1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư cổ tử cung (UTCTC) là một trong 5 loại ung thư thường gặp
nhất ở nữ. Hàng năm trên thế giới có tới 530.232 trường hợp mắc mới và
275.000 trường hợp tử vong. Trong số đó, 90% đến từ các nước đang phát
triển- những nơi không có chương trình phòng chống ung thư thích hợp.Theo
thống kê của Tổ chức phòng chống ung thư toàn cầu, trên thế giới cứ 2 phút
lại có một phụ nữ chết và ở Việt Nam mỗi ngày có 7 phụ nữ chết vì UTCTC
[1]. Tuy nhiên UTCTC- dù là một trong những bệnh phổ biến và hiểm nghèonhưng chúng ta có thể ngăn chặn một cách hữu hiệu nhất vì nó có giai đoạn
tiền ung thư kéo dài hàng chục năm và Human papillomavirus ( HPV) đã
được khẳng định là thủ phạm chính [2]
Dựa trên cơ sở khoa học đó, chúng ta đã có những biện pháp phòng ngừa
bệnh chủ động: Phòng nguyên phát bằng cách tiêm vaccine HPV và phòng
thứ phát bằng sử dụng các xét nghiệm sàng lọc ung thư bằng xét nghiệm sinh
học phân tử HPV nhằm phát hiện những phụ nữ nhiễm HPV mà chưa có thay
đổi về mặt tế bào cổ tử cung (CTC), xét nghiệm tế bào học CTC hoặc nghiệm
pháp bôi acid acetic lên bề mặt biểu mô CTC (VIA) để phát hiện tế bào CTC
có biến đổi bất thường [3-5] .
Hàng năm trên thế giới, ước tính có khoảng 529.000 ca mắc mới
UTCTC, tử vong khoảng 275.000 trường hợp, trong đó 85% tổng số các
trường hợp bệnh gặp ở những nước đang phát triển [1]. Mỗi năm, Châu Á có
thêm khoảng 312.000 bệnh nhân UTCTC, chiếm 59% trường hợp mắc mới
trên toàn thế giới đặc biệt ở khu vực Nam Á và Đông Nam Á, nơi có tỷ lệ
nhiễm HPV cao nhất trong châu lục [1, 6]. Cùng với sự tăng nhanh tỷ lệ
2
nhiễm HPV trong cộng đồng, UTCTC thực sự trở thành gánh nặng bệnh tật
toàn cầu, gây ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe và tâm lý của nữ giới.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Nhắc lại sơ lược giải phẫu và cấu tạo mô học cổ tử cung
1.1.1. Cấu tạo giải phẫu
Hình 1.1. Sơ đồ đường sinh dục nữ: âm hộ, âm đạo, cổ tử cung, thân tử
cung, vòi tử cung và buồng trứng.
Cổ tử cung là phần hẹp và thấp nhất của tử cung, xuất phát từ đoạn cuối
ống cận trung thận, được bao phủ bởi biểu mô lát tầng không sừng hóa ở 1/3
ngoài và biểu mô trụ ở 2/3 trong ống cổ tử cung, chiều dài trung bình 3cm,
đường kính khoảng 2,5cm, nhô vào trong âm đạo, có hình trụ ở người chưa đẻ,
hình nón cụt ở người đã đẻ, teo nhỏ hình chóp nhọn ở phụ nữ mãn kinh. Cổ tử
cung bao gồm 2 phần: phần dưới nằm trong âm đạo gọi là cổ ngoài chiếm
khoảng ½ độ dài, là phần có thể thấy được khi khám bằng mỏ vịt, phần trên
tiếp nối với thân tử cung bằng eo tử cung. Ống cổ tử cung thông với buồng tử
cung qua eo tử cung ở phía trên, đi từ lỗ trong ra lỗ ngoài cổ tử cung mở vào
khoang âm đạo [14]
4
1.1.2. Cấu tạo mô học cổ tử cung
- Biểu mô vảy không sừng hóa lót mặt trong thành âm đạo và túi cùng
âm đạo, liên tục đến cổ ngoài, chiếm tới 1/3 chiều dài cổ tử cung. Biểu mô
vảy cổ tử cung đáp ứng với sự thay đổi nội tiết tố sinh dục nữ.
