BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
VŨ SƠN TÙNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
RỐI LOẠN THẦN KINH TỰ TRỊ TRONG
RỐI LOẠN LO ÂU LAN TỎA
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Hà Nội – 2013
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
VŨ SƠN TÙNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
RỐI LOẠN THẦN KINH TỰ TRỊ TRONG
RỐI LOẠN LO ÂU LAN TỎA
Chuyên ngành : Tâm Thần
Mã số :
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS: NGUYỄN VĂN TUẤN
Hà Nội – 2013
2
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DSM : Bảng chẩn đoán và thống kê rối loạn tâm thần của
Hội tâm thần học Mỹ (Diagnostic and Statistical
Manual of Mental Disorders)
ICD : Bảng phân loại bệnh quốc tế
(International clasification of disease)
RLLALT : Rối loạn lo âu lan tỏa
RLTT : Rối loạn tâm thần
SCTL : Sang chấn tâm lý
nguy cơ như lo lắng, bất an, cơ thể phản ứng lại các yếu tố đó như nhịp tim có
5
thể tăng gấp 2 lần sau 3 – 5 giây, huyết áp tăng 2 lần sau 10 – 15 giây . Rối
loạn thần kinh tự trị có thể gặp trong nhiều bệnh và chiếm tỉ lệ cũng khác
nhau. Trong rối loạn cơ thể hóa là 37,7% , trong rối loạn hỗn hợp lo âu trầm
cảm là 58,1% Biểu hiện của rối loạn lo âu lan tỏa đa dạng bởi các triệu
chứng cơ thể, triệu chứng rối loạn thần kinh tự trị nên ít được chẩn đoán sớm
và điều trị đúng, chính vì vậy các bệnh nhân thường không được điều trị bởi
các bác sĩ tâm thần, nếu có thì thường là đến muộn. Rối loạn này thường dễ bị
nhầm lẫn, tỉ lệ được chẩn đoán đúng là 28% . Bệnh nhân đến khám tại các
chuyên khoa khác : 64% bệnh nhân đến khám ở chuyên khoa thần kinh trước
khi được chẩn đoán và điều trị rối loạn lo âu lan tỏa, 43,3% ở chuyên khoa tim
mạch. Các chuyên khoa khác như tiêu hóa, hô hấp, đông y cũng chiếm tỷ lệ
khá cao (từ 15,6% đến 18,9%) .
Ở nước ta chưa có một nghiên cứu đầy đủ và chuyên biệt về rối loạn
thần kinh tự trị trong rối loạn lo âu lan tỏa. Chính vì sự quan trọng của triệu
chứng đặc trưng rối loạn thần kinh tự trị trong rối loạn lo âu lan tỏa và để góp
phần chẩn đoán sớm, chính xác bệnh, chúng tôi tiến hành chọn đề tài :
“Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn thần kinh tự trị trong rối loạn lo
âu lan tỏa” với mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng của rối loạn thần kinh tự trị trên các
bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa điều trị nội trú tại Viện Sức
khỏe Tâm Thần.
2. Nhận xét kết quả điều trị rối loạn thần kinh tự trị ở các bệnh
nhân nói trên.
6
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Hệ thần kinh tự trị
1.1.1 Khái niệm và lịch sử nghiên cứu
1.1.2 Sinh lí và giải phẫu hệ thần kinh thực vật
Khác với hệ thần kinh trung ương (các hoạt động được điều khiển bởi
bộ não), hệ thần kinh tự trị chuyên điều khiển các hoạt động ngoài ý muốn
của con người, như hoạt động của tim, của cơ quan hô hấp, hệ tiêu hóa, có vai
trò điều hòa chức phận của nhiều cơ quan, hệ thống để sự cân bằng nội môi
của cơ thể luôn giữ ổn định trong môi trường sống luôn luôn thay đổi. Hệ
thần kinh tự trị làm nhiệm vụ thiết lập các tác động giữa cơ thể và môi trường,
đặc biệt là điều hoà các quá trình hoạt động bên trong cơ thể .
