I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN BCH THY
Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở ở cấp xã,
thực tiễn tại tỉnh Vĩnh Phúc
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2018
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN BCH THY
Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở ở cấp xã,
thực tiễn tại tỉnh Vĩnh Phúc
Chuyờn ngnh: Lut Hin phỏp - Lut Hnh chớnh
Mó s: 8380101.02
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: TS. TRN QUC BèNH
H NI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
NGƯỜI CAM ĐOAN......................................................................................1
Nguyễn Bích Thủy...........................................................................................1
MỤC LỤC........................................................................................................2
Chương 1........................................................................................................11
CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở CẤP XÃ...............................................................11
1.1. Những vấn đề lý luận về dân chủ ở cơ sở và pháp luật về dân chủ ở
cơ sở................................................................................................................11
1.1.1. Khái niệm dân chủ cơ sở.....................................................................11
Chương 2........................................................................................................54
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN................54
DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TỪ THỰC TIỄN TẠI TỈNH VĨNH PHÚC............54
2.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội, dân cư tỉnh Vĩnh Phúc...............................54
Chương 3........................................................................................................92
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở CẤP XÃ.......................................92
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY...............................................................92
3.1. Quan điểm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở ở
cấp xã..............................................................................................................92
KẾT LUẬN...................................................................................................113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................115
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND
QCDC
UBND
XHCN
phường, thị trấn đối với hệ thống chính trị - xã hội nước ta, đó là Ủy Ban
Thường vụ Quốc hội khóa 11 (2007), đã ban hành Pháp lệnh số 34/2007/PL1
UBTVQH11 ngày 20/4/2007 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.
Ngoài ra với tư cách là văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất ở Việt Nam, Hiến
pháp năm 2013 đã kế thừa những bản Hiến pháp trước đây khi ghi nhận việc
thực hiện QCDC ở cơ sở, phát huy dân chủ trong hoạt động và quản lý nhà
nước. Điều 6 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận “Nhân dân thực hiện quyền lực
nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội,
HĐND và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước.”[35] Trong các hình thức
thực hiện dân chủ thì thực hiện dân chủ ở cơ sở mang những nét điển hình nhất,
cụ thể nhất mà mọi tầng lớp nhân dân đều mong muốn hướng tới. Trên đây là
những văn bản pháp lý quan trọng, đánh dấu những bước quan trọng việc thể
chế hoá phương châm ''dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra'' của Đảng
nhằm phát huy quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân ngay từ cơ sở.
Gần 30 năm Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng lãnh đạo công cuộc
đổi mới đất nước; 18 năm thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, 9 năm thực
hiện Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên cả nước đã đạt
được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Tuy nhiên, những kết quả đạt được mới chỉ là bước đầu, vẫn còn những mặt
hạn chế, yếu kém trong triển khai thực hiện: “Việc xây dựng và thực hiện các
quy chế, quy ước, hương ước không ít nơi còn hình thức, chất lượng chưa
cao, chưa thành nền nếp. Một số xã, phường, thị trấn chưa làm tốt việc công
khai, dân chủ về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giá cả đền bù khi chuyển
mục đích sử dụng đất, chính sách tái định cư. Không ít cơ quan thiếu công
khai, dân chủ về quản lý thu, chi tài chính công, nâng lương, quy hoạch đào
tạo, đề bạt cán bộ... Một số nơi nội bộ lãnh đạo cấp uỷ, chính quyền mất đoàn
kết; tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chưa được ngăn chặn
kịp thời; tình hình khiếu kiện… diễn biến phức tạp, ảnh hưởng không nhỏ đến
- Cuốn sách, Dân chủ và tập trung dân chủ - lý luận và thực tiễn, của
Nguyễn Tiến Phồn, Nxb Khoa học xã hội. Cuốn sách bàn tập trung về cách hiểu
3
khái niệm dân chủ, tập trung dân chủ, trạng thái của dân chủ trong xã hội hiện
đại và ở Việt Nam…
- Cuốn sách, Một số suy nghĩ về xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện
nay, của Đỗ Trung Hiếu, Nxb. Chính trị quốc gia. Tác giả dành sự quan tâm
phân tích nhu cầu và đặc thù nền dân chủ Việt Nam, đề xuất các giải pháp tiếp
tục phát huy dân chủ trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam.