- Biểu mô tuyến ống cổ tử cung chế nhầy có các nếp gấp lõm xuống mô
liên kết bên dưới, tạo thành các phức hợp khe tuyến nằm trong mô đệm xơ.
Khoảng 2/3 trong cổ tử cung được phủ bởi biểu mô tuyến.
- Ranh giới vảy-trụ (Squamous-columnar junction – SCJ): là nơi tiếp
giáp giữa biểu mô trụ và biểu mô vảy. Vị trí của nó thay đổi qua các thời kỳ
khác nhau giữa các nhóm chủng tộc và dân tộc: da trắng (tỷ lệ mắc
7.7/100,000 và tỷ lệ tử vong: 2.2/100,000), người Mỹ gốc Phi (tỷ lệ mắc:
10.7/100,000 và tỷ lệ tử vong: 4.4/100,000), thổ dân Alaska (tỷ lệ mắc:
9.7/100,000 và tỷ lệ tử vong: 3.4/100,000).
Theo thống kê của WHO 2012 thì tỷ lệ tử vong cao nhất là ở châu Phi
(57/100.000), thấp nhất ở Mỹ (7/100.000).
1.2.2. Tình hình UTCTC ở Việt Nam
Trong 4 năm, giai đoạn từ 1/1/2001 đến 31/12/2004 có 32.944 ca ung thư
mới mắc đã được ghi nhận tại 5 tỉnh thành. Tại Cần Thơ, UTCTC đứng hàng
đầu trong các loại ung thư ở nữ giới, tại Huế UTCTC đứng hàng thứ ba, tại
Hà Nội, Thái Nguyên và Hải Phòng, đứng thứ tư [16].
Một số công trình nghiên cứu sàng lọc tại cộng đồng từ những năm 1990
bằng phiến đồ CTC-ÂĐ cho thấy: tỉ lệ tổn thương tiền ung thư ở Miền Bắc
6
trung bình là 3,51% theo Nguyễn Vượng và 3,03% theo Ngô Thu Thoa [17,
18]. Ở Miền Nam, theo Nguyễn Sào Trung, tỷ lệ CIN I là 1,7%, CIN độ cao là
11,75% trong Bệnh viện và Trung tâm y tế [19]. Tác giả Trịnh Quang Diện
nghiên cứu sàng lọc tổn thương tiền ung thư và UTCTC tại một số cộng đồng
ở Miền Bắc và tỉnh Cần Thơ từ năm 1992 đến 1999 cho thấy tỷ lệ các tổn
thương tiền ung thư thấp nhất là 1,4%, cao nhất là 4,33%. Tỉ lệ UTCTC xâm
nhập thấp nhất là 0,02%, cao nhất là 0,22%, trung bình là 0,04% [20, 21].
1.2.3. Những nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung
Rất nhiều nguyên cứu trước đây đã xác định có những mối liên quan rõ rệt
với UTCTC như: Những phụ nữ có hoạt động tình dục sớm (dưới 15 tuổi), có
nhiều bạn tình, những người có con sớm, đẻ nhiều, đẻ dầy, dùng thuốc tránh thai,
mắc bệnh lây truyền theo đường tình dục, hút thuốc lá, dinh dưỡng kém, tiền sử
có viêm nhiễm ở cổ tử cung, nhất là loạn sản cổ tử cung không được điều trị triệt
để [22-25]. Ngày nay, nhờ những tiến bộ vượt bậc của y học hiện đại, những
năng gây ung thư, nhưng đáng quan tâm nhất là nhóm genotype HPV nguy cơ
cao (high-risk type). Nhóm này có khả năng gây ung thư do khả năng gắn
DNA vào gen người gây hiện tượng tăng sinh, biến đổi tế bào, gồm HPV 16,
18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 68, 73, 82 và HPV 26, 53, 66.Trong
đó HPV 16, 18 là nguyên nhân hầu hết của UTCTC.