Khi có sự kích thích hệ thần kinh tự trị gây ra một số triệu chứng về tim
mạch, cơ, tiêu hóa và hô hấp. Biểu hiện ngoại biên của lo âu hoặc là khác với
các trạng thái lo âu hay là có tương quan thống nhất với trải nghiệm chủ quan
về lo âu. Vào khoảng 30 năm đầu thế kỉ 20, Walter Canon đã chứng minh
rằng các con mèo khi tiếp xúc với tiếng chó sủa thì biểu hiện sợ hãi về mặt
hành vi, sợ hãi kết hợp với giải phóng epinephrin của tuyến thượng thận.
James Lange cho rằng lo âu chủ quan là đáp ứng với các hiện tượng
ngoại lai đó. Nói chung hiện nay người ta cho rằng ở hệ thần kinh trung ương,
lo âu diễn ra trước các biểu hiện lo âu ngoại biên trừ khi có một nguyên nhân
ngoại lai đặc hiệu như u tế bào ưa crome (pheocrome oxytoma). Biểu hiện thần
kinh tự trị tăng trương lực giao cảm thích ứng chậm hơn với các kích thích lặp
đi lặp lại và đáp ứng quá mức với các kích thích cường độ trung bình .
Hệ thống thần kinh tự trị hình thành từ các trung tâm tuỷ sống, thân não
và vùng dưới đồi, xuất phát những sợi thần kinh tới các tạng, mạch máu và cơ
trơn. Trước khi tới cơ quan thu nhận, các sợi này đều dừng ở một sinapse tại
hạch, vì vậy có sợi trước hạch (hay tiền hạch) và sợi sau hạch (hay hậu hạch).
8
Khác với những bộ phận do hệ thần kinh trung ương điều khiển, các cơ quan
do hệ thần kinh tự trị chi phối vẫn có thể hoạt động tự động khi cắt đứt những
sợi thần kinh đến chúng. Hệ thống thần kinh tự trị được chia thành hai hệ giao
cảm và phó giao cảm khác nhau về cả giải phẫu và chức phận sinh lý .
- Phân loại theo giải phẫu
Bảng: Sự chi phối hoạt động của hệ giao cảm và phó giao cảm với các cơ quan
Cơ quan đích Hệ giao cảm Hệ phó giao cảm
Mắt Giãn đồng tử, lồi mắt, rộng
khe mi
Co đồng tử, thụt nhãn cầu,
hẹp khe mi
Tuyến nước bọt Tiết nước bọt đặc, ít Loãng, nhiều
Tim Tăng nhịp tim, tăng huyết áp Giảm nhịp tim, giảm huyết áp
Phế quản Giãn Co
Ruột, dạ dày Giảm nhu động, giảm tiết dịch Tăng nhu động, tăng tiết dịch
Mạch máu Co mạch Giãn mạch
Da Co mạch, tái nhợt Giãn mạch, đỏ
Chất gây hưng
phấn
Adrenalin, Ephedrin, Canxi Acetylcholin, Eserin, Kali
Chất gây ức chế Chlohydrat, Bromua Atropin, Scopolamin
Sinapse và chất dẫn truyền thần kinh
+ Khi ta kích thích các dây thần kinh (trung ương và tự trị) thì ở đầu mút
của các dây đó sẽ tiết ra những chất hóa học làm trung gian cho sự dẫn truyền
giữa các dây tiền hạch với hậu hạch, hoặc giữa dây thần kinh với các cơ quan
thu nhận. Chất hóa học làm trung gian cho sự dẫn truyền đó gọi là chất dẫn
11
truyền thần kinh. Hệ thống thần kinh của người có hàng chục tỷ nơron. Sự
thông tin giữa các nơron đó cũng dựa vào các chất dẫn truyền thần kinh. Các
thuốc ảnh hưởng đến chức phận thần kinh thường là thông qua các chất dẫn
truyền thần kinh đó. Chất dẫn truyền thần kinh ở hạch giao cảm, phó giao
cảm và hậu hạch phó giao cảm đều là acetylcholin, còn ở hậu hạch giao cảm
là noradrenalin, adrenalin và dopamin (gọi chung là catecholamin). Các chất
dẫn truyền thần kinh tác động đến màng sau sinap làm thay đổi tính thấm của