- Cuốn sách, Dân chủ và pháp luật, của Ngô Huy Cương, Nxb. Tư
pháp. Cuốn sách gồm 3 chương, trình bầy những nhận thức chung về dân chủ,
đánh giá tính dân chủ trong pháp luật Việt Nam hiện nay, đề cập việc xây
dựng dân chủ và pháp luật dân chủ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay như:
xây dựng nền văn hóa chính trị, xây dựng Hiến pháp dân chủ, xây dựng chính
quyền dân chủ, phát triển các hình thức dân chủ và xây dựng xã hội công dân.
Đi sâu bàn luận về dân chủ cơ sở đã có rất nhiều công trình nghiên cứu
từ các góc độ khác nhau, trong đó phải kể đến các công trình sau:
- Đề tài, Mối quan hệ giữa các yếu tố tâm lý xã hội với quá trình thực
hiện QCDC ở cơ sở nông thôn hiện nay, của Trần Ngọc Khuê, Đề tài khoa
học cấp bộ. Đề tài đã phân tích làm rõ sự tác động qua lại của một số yếu tố
tâm lý xã hội cơ bản với việc thực hiện QCDC ở cơ sở nông thôn đồng bằng
Bắc Bộ hiện nay; đánh giá thực trạng và nguyên nhân thực hiện QCDC ở cơ
sở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ; đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm thực hiện
có hiệu quả QCDC ở cơ sở nông thôn trong thời kỳ mới.
- Đề tài, Quá trình thực hiện QCDC cơ sở ở một số tỉnh đồng bằng
sông Hồng hiện nay, của Nguyễn Thị Ngân, Đề tài khoa học cấp bộ. Đề tài
đã tiến hành nghiên cứu thực trạng việc thực hiện QCDC cơ sở ở các tỉnh
hội, kinh tế, quản lý tài chính, thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo,
nhằm phát triển nông thôn Việt Nam trong giai đoạn mới.
- Cuốn sách, Hỏi đáp về dân chủ ở cơ sở, của Nguyễn Bắc Son, Nxb.
Chính trị quốc gia năm 2010. Cuốn sách gồm 3 phần, trong đó phần I đề cập
5
đến thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Bao gồm những quy định chung
trong thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Những nội dung công khai để
nhân dân biết; những nội dung nhân dân bàn và quyết định; những nội dung
nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền bàn và quyết định;
những nội dung nhân dân giám sát. Sách được kết cấu dưới dạng hỏi - đáp,
được sắp xếp theo từng vấn đề, dễ nhớ, dễ thuộc và dễ tra cứu. Các câu hỏi và
đáp án trả lời trong cuốn sách đã khái quát và cụ thể hóa những quy định pháp
lý cơ bản nhất trong lĩnh vực dân chủ ở cơ sở: quyền và nghĩa vụ của công
dân, tổ chức, cá nhân trong hoạt động dân chủ ở xã, phường, thị trấn.
- Viện Chính sách công và Pháp luật - Viện Nhà nước và pháp luật
(Đồng chủ biên): Đào Trí Úc và các cộng sự, Một số vấn đề lý luận, thực tiễn
về dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế giới và ở Việt Nam, Nxb. Đại học
quốc gia năm 2014. Cuốn sách gồm tập hợp những bài tham luận tại cuộc Hội
thảo “Dân chủ trực tiếp, Dân chủ cơ sở trên thế giới và ở Việt Nam”, trong
đó, các tác giả đã chia sẻ kiến thức, thông tin về một loạt vấn đề lý luận, thực
tiễn và các mô hình tổ chức thực hiện dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế
giới và ở Việt Nam; đồng thời, đề xuất những quan điểm, giải pháp hoàn thiện
khuôn khổ pháp luật và các cơ chế bảo đảm thực hiện dân chủ trực tiếp, dân
chủ cơ sở ở nước ta trong thời gian tới.