9
1.3.4. Các nghiên cứu về tình trạng nhiễm HPV
1.3.4.1. Các nghiên cứu trong nước
Bảng 1.1. Các nghiên cứu trong nước về tình trạng nhiễm HPV
Tên tác giả
Nă
m
Quần thể
Nơi nghiên cứu
hr HPV
Phạm Thanh Yên [12]
2016 Bệnh viện
Nội thành HN
19,6%
1,8%
Vũ Thị Nhung [8]
2006 Cộng đồng
TP HCM
12,0%
Nguyễn Trọng Hiếu [7]
2004 Cộng đồng
TP HCM
10,9%
(3 tỉnh* là Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế và Cần Thơ)
Qua kết quả nghiên cứu của các tác giả ở các thời điểm khác nhau, địa
điểm khác nhau và quần thể nghiên cứu khác nhau. Chúng ta nhận thấy trong
vòng 10 năm qua, tỷ lệ nhiễm HPV có chiều hướng tăng rất nhanh mặc dù có
tỷ lệ khác nhau do ảnh hưởng của tập tục văn hoá và lối sống. Đặc biệt ở hai
thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có tỷ lệ nhiễm cao và tương đối
như nhau. Có sự chênh lệch rõ ràng giữa 2 quân thể nghiên cứu. Quần thể
bệnh viện là những phụ nữ đi khám phụ khoa, nên khả năng họ ở nhóm nguy
cơ cao hoặc đang mắc bệnh viêm phụ khoa nói chung và bệnh lây truyền qua
đường tình dục nói riêng.
23,0%
Các nghiên cứu ở các nước trên thế giới cũng cho thấy tỷ lệ tương tự như
ở Việt Nam, mặc dù có nơi cao, nơi thấp. Điều này cũng có thể do ảnh hưởng
của phong tục tập quán ở các vùng, miền địa lý, chính trị khác nhau.
1.3.4.3. Kết quả lâm sàng có liên quan đến HPV 16 và 18
Bảng 1.3. Kết quả lâm sàng có liên quan đến HPV 16 và 18
Kết quả LS
Tỷ lệ chung Trung Nam Mỹ Châu Á Châu Phi
UTCTC xâm lấn
65- 77%
65%
67%
72%
CIN2/3(*)
41- 57%
48%
41%
48%
CIN1 (**)
15- 32%
21%
32%
15%
ASC-US (***)
8- 19%
8%
N/A
N/A
(*): tương ứng với HSIL (tổn thương biểu mô vảy mức độ cao)
(**): tương ứng với LSIL ( tổn thương biểu mô vảy mức độ thấp)
thường sau một thời gian tương đối ngắn hoặc không tiến triển đến mức độ
nặng hơn. Nếu người phụ nữ nhiễm HPV nguy cơ cao và phối hợp với các
yếu tố hiệp đồng khác, tổn thương ban đầu có thể tồn tại và tiến triển trong
khoảng 10 - 20 năm qua các giai đoạn tân sản nội biểu mô để hình thành
UTCTC.
Các yếu tố nguy cơ của UTCTC bao gồm quan hệ tình dục sớm hoặc với
nhiều người, sinh nhiều con, vệ sinh sinh dục không đúng cách, viêm CTC mạn
tính, nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục, điều kiện dinh dưỡng, kinh tế
xã hội thấp, hút thuốc lá, đái tháo đường, sử dụng thuốc tránh thai đường uống
loại phối hợp kéo dài (> 10 năm), nhiễm HIV, Herpes simplex virus.