màng với ion Na +, K+ hoặc Cl -Do đó gây ra hiện tượng biến cực (khử cực
lưu trữ dưới thể phức hợp trong thành phần nằm ở đầu mút thần kinh để tránh
bị phá huỷ. Dưới tác dụng của những luồng xung tác thần kinh, từ thành phần
dự trữ đó, chất dẫn truyền thần kinh được giải phóng ra dưới dạng tự do, có
hoạt tính để tác động tới các receptor. Tại các khe synapse chúng được thu hồi
một phần trở lại vào chính các đầu mút thần kinh vừa giải phóng ra, hoặc bị
phá huỷ rất nhanh bởi các enzym đặc biệt. Acetylcholin bị cholinesterase thuỷ
phân, còn noradrenalin và adrenalin thì bị oxy hóa và khử amin bởi catechol
oxy- methyl- transferase (COMT) ở khe synapse và mono - amin- oxydase
(MAO) ở trong tế bào thần kinh trước synapse. Đặc biệt:
+ Dây giao cảm đi tới tuỷ thượng thận không qua một hạch nào cả. Ở tuỷ
thượng thận, dây này tiết ra acetylcholin để kích thích tuyến tiết ra adrenelin.
Vì vậy, thượng thận được coi như một hạch giao cảm khổng lồ.
+ Các ngọn dây hậu hạch giao cảm chi phối tuyến mồ hôi tiết ra
acetylcholin.
+ Các dây thần kinh vận động đi đến các cơ xương (thuộc hệ thần kinh
trung ương) cũng giải phóng ra acetylcholin.
13
+ Trong não, các xung tác giữa các nơron cũng hoạt động thông qua
acetylcholin. Ngoài ra còn có những chất trung gian hóa học khác như
serotonin, catecholamin, acid - gama- amino- butyic (GABA) ,, .
Hệ thống thần kinh tự trị trong não
+ Không thể tách rời hoạt động của hệ thần kinh trung ương với hệ thần
kinh tự trị. Giữa 2 hệ luôn luôn có mối liên quan chặt chẽ với nhau để đảm
bảo tính thống nhất của cơ thể. Những mối liên quan đó đã và đang được tìm
thấy ở vùng dưới đồi, hệ viền (system limbic), hồi hải mã (hyppocampus), là
những nơi có các trung tâm điều hòa thân nhiệt, chuyển hóa nước, đường, mỡ,
điều hòa huyết áp, nội tiết, hành vi Trong hệ thần kinh trung ương cũng có các
chất dẫn truyền thần kinh và các receptor như của hệ thống thần kinh tự trị.
- Hệ thần kinh tự trị có hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm, gồm có
các trung khu tự trị nằm ở :
ruột kích thích với những phụ nữ không có triệu chứng của rối loạn hoặc trên
các chỉ số hoạt động của tim, cân bằng hệ thống thần kinh tự trị, và hoạt động
tự trị nói chung. Sử dụng bảng kiểm và chẩn đoán để xác định lo âu trầm cảm
và một màn hình Holter được sử dụng để ghi lại khoảng RR trên 24 giờ. Một
so sánh tương tự đã được thực hiện với các theo dõi khách quan. Trong số
những phụ nữ bị hội chứng ruột kích thích, những người rối loạn có đối giao
cảm thấp hơn trong suốt thời gian 24 giờ so với phụ nữ không có rối loạn. Các
chỉ số của sự cân bằng tự trị cao hơn một chút ở phụ nữ với một rối loạn so
với những người không có rối loạn. Sự khác biệt tương tự cũng được nhìn
thấy trong theo dõi .
15
Khi nghiên cứu trên các bệnh nhân trầm cảm tại Đức, Brown nhận thấy
rằng bệnh cảnh hồi hộp đánh trống ngực xuất hiện nhiều hơn người bình
thường khi có tác động tâm lí (tích cực hay tiêu cực) .