- Cuốn sách: Dân chủ và dân chủ ở cơ sở nông thôn trong tiến trình đổi
mới, của Hoàng Chí Bảo, Nxb. Chính trị quốc gia năm 2010. Nội dung của cuốn
sách bao gồm sáu vấn đề lớn: Ý thức dân chủ của người Việt Nam từ lịch sử đến
mạnh việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Phân tích những vấn đề lý luận về dân chủ ở cơ sở và thực hiện pháp
luật về dân chủ ở cơ sở cơ sở;
- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc, những mặt đã đạt được, những tồn tại hạn chế, nguyên
nhân của những hạn chế.
- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm đẩy mạnh việc thực hiện
8
pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng thực hiện pháp luật về
dân chủ cơ sở ở cấp xã tại Vĩnh Phúc và các yếu tố tác động đến hoạt động
đó, đặc biệt là khuôn khổ pháp luật hiện hành của quốc gia và bối cảnh chính
trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về nội dung, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực hiện pháp luật về dân
chủ cơ sở ở cấp xã, thực tiễn tại Vĩnh Phúc
Về không gian, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp
luật về dân chủ cơ sở ở cấp xã ở tỉnh Vĩnh Phúc, không mở rộng đến hoạt
động này ở các địa phương khác.
Về thời gian, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng thực hiện
pháp luật về dân chủ cơ sở ở cấp xã ở tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian từ
năm 2011 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm
Chương 1: Cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý của việc thực hiện pháp luật về
dân chủ cơ sở ở cấp xã.
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở
từ thực tiễn tại tỉnh Vĩnh Phúc.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp
luật về dân chủ cơ sở ở cấp xã trong giai đoạn hiện nay.
10
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở CẤP XÃ
1.1. Những vấn đề lý luận về dân chủ ở cơ sở và pháp luật về dân
chủ ở cơ sở
1.1.1. Khái niệm dân chủ cơ sở
Nếu xét từ khía cạnh quan hệ thứ bậc mang tính pháp lý của cấu trúc
hành chính - lãnh thổ và chỉnh thể hệ thống chính trị thống nhất ở nước ta thì
cơ sở là cấp thấp nhất, tuy nhiên cơ sở không đơn thuần là cánh tay nối dài
của cấp trên. Cơ sở là địa bàn cư trú của dân, là nơi diễn ra mọi hoạt động
sinh sống và làm ăn của nhân dân lao động, vì vậy nói tới cơ sở là nói tới vai
trò chủ thể của người dân và hình thức tổ chức các hoạt động sống của cộng
đồng, các mối quan hệ xã hội.
Cơ sở là nơi trực tiếp nhất của thực tiễn, thể hiện ý thức và năng lực
làm chủ của nhân dân bằng cả phương thức dân chủ đại diện và dân chủ trực
tiếp, cũng là nơi đầu tiên đối mặt với những yêu cầu bức xúc của dân chúng
với những mâu thuẫn, thậm chí cả những xung đột nảy sinh trong đời sống
dân sự. Trong hệ thống quản lý, cấp cơ sở là cấp cuối cùng nhưng lại là cấp
đầu tiên và trực tiếp nhất với tư cách nền tảng xây dựng chế độ dân chủ của
toàn hệ thống chính trị. Cơ sở tuy là cấp thấp nhất nhưng lại là tầng sâu nhất
chính sách pháp luật của Nhà nước, là nơi kiểm nghiệm một cách chính xác
nhất đường lối của Đảng trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa trong
thực tiễn khách quan. Thực hiện dân chủ ở cấp xã là toàn bộ quá trình hiện
thực hóa các quyền thể hiện sự tham gia của công dân vào chu trình thực hiện
quyền lực tại cơ sở. Khi nghiên cứu nhóm quyền này thì dân chủ, với ý nghĩa
là quyền tự nhiên tối cao nhất của con người được thực hiện trước hết là ở cơ
sở. Với tư cách chủ thể quyền lực, người dân tại cơ sở có quyền có đại diện
12
của mình, có quyền trực tiếp được biết, được bàn, được tham gia giải quyết và
kiểm tra giám sát mọi hoạt động quyền lực diễn ra tại cơ sở.