12
Có trên 90% trường hợp nhiễm HPV sẽ đào thải virus trong vòng 2 năm,
khoảng 10% các trường hợp vẫn còn virus HPV sau 3 năm và có dưới 5% tiến
triển thành tổn thương CIN2 hoặc nặng hơn trong 3 năm. Tổn thương xâm lấn
cổ tử cung bắt đầu xuất hiện sau khoảng 13-15 năm, trong đó 20% CIN3 tiến
triển thành ung thư trong 5 năm và 50% CIN3 tiến triển thành ung thư trong
vòng 30 năm [2].
1.5. Các phương pháp xét nghiệm chẩn đoán sớm ung thư cổ tử cung
1.5.1. Lịch sử phát triển
Vào năm 1927, Aurel Babes một nhà khoa học người Rumania đã thu
thập và sấy khô tế bào CTC trên lam kính rồi soi dưới kính hiển vi để tìm tế
bào ung thư. 16 năm sau, năm 1943, George Papanicolaou đã tạo lên bước
ngoặt lớn khi công bố ấn phẩm giới thiệu phương pháp PAP trong sàng lọc
UTCTC. Năm 1949, phương pháp tế bào học PAP chính thức được sử dụng
trên lâm sàng [35].Năm 1996, PAP nhúng dịch ra đời. Qua nhiều thập kỷ ứng
dụng, PAP đã cứu sống hàng triệu phụ nữ trên khắp thế giới. Năm 1976,
Harald zur Hausen lần đầu tiên nói về mối liên hệ giữa HPV và UTCTC.
Đến năm 1999, xét nghiệm HPV chính thức được giới thiệu trong vai trò phân
độ đặc hiệu của test thấp, tìm giải pháp tốt nhất để thích hợp test vào chương
trình phòng chống UTCTC sẵn có.
1.5.2. Các phương pháp sàng lọc
1.5.2.1. Xét nghiệm tế bào cổ tử cung
Xét nghiệm tế bào học CTC là phương pháp thường dùng nhất để tầm
soát UTCTC, đã được y giới toàn cầu thừa nhận từ nhiều thập niên qua do
thoả mãn các điều kiện: độ nhạy khá cao, có thể lặp lại nhiều lần và đã chứng
minh được tính hữu hiệu khi hạ thấp tần suất ung thư xâm lấn CTC ở các
nước phát triển. Ngày nay, HPV được coi là nguyên nhân hàng đầu gây
UTCTC ở phụ nữ. Người ta đã tìm thấy ADN của virus ở trên 99% các trường
14
hợp UTCTC. Kỹ thuật xét nghiệm tế bào CTC hoàn toàn có thể thực hiện
được nhờ dựa vào các biến đổi về hình thái tế bào biểu mô. Trên phiến đồ tế
bào cổ tử cung- âm đạo nhuộm Papanicolaous, các trường hợp nhiễm HPV có
thể thấy 1 hoặc 2 hay 3 đặc điểm sau [36].
+ Tế bào bóng (tế bào rỗng, koilocyte): có nguồn gốc từ tế bào vảy
trưởng thành hoặc chưa trưởng thành hoặc tế bào vảy dị sản của vùng chuyển
tiếp với những đặc điểm sau: Tế bào thường to hơn các tế bào dị sản vảy,
giảm hoặc mất tính đa diện làm cho tế bào có xu hướng tròn hơn và đặc trưng
bằng các quầng sáng không đều nhau quây quanh các nhân bình thường hoặc
bất thường.
+ Tế bào loạn sừng: Tế bào loạn sừng nhỏ có bào tương da cam, nhân
teo đặc hoặc không điển hình. Tế bào loạn sừng to có bào tương đặc, màu da
cam, chứa một hay nhiều nhân to với chất nhiễm sắc thưa hoặc đông đặc.
+ Tế bào khổng lồ: thường gặp trong condyloma song không đặc trưng.