Sylvia Kreibig nghiên cứu ảnh hưởng của cảm xúc tới hệ thần kinh tự trị
đã chỉ ra rằng : Khi con người gặp các yếu tố cảm xúc tiêu cực (lo lắng, sợ
hãi, giận dữ) thì kích thích hệ thần kinh tự trị huyết áp tâm thu, tâm trương
đều tăng, nhịp thở nhanh và nông hơn nhưng sau khi yếu tố cảm xúc trôi qua,
các chỉ số trở về bình thường. Còn khi gặp yếu tố cảm xúc tích cực (yêu, giải
trí, vui vẻ) thì hầu như hệ thần kinh tự trị không bị kích thích hoặc kích thích
không đáng kể .
Theo Mussgay khi nghiên cứu rối loạn thần kinh tự trị tim mạch trên
nhóm bệnh nhân rối loạn hoảng sợ điều trị nội trú, có 41% bệnh nhân biểu
hiện rối loạn chức năng tim mạch và cao hơn nhóm bệnh nhân rối loạn hoảng
sợ điều trị ngoại trú và ông cho rằng những bệnh nhân điều trị ngoại trú gặp
các yếu tố lo âu thường xuyên nên thích nghi với lo âu tốt hơn những bệnh
nhân điều trị nội trú .
1.2 Tổng quan tài rối loạn lo âu lan tỏa
1.2.1 Một số khái niệm về rối loạn lo âu lan tỏa
Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên (bình thường) của con người
hysteria và paranoia. Tuy nhiên họ vẫn chưa dùng thuật ngữ anxiety. Đến sau
này người Hy Lạp dùng từ Anesuchia với nghĩa không bình tĩnh, tĩnh lặng.
Người La Mã thời kì Cicero’s đã dùng từ anxietas để chỉ sự lo lắng đến
sau nỗi sợ hãi .
17
Năm 1621, Robert Burton cho rằng có mối liên quan mật thiết giữa cảm
giác lo lắng, sợ hãi với các biểu hiện của cơ thể như mạch nhanh, khó thở, đau
tức ngực, chóng mặt, mệt mỏi .
Vào thế kỉ 19 các nhà khoa học đã nghiên cứu sâu hơn về các triệu
chứng của lo âu, nổi bật là Benedict Morel (1809 –1873) đã khẳng định rằng
có mối liên quan chặt chẽ giữa lo âu với các triệu chứng cơ thể và sự thay đổi
ở hệ thần kinh tự trị .
Năm 1871 trong một bài báo có nhan đề “hội chứng tim bị kích thích”
(on irritable heart) Jacob Dacosta đã mô tả một hội chứng gọi là “soldier’s
heart” (hội chứng tim ở binh sĩ) với các triệu chứng tim mạch mạn tính không
có tổn thương thực thể kèm theo lo lắng, mệt mỏi rất thường gặp trong binh
lính tại cuộc nội chiến ở Mỹ (1861-1865). Về sau từ này được dùng cho binh
lính tham gia chiến tranh thế giới thứ 1, thứ 2 bị hội chứng này cũng như
những người sống sót sau cuộc ném bom nguyên tử ở Nhật Bản .
Mốc quan trọng đánh dấu trang mới lịch sử nghiên cứu về lo âu đó là học
thuyết của Freud (1894) về chứng suy nhược thần kinh. Các khái niệm lo âu
được nghiên cứu và làm sáng tỏ về mặt bản chất. Trong các tác phẩm của
mình, Freud đã chỉ ra một hội chứng riêng biệt gọi là “tâm căn lo âu” (anxiety
neurosis) trong chứng suy nhược thần kinh. Vào thời điểm đó, rối loạn phân
ly và rối loạn nghi bệnh được xếp vào suy nhược thần kinh và được cho là
bệnh lý tâm thần, còn tình trạng hoảng sợ có lo âu, theo Freud có liên quan
đến những yếu tố sinh học cơ thể. Tuy không có những nghiên cứu về sinh
học chính xác và đầy đủ, nhưng học thuyết này cũng làm sáng tỏ thêm về bản
chất bên trong của lo âu và thể hiện một cách nhìn mới về lâm sàng. Freud
cũng là người đầu tiên mô tả đặc điểm của lo lắng mà ông gọi là “chờ đợi lo
19
Tình hình nghiên cứu về rối loạn lo âu lan tỏa hiện nay:
Trên thế giới và Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về Rối loạn lo
âu lan tỏa.