Như vậy, do bản chất của dân chủ ở cơ sở là phát huy quyền làm chủ
mọi mặt của người dân ở cơ sở nên dân chủ cơ sở là một phương thức hỗn
hợp để thực hiện dân chủ. Dân chủ cơ sở bao gồm trong nó cả hình thức dân
chủ đại diện và hình thức dân chủ trực tiếp, hướng tới mục tiêu hiện thực hóa
quyền lực của chủ nhân quyền lực tại địa bàn cơ sở. Ngoài ra, dân chủ cơ sở
còn thể hiện ở quyền tham gia ý kiến với tư cách cá nhân vào các vấn đề nảy
sinh tại cơ sở có liên quan đến quyền và lợi ích của chính họ, của các cá nhân
khác hoặc của Nhà nước. Theo đó, ý kiến của một số nhà nghiên cứu cho
rằng, tham gia cũng có thể được xem là một hình thức thực hiện dân chủ
mang đặc thù của dân chủ cơ sở: “Thực hiện dân chủ cơ sở được thông qua
bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau, cụ thể là dân chủ trực tiếp,
dân chủ đại diện và dân chủ tham gia” [44, tr.58].
Dân chủ là quyền của người dân, trong xã hội dân chủ người dân xây
dựng nên nhà nước để thực hiện quyền của họ. Theo cách giải thích của Hồ
Chí Minh thì dân chủ là người dân làm chủ, chính quyền chỉ là đầy tớ, là công
cụ phục vụ nhân dân.
Ở Việt Nam, thực hiện dân chủ cơ sở được biểu hiện trước hết ở sự tồn
1996 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002) quy định: “căn cứ vào tính chất và
nội dung của dự án luật, dự án pháp lệnh, Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội quyết định việc lấy ý kiến nhan dân về dự án luật, dự án pháp lệnh”. Hoặc
theo Khoản 5, Điều 25 của Luật Đất đai năm 2003 thì: “trong quá trình lập
quy hoạch sử dụng đất chi tiết, cơ quan, tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch
sử dụng đất phải lấy ý kiến đóng góp của nhân dân”… Còn tại Khoản 3, Điều
26 của Luật Xây dựng năm 2003 thì: “Việc điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây
dựng đô thị… phải lấy ý kiến của nhân dân trong khu vực lập quy hoạch chi
tiết xây dựng”.
14
Từ những quy định nêu trên, có thể hiểu rằng: lấy ý kiến nhân dân là
việc nhà nước tổ chức để nhân dân đóng góp ý kiến về một vấn đề cụ thể. Đây
cũng là một trong những hình thức dân chủ bán trực tiếp giống như trưng cầu
ý dân, nhưng nội hàm của thuật ngữ “lấy ý kiến nhân dân” rộng hơn. Xét ở
góc độ nhất định, cũng có thể coi trưng cầu ý dân là một trong những hình
thức (đặc biệt) của lấy ý kiến nhân dân. Tuy nhiên, khác với việc trưng cầu ý
dân, kết quả của việc lấy ý kiến nhân dân chỉ có giá trị để các cơ quan nhà
nước tham khảo; đối tượng của hoạt động này là nhân dân, bao gồm tất cả
mọi người có khả năng và tâm huyết đóng góp ý kiến mà không hạn chế bất
cứ ai cho dù họ có quyền bầu cử hay không, có đầy đủ quyền công dân hay
không, trong khi trưng cầu ý dân thì phạm vi chủ thể không rộng đến như vậy;
những việc đưa ra lấy ý kiến nhân dân có khi là để xem xét, quyết định về một
vấn đề cụ thể (lấy ý kiến về việc có nên xây dựng một công trình hay không),
nhưng cũng có thể là việc góp ý để hoàn chỉnh thêm các vấn đề đưa ra lấy ý
kiến (lấy ý kiến đối với dự án luật, pháp lệnh). Một điểm khác biệt nữa là:
trưng cầu ý dân bắt buộc phải thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu với câu trả
lời là “đồng ý” hay “không đồng ý” cho vấn đề đưa ra trưng cầu, còn việc lấy
biểu hiện của dân chủ trực tiếp theo nghĩa rộng và được sử dụng rộng rãi ở
Việt Nam từ trước đến nay.