Chúng giống tế bào vảy sau xạ trị, thiếu vitamin B12 hoặc acid folic. Thường
là những tế bào to gấp nhiều lần cỡ tế bào vảy trung gian hay nông, nhiều bào
tương, nhuộm hồng hay xanh, thường chứa các hốc có khi thấy các tiểu thể;
HSIL
tiền ung thư, các tế bào bất thường lan rộng ra toàn bộ
lớp biểu mô, chuẩn bị có dấu hiệu lan rộng ra xung
quanh.
Các tế bào vảy bị biến dạng xâm lấn toàn bộ chất nền cổ
Ung thư xâm lấn tử cung, lan rộng gây tổn thương nghiêm trọng
1.5.2.2. Xét nghiệm HPV
- Phương pháp lai phân tử
Phương pháp lai là phương pháp khuếch đại tín hiệu được sử dụng phổ
biến để phát hiện HPV trong bệnh phẩm, dựa sự phát quang bằng phản ứng
hóa học của phức hợp gồm kháng thể bị bắt giữ - dung dịch lai và tín hiệu
được khuếch đại [38]. Các loại phương pháp lai sử dụng trong phát hiện HPV
bao gồm: Hệ xét nghiệm II bắt giữ thể lai (Hybrid Capture II Test System);
Phương pháp lai Southern-blot được Southern E.M mô tả năm 1975. Nguyên
tắc lai Southern-blot dựa trên khả năng tiếp nhận DNA của màng lai
nitrocellulose. Sự ra đời của phương pháp điện di trên gel đã cho phép phân
tách các đoạn DNA được cắt bởi enzym cắt giới hạn dựa trên kích thước của
chúng và phương pháp chuyển DNA từ gel sang màng lai nitrocellulose là
16
Dot-blot và Slot-blot tương tự như phương pháp Southern-blot nhưng thời
gian tiến hành nhanh và đơn giản hơn. Phương pháp lai huỳnh quang tại chỗ
(Fluorescence in situ hybridization) có khả năng phát hiện, xác định genotype
và xác định vị trí của DNA HPV trong tế bào hoặc mô bằng các mẫu dò đặc
hiệu đã gắn huỳnh quang, do đó có thể sử dụng một mẫu mô cho cả xét
nghiệm tế bào học và xét nghiệm lai phát hiện HPV [38].
HPV. Các genotype HPV có mồi đặc hiệu được phát hiện là HPV 16, 18, 31,
33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 66, 68. Phương pháp PCR đặc hiệu theo
type có độ nhạy rất cao, có thể phát hiện với 0,005 – 0,01ng DNA HPV/µl,
tiến hành nhanh và xác định được đa nhiễm. Phương pháp real-time PCR là
phương pháp khuếch đại đích có độ nhạy cao, thường được sử dụng trong
định tính và định lượng DNA HPV. Real-time PCR cho phép khuếch đại và
xác định số lượng bản sao được tạo ra trong từng chu kỳ nhiệt. Kết quả DNA
đích được hiển thị ngay sau mỗi chu kỳ nhiệt dựa trên sự tỷ lệ thuận giữa tín
hiệu huỳnh quang phát ra và số lượng bản sao DNA được tổng hợp. Đường
chuẩn của phản ứng được xây dựng dựa trên số lượng bản sao DNA đích
trong một gam mẫu chuẩn và xác định giá trị chu kỳ ngưỡng cho từng mẫu
tương ứng. Chu kỳ ngưỡng (Ct-threshold cycle) là chu kỳ nhiệt mà ở tại thời
điểm đó sản phẩm PCR cho tín hiệu huỳnh quang tăng vọt vượt qua cường
độ huỳnh quang nền. Nếu số lượng DNA đích càng lớn thì Ct càng nhỏ và
nếu số lượng DNA đích ít thì cần nhiều chu kỳ nhiệt hơn. Phản ứng real-time
PCR lý tưởng khi tín hiệu huỳnh quang tăng gấp đôi sau mỗi chu kỳ nhiệt.