Theo Nguyễn Thị Bình (2010) tỉ lệ bệnh rối loạn lo âu lan tỏa sống vùng
nông thôn chiếm 30%, tỉ lệ bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa chiếm 50% bệnh nhân
rối loạn lo âu điều trị nội trú, nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất trong những bệnh
nhân rối loạn lo âu lan tỏa là nhóm 36-45 tuổi (30%) và 46-55 tuổi (28,9%).
Nhóm bệnh nhân dưới 25 tuổi và trên 65 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất (4,4%; 3,3%).
Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân nghiên cứu là 42,5 ± 11,2 .
Theo Trần Trung Hà (2002) thì tuổi mắc rối loạn lo âu lan tỏa trung
bình là 36 ± 10, lứa tuổi hay gặp 20-30 chiếm 34,2% .
Theo một nghiên cứu tại Mỹ thì tỉ lệ Rối loạn lo âu lan tỏa chiếm
khoảng 5% dân số với tỉ lệ nữ : nam 2 : 1. Cũng theo nghiên cứu này thì có tỉ
lệ mắc trong 1 năm là 3,1% .
Còn theo một nghiên cứu được áp dụng theo tiêu chuẩn của DSM IV
thì tỉ lệ rối loạn lo âu lan tỏa mắc trong một năm là 3,1%, tỉ lệ mắc gặp trong
cuộc đời là 5,7%. Tỉ lệ thấp nhấp trong các nhóm tuổi là 18-29 (4,1%), nhóm
trên 60 tuổi (3,65%), còn cao nhất là từ 45-59 tuổi chiếm 7,7% .
Theo nghiên cứu tại Australia được áp dụng theo tiêu chuẩn ICD-10 thì
tỉ lệ mắc rối loạn lo âu lan tỏa khoảng 2-8% dân số, tỉ lệ hay gặp nhất từ 20-
40 tuổi .
Theo Dan J Stein (2009) cho thấy, rối loạn lo âu lan tỏa thường thấy có
tỷ lệ thấp trên những đối tượng sống ở vùng thành thị, tỷ lệ cao ở lứa tuổi trên
30, cao nhất là từ 30 đến 40 tuổi. Tỉ lệ nữ : nam là 3,6 : 1.
Theo Witchen (2002) thì tỉ lệ rối loạn lo âu lan tỏa gặp khoảng 4% dân số .
20
Theo Hoffman (2008) thì rối loạn lo âu lan tỏa chiếm 5,7% dân số và là rối
loạn lo âu phổ biến nhất. .
Theo nghiên cứu của Heimberg (2004) thì rối loạn lo âu lan tỏa chiếm tỷ
+ Với tất cả các hoạt động tâm thần, lo âu cả binh thường và bệnh lí đều
được phản ánh trong não như là một thực thể sinh học. Một số hợp chất
hormon thần kinh tác động lên các vùng của não mỗi khi một người cảm nhận
lo âu. Các lí thuyết sinh học dựa một phần vào các biện pháp khách quan so
sánh chức năng não ở bệnh nhân rối loạn lo âu với chức năng não ở người
bình thường. Có một số người có nhạy cảm hơn với lo âu vì cơ sở sinh học
cảm nhận lo âu là khác nhau .
+ Yếu tố di truyền : Theo các nghiên cứu chỉ ra rằng bố mẹ, con cái, anh
chị em ruột của bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa thì 19,5% có nguy cơ mắc
bệnh này trong khi những người khác chỉ là 3,5%. Ở phụ nữ sinh đôi cùng
trứng khi 1 người mắc rối loạn lo âu lan tỏa thì người còn lại nguy cơ bị bệnh
là 30%. (34). Còn theo một nghiên cứu khác thì anh chị em ruột, bố mẹ của
bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa có nguy cơ mắc là 22%, tỉ lệ mắc của cặp
sinh đôi cùng trứng là cao hơn so với cặp đôi khác trứng .