Dân chủ cơ sở không đồng nhất với tự quản cơ sở. Xét về bản chất, dân
chủ cơ sở tạo ra nhiều khả năng cho sự tham gia trực tiếp và nhiều mặt của
người dân vào các công việc của Nhà nước và xã hội. Theo đó, dân chủ cơ sở
là mắt xích quan trọng nối liền những mặt tích cực của dân chủ và của chế độ
tự quản cơ sở.
Mặc dù vậy, dân chủ cơ sở là hình thức quyền lực nhân dân, không
trùng lặp với tự quản cơ sở.
Trên thực tế, cả dân chủ cơ sở và tự quản cơ sở đều được thực hiện ở cơ
sở, ở đơn vị nhỏ nhất hoặc các tập thể, cộng đồng khác nhau. Dân chủ cơ sở
16
phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể quyền lực gốc - nhân dân - với các thiết chế
được nhân dân ủy quyền lực và với việc đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân
tại cơ sở. Nói đến dân chủ cơ sở là nói đến mối quan hệ tương tác giữa nhà
nước và nhân dân tại cơ sở. Ở Việt Nam, các đơn vị cơ sở như vậy là các xã,
phường, thị trấn; là các tập thể cơ quan, tổ chức, đơn vị, trường học, bệnh
viện… là nơi mọi chính sách, đường lối, pháp luật của Đảng và Nhà nước được
phản ánh qua lăng kính của cá nhân, của lợi ích tập thể, là nơi kiểm nghiệm
tính đúng đắn và hiệu quả của các quyết sách của Đảng ta. Dân chủ cơ sở là
“hệ thống báo động” nhạy cảm nhất, những thông tin phản hồi nhanh nhất về
hiệu lực, hiệu quả của các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà
nước để kịp thời sửa chữa, bổ sung. “Hệ thống báo động” và các thông tin phản
hồi này giúp cho Đảng và Nhà nước kiểm nghiệm lại đường lối, chính sách của
mình một cách nhanh nhất, khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, xa rời thực tế,
tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với Nhân dân. Trong khi đó, tự
quản cơ sở là vấn đề nằm ngoài hệ thống nhà nước, liên quan đến cách tổ chức
cùng phát sinh và phát triển. Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực
chính trị, nhưng quyền lực đó chỉ có thể được triển khai và phát huy có hiệu
quả trên cơ sở của pháp luật. Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà
nước ban hành, luôn phản ánh những quan điểm và đường lối chính trị của lực
lượng nắm quyền lực Nhà nước và đảm bảo cho quyền lực đó được triển khai
nhanh, rộng trên quy mô toàn xã hội [37].
Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân,
do đó pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và đông đảo nhân dân
lao động, là pháp luật thực sự dân chủ vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng
rãi cho nhân dân lao động. Nó khác biệt căn bản về chất so với các kiểu pháp
luật trước đó như pháp luật chủ nô, pháp luật phong kiến, pháp luật tư sản.
Pháp luật XHCN là hệ thống các quy tắc xử sự, thể hiện ý chí của giai
cấp công nhân và nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng, do Nhà nước
18
XHCN ban hành và đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà
nước trên cơ sở giáo dục và thuyết phục mọi người tôn trọng và thực hiện.
Pháp luật giữ vai trò quan trọng, là phương tiện để nhân dân phát huy
quyền làm chủ, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Pháp luật là nhân tố
điều chỉnh các quan hệ xã hội, nó luôn tác động và ảnh hưởng rất mạnh mẽ tới
các quan hệ xã hội trong đó có các quan hệ giữa các cá nhân công dân với
Nhà nước, giữa công dân với nhau trong đời sống xã hội [37]. Pháp luật đảm
bảo thực hiện nền dân chủ XHCN, phát huy quyền lực của nhân dân, đảm bảo
công bằng xã hội. Dân chủ là thuộc tính của Nhà nước XHCN, việc tăng
cường hiệu lực và phát huy vai trò của Nhà nước trong quản lý mọi mặt của
đời sống xã hội luôn gắn liều với quá trình thực hiện và mở rộng dân chủ
XHCN. Dân chủ được thể hóa thành pháp luật. Những quyền tự do dân chủ
của công dân phải được quy định cụ thể trong pháp luật, Nhà nước phải đảm