Chất phát huỳnh quang chèn vào sợi đôi DNA làm bản sao DNA đích được
tạo ra phát huỳnh quang khi có nguồn sáng kích thích. Chất phát quang
thường được sử dụng là SYBR Green 1 hoặc các mẫu dò đặc hiệu (Taqman
probe, Beacon probe, Hybridization probe...). Phương pháp real-time PCR có
18
thể thực hiện nhanh, giá thành không đắt, định lượng được sản phẩm DNA và
RNA. Phương pháp này có thể
phát hiện được 10.000 chuỗi gen sao
chép/phản ứng (khoảng 100 tế bào bị nhiễm). Việc xác định số lượng vi rút
cho phép xác định được mRNA, đánh giá sự hoạt động của gen E6 và E7.
genotype được khuếch đại trong phản ứng PCR sẽ được lai với DNA chip đã
gắn cố định các HPV oligoprobe. Papillo Check có thể tiến hành với 12 mẫu
trong cùng thời điểm nên có thể tránh kết quả âm tính hoặc dương tính giả.
So sánh với kit Roche Linear array, DNA array cho kết quả xác định
genotype HPV tương đồng [38].
- Phương pháp giải trình tự gen trên máy tự động
Khác với phương pháp giải trình tự gen bằng phương pháp hóa học và
phương pháp enzym, phương pháp giải trình tự gen trên máy tự động dựa
trên sự nhận biết sự phát sáng của vạch điện di trên gel polyacrylamide đã
được đánh dấu bằng 4 mầu huỳnh quang trong quá trình điện di khi chiếu chùm
tia laser đi qua và ghi lại cường độ sáng trên biểu đồ bằng các đỉnh màu khác
nhau [40]. Các DNA có thể được xác định trình tự nucleotide trực tiếp hoặc sau
khi dòng hóa. Phương pháp giải trình tự gen trực tiếp cho phép tiến hành nhanh
và tiết kiệm, tuy nhiên phương pháp này chỉ có thể áp dụng với nguyên liệu
giải trình tự là DNA trong sản phẩm PCR có chất lượng tốt, đảm bảo độ tinh
sạch vì đôi khi có những vùng gen được nhân lên không đặc hiệu trong phản
ứng PCR mà qua điện di không thể xác định được sẽ làm kết quả xác định
nucleotide bị rối và khó xác định. Mục đích của việc dòng hóa nhằm phân tích
chính xác vùng DNA cần nghiên cứu và nhân số lượng DNA cần giải trình tự
nếu số lượng DNA trong sản phẩm PCR quá ít. Hơn nữa, dòng hóa còn giúp
duy trì và bảo tồn sản phẩm PCR đặc biệt là bảo tồn những vùng gen quý. Xét
nghiệm Cobas-4800 đã được FDA Hoa Kỳ chấp nhận là xét nghiệm sàng lọc
ung thư cổ tử cung đầu tay vào năm 2014. Nó phát hiện được 14 typ HPV nguy
20
cơ cao bao gổm týp 16, 18 riêng biệt và gộp 12 typ HPV nguy cơ cao khác.
Các typ đó là 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 66, 68 [40].
1.5.2.3. Quan sát cổ tử cung với acid acetic (VIA)
Hẹn khám lại để làm VIA sau
2-3 năm.
Tuyến xã: Chuyển tuyến Huyện
hoặc cao hơn.
Tuyến huyện trở lên: khẳng
định thương tổn bằng test VIA
hoặc tế bào cổ tử cung-soi cổ tử
cung - sinh thiết, điều trị bằng
áp lạnh, LEEP hoặc khoét chóp.