+ Các chất dẫn truyền thần kinh :
Gama Aminobutiric Acide (GABA) : GABA là một aminoacide có chức
năng ức chế dẫn truyền thần kinh. GABA được tổng hợp từ glutamate bởi
men decarboxylase với sự tham gia của piridoxin, bị chuyển hóa bởi men
GABA-transaminase. Các thụ thể của GABA có ở hầu hết các phần của não
nhưng tập trung nhiều ở những vùng vỏ não có liên quan đến cảm xúc sợ hãi,
lo âu như thùy trán, hồi hải mã, hạnh nhân. Thực nghiệm trên động vật cho
22
thấy sự rối loạn chức năng hệ GABA gây ra triệu chứng của rối loạn lo âu lan
tỏa. Khi GABA gắn vào thụ thể của hệ GABA-negic sẽ làm tăng quá trình
khử cực màng tế bào thần kinh thông qua việc mở kênh clo, kết quả làm giảm
và ức chế hoàn toàn các xung động thần kinh. Một trong số các thuốc điều trị
lo âu hay được sử dụng nhất là các benzodiazepin (điển hình là Diazepam),
khi benzodiazepin gắn vào thụ thể của chúng sẽ làm tăng ái lực của GABA
với các receptor của hệ GABA-necgic, làm tăng tác dụng ức chế dẫn truyền
thần kinh dẫn đến giảm các triệu chứng lo âu , , .
cảm xúc dương tính rất mạnh. Lúc đó cơ thể đáp ứng với các trải nghiệm mới
rất khác nhau. Có các thông tin sẽ làm rối loạn người cảm nhận stress và gây
hoạt hóa cơ thể. Phản ứng của cơ thể có nguy cơ khuếch đại, nếu tình huống
kéo dài đến mức gây ra các rối loạn nặng về mặt sinh lí cũng như tâm lí, cảm
giác mất an toàn và sự khó chịu lan tỏa là đặc trưng của lo âu , .
- Vai trò của nhân cách
+ Một số người có nhân cách yếu, thường được mô tả như là “lo âu bẩm
sinh”. Họ lo buồn vì những nguyên cớ nhỏ, căng thẳng vì những sức ép và
cảm thấy sợ hãi vì năng lực của họ. Họ thường là những người dễ xúc động,
dễ sợ hãi, cẩn thận quá mức và thiên về trải nghiệm lo âu hơn những người
cùng tuổi với họ trong các tình huống tương ứng. Tính cách lo âu có những
khác nhau cá nhân song tương đối ổn định hướng về lo âu. Những người trải
qua quá nhiều những sự kiện xấu trong cuộc đời, có lẽ có trạng thái “căng
thẳng” mạn tính .
- Các học thuyết tâm lý
+ Thuyết phân thần : Theo S.Freud lo âu là tín hiệu đến với cái tôi mà
một xung năng không thể chấp nhận được đang dồn nén một hiện tượng có ý
24
thức và giảm tải năng lượng vì là một tín hiệu lo âu đánh thức cái tôi để đưa
ra phòng vệ chống lại sức ép nội tâm. .
+ Thuyết nhận thức : Tâm lí nhận thức quan tâm đến quá trình tư duy.
Mô hình nhận thức : kích thích tác động lên nhận thức từ đó mới dẫn đến sự
đáp ứng. Liệu pháp nhận thức nhằm vào sự thay đổi những cảm xúc và hành
động có ảnh hưởng lên tư duy của người bệnh. Liệu pháp nhận thức khẳng
định sự xuất hiện của một triệu chứng là sản phẩm mối tương tác chặt chẽ
giữa những hiện tượng trước đó với một hoàn cảnh và đáp ứng đã xảy ra
trong hoàn cảnh với những biểu hiện về cảm xúc, nhận thức, ứng xử .
+ Thuyết hành vi : Lo lắng và sợ hãi là 2 khía cạnh liên quan chặt chẽ
hành vi cảm xúc. Người khỏe mạnh khi gặp lo lắng có trải nghiệm chống lại
các tín hiệu đó hoặc các tín hiệu tác nhân không đặc hiệu, không đủ mạnh để