngủ vào lúc
- Triệu chứng thuộc hệ thống tiết niệu: Thờng có triệu chứng đi tiểu
nhiều lần, các triệu chứng đái dắt, đái buốt ít gặp, nếu có chỉ ở mức độ nhẹ,
thoáng qua
- Triệu chứng thuộc hệ thống sinh dục: Đối với nữ thờng gặp kinh
nguyệt không đều, ít gặp các triệu chứng thống kinh, kinh kéo dài, mất kinh hay
đau khi giao hợp; đối với nam hay gặp xuất tinh sớm, di tinh.
1.3.4.4. Nhóm các triệu chứng thần kinh, giác quan: Thờng gặp các triệu
chứng tê bì lan toả hoặc khu trú nhng không định hình, giảm nhẹ thị và thính
lực; hiếm gặp các triệu chứng mất thính lực, mất thị lực, song thị, mất khứu
giác, sai lệch mùi vị, sợ mùi thức ăn.
1.3.4.5. Nhóm các triệu chứng sinh học: thờng gặp giảm dục năng, ít gặp
mất dục năng và lãnh cảm tình dục; sút cân là triệu chứng hay gặp nhng
không giảm quá 5% trọng lợng cơ thể trong tháng đầu.
2
1.3.4.6. Nhóm các triệu chứng có liên quan đến trạng thái tâm thần:
- Cảm giác chóng mặt, không vững, ngất xỉu hoặc choáng váng: trong
rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm, ngời bệnh chỉ có cảm giác thấy các triệu
chứng này chứ thực tế không xuất hiện. Tuy nhiên đây là mối quan tâm của ngời
bệnh, làm cho ngời bệnh hay than phiền về chúng.
- Tri giác sai sự thật hoặc giải thể nhân cách: Ngời bệnh có cảm giác
sự vật xung quanh đôi khi không thật, nghi ngờ về cảm giác của mình hoặc
nghi ngờ về không gian xung quanh.
- Sợ mất kiềm chế: Thờng ngời bệnh than phiền về khả năng sẽ mất
bình tĩnh hoặc phản ứng cảm xúc thái quá một khi có vấn đề nào đó xẩy ra đối
với bản thân. Tuy cha xẩy ra nhng ngời bệnh lo lắng sẽ bị ngời khác chê cời
hoặc xa lánh .
1.3.4.7. Nhóm các triệu chứng toàn thân: Thờng thấy các cơn nóng bừng
hoặc ớn lạnh, tê cóng, nổi da gà ngay cả khi thời tiết nóng bức. Các cơn thờng
- B/ Kèm theo tối thiểu có 4 trong các triệu chứng sau đây:
(1) Khó tập trung chú ý hoặc mất hứng thú
(2) Rối loạn giấc ngủ (khó đi vào giấc ngủ hoặc mất ngủ hoặc ngủ
không ngon giấc)
(3) Mệt mỏi hoặc cảm giác giảm năng lợng
(4) Dễ nổi cáu
(5) Lo lắng quá mức
(6) Dễ mủi lòng (dễ chảy nớc mắt)
(7) Quá cảnh giác đề phòng
(8) Nghĩ đến điều xấu sẽ xẩy ra
(9) Bất hạnh (bi quan về tơng lai)
2
(10) Giảm lòng tự trọng hoặc cảm thấy vô dụng
- C/ Các triệu chứng đau buồn trên lâm sàng hoặc gây tai hoạ cho xã hội
hoặc ảnh hởng đến lao động hoặc kỹ năng nghề nghiệp.
- D/ Triệu chứng chắc chắn không do bệnh cơ thể hoặc nghiện chất (ma
tuý, dợc phẩm)
- E/ Tất các triệu chứng trên phải:
(1) Không bao giờ đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm điển hình,
loạn khí sắc, rối loạn hoảng sợ hoặc rối loạn lo âu lan toả
(2) Không đáp ứng chẩn đoán rối loạn lo âu hoặc trầm cảm ở chỗ khác
(3) Triệu chứng không đáp ứng chẩn đoán cho một rối loạn tâm thần
nào khác
Loại trừ: Các triệu chứng không đợc giải thích bởi vic có tang ngời
thân hoặc đợc đặc trng bi ri lon chức năng rõ ràng, có ý nghĩ mình là vô
dụng, ý tởng tự sát, các triệu chứng loạn thần hoặc chậm vận động tâm thần.
1.3.6. Các trắc nghiệm tâm lý hỗ trợ đánh giá chẩn đoán:
Các trắc nghiệm (test) tâm lý không có giá trị chẩn đoán xác định mà
30 điểm : trầm cảm nặng
1.3.7. Các nghiên cứu về rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm:
1.3.7.1. Các nghiên cứu về dịch tễ học
Đa số tác giả đa ra tỷ lệ rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm chiếm 1%
dân số nói chung. B.J Sadock và V.A Sadock nhận thấy rối loạn rối loạn hỗn
hợp lo âu và trầm cảm chiếm từ 10% đến 20% bệnh nhân nội trú và chiếm tới
50% trong các cơ sở chăm sóc sức khoẻ ban đầu về tâm thần [69]. Qua phân
tích các khía cạnh triệu chứng học, các tác giả nhận thấy rối loạn hỗn hợp lo
âu và trầm cảm là sự đan xen giữa triệu chứng lo âu và triệu chứng trầm cảm,
nhiều khi khó phân định rành mạch đâu là triệu chứng của lo âu, đâu là triệu
chứng của trầm cảm [71].
2
Khi nghiên cứu bệnh học rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm các tác giả
thấy có mối liên quan bệnh lý về thời gian xuất hiện, mức độ và số lợng các
triệu chứng, cụ thể nh sau:
- Liên quan về thời gian xuất hiện: triệu chứng rối loạn lo âu thờng xuất
hiện trớc triệu chứng rối loạn trầm cảm, chính vì sự xuất hiện có liên quan đến
thời gian thờng thấy này mà có tác giả đa ra nghi vấn rằng phải chăng triệu
chứng rối loạn lo âu là sự biểu hiện sớm của giai đoạn trầm cảm sau đó.
Fravelli và cộng sự nghiên cứu 146 trờng hợp đợc chẩn đoán là rối loạn
hỗn hợp lo âu và trầm cảm thấy triệu chứng của lo âu thờng xuất hiện trớc,
biểu hiện ban đầu bằng các triệu chứng cơ thể không đặc trng, lo lắng mơ hồ,
sau 2 đến 3 tuần dần dần xuất hiện các triệu chứng thần kinh tự trị, các triệu
chứng rối loạn trầm cảm xuất hiện một tuần tiếp sau [40].
Weisberg, Zinbarg và cộng sự phân tích thấy tổng cộng có tới 73 triệu
chứng của rối loạn trầm cảm và lo âu đan xen nhau, thứ tự và mức độ xuất
hiện nhóm triệu chứng thuộc loại rối loạn nào tuỳ thuộc từng cá thể, các triệu
chứng rối loạn lo âu thờng xuất hiện trớc[73], [76].