Thương tổn dạng sùi hoặc Chuyển tuyến có khả năng chẩn
loét, biểu mô trắng rất dày, đoán xác định và điều trị ung
chảy máu khi tiếp xúc.
thư.
1.5.2.4. Quan sát cổ tử cung sử dụng Lugol (VILI)
Phương pháp VILI (Visual Inspection with Lugol’s Iodine) dựa trên
nguyên lý bắt màu của glycogen có trong biểu mô vảy nguyên thuỷ và biểu
21
mô dị sản vảy trưởng thành của cổ tử cung khi tiếp xúc với dung dịch Lugol
chứa iod. Các biểu mô dị sản vảy mới hình thành, mô viêm, mô tiền ung thư
và UTCTC không chứa hoặc chỉ chứa rất ít glycogen, do đó không bắt màu
dung dịch Lugol hoặc bắt màu không đáng kể, chỉ có màu vàng nhạt của dung
dịch Lugol nằm trên biểu mô. Có thể thực hiện VILI riêng hoặc phối hợp
ngay sau khi đã làm test VIA [42].
Theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, VILI có độ đặc hiệu cao
nhưng độ nhạy thấp trong phát hiện tổn thương, vì vậy nên hạn chế sử dụng
khi chưa được huấn luyện đầy đủ.
có NILM
màuvà/hoặc
vàng nhạt của định thương
HPV (+)
XN HPV ngay
HPV (-)
VILI (+)
Lugol trên cổ tử cung. hoặc hoặc tế bào cổ tử cung - soi cổ
Soi CTC
tế bào sau 1 năm
tử cung - sinh thiết, điều trị
bằng áp lạnh, LEEP hoặc khoét
Sàng lọc lại
chóp
Dương tính
Âm tính
Nghi ngờ
bằng
TB
sau
thư
VILI (+), Thương tổn dạng sùi hoặc Chuyển tuyến có khả ung
năng
mỗi 2 năm
nghi ngờ
nếu đủ
điều kiện
Tái khám sau 6 tháng - 1 năm
LEEP nếu
không đủ
điều kiện
áp lạnh
Chuyển
tuyến để
khẳng định
và điều trị
22
Sơ đồ 1.1. Phác đồ sàng lọc bằng xét nghiệm tế bào cổ tử cung
VIA/VILI
Âm tính
Nghi ngờ ung
thư
Dương tính
1.6.2. Phác đồ sàng lọc bằng VIA/VILI
Sàng lọc lại sau
Sàng lọc lại sau 5
năm
Âm tính
Sàng lọc lại
sau 1 năm
VIA
Dương tính
Áp lạnhnếu đủ
điều kiện
Nghi ngờ ung thư
LEEP nếu
không đủ điều
kiện áp lạnh
Chuyển tuyến
để khẳng định
và điều trị
Sơ đồ 1.3. Phác đồ sàng lọc bằng xét nghiệm HPV và VIA
1.6.4. Phác đồ sàng lọc dựa vào xét nghiệm HPV đơn thuần.
Không có tế bào bất
thường & HPV(-)
ASCUS & HPV(-)
Nhắc lại Cotest sau 5 năm
+
Soi CTC
(Tham khảo:WHO. Comprehensive cervical cancer control: a guide to
essential practice – 2nd ed, Geneva, 2014.)
Sơ đồ 1.5. Phác đồ sàng lọc bằng xét nghiệm đồng thời HPV test và PAP test
1.7. Điều trị:
25
Tùy từng giai đoạn tổn thương mà có biện pháp điều trị thích hợp
- CIN2 và CIN3 có thể điều trị bằng một trong các phương pháp:
+ Nhóm phương pháp phá hủy: áp lạnh, đốt điện, hóa hơi bằng laser.
+ Nhóm phương pháp cắt bỏ: cắt bằng vòng điện (LEEP), khoét chóp,
khoét chóp bằng laser.
+ Cắt tử cung toàn phần.
+ Đối với trường hợp bệnh nhân còn trẻ