Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở từ thực tiễn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MAI THANH BÌNH

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ
TỪ THỰC TIỄN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

MAI THANH BÌNH

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ
TỪ THỰC TIỄN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số

: 8 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHAN THANH HÀ



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ ..............................................................................................8
1.1. Khái niệm, nội dung pháp luật về dân chủ cơ sở .................................................8
1.2. Khái niệm, đặc điểm và các hình thức thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở 14
1.3. Vai trò của việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở ...................................19
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở ...........21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ CƠ
SỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .................29
2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa
bàn quận Sơn Trà ......................................................................................................29
2.2. Thực trạng triển khai thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn quận
Sơn Trà ......................................................................................................................33
2.3. Đánh giá thực trạng những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong
thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn quận Sơn Trà .............................36
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC
HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ TỪ THỰC TIẾN ĐỊA BÀN
QUẬN SƠN TRÀ ....................................................................................................55
3.1. Phương hướng nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về dân chủ cơ cơ sở .....55
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa
bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng .....................................................................59
KẾT LUẬN ..............................................................................................................74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

STT


DCCS

Dân chủ cơ sở

6

HĐND

Hội đồng nhân dân

7

MTTQ

Mặt trận Tổ quốc

8

QCDCCS

Quy chế dân chủ cơ sở

9

TTND

Thanh tra nhân dân

10

phường, thị trấn, gần đây là Nghị định 04/NĐ-CP ngày 09/01/2015 của Chính phủ
(thay cho Nghị định 71) “về thực hiện dân chủ trong trong cơ quan hành chính nhà
nước và đơn vị sự nghiệp công lâp”. Đây là những văn bản pháp lý quan trọng,
đánh dấu một bước phát triển về thực hiện dân chủ và sự thể chế hoá phương châm
''dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra'' của Đảng nhằm phát huy quyền làm chủ
của Nhân dân ngay từ cơ sở. Nếu như thực hiện tốt pháp luật về dân chủ ở cơ sở sẽ
góp phần tích cực vào việc thúc đẩy, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững an
ninh trật tự ở cơ sở.
Việc thực hiện công khai, dân chủ đã trở thành phương thức quản lý, điều
hành của các cơ quan nhà nước và nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ công
1


chức đối với Nhân dân; đồng thời, khuyến khích Nhân dân tích cực tham gia xây
dựng, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, góp ý cho cán bộ công chức về
đạo đức lối sống, phong cách làm việc và tôn trọng Nhân dân hơn. Quá trình thực
hiện dân chủ ở cơ sở đã làm chuyển biến rõ rệt nhận thức của cả hệ thống chính trị
ở cơ sở, phát huy được quyền làm chủ của cán bộ công chức, góp phần tích cực,
hiệu quả vào công tác xây dựng chính quyền ngày càng trong sạch, nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, xây dựng khối đoàn kết trong cơ quan,
đơn vị, giữ vững ổn định chính trị từ cơ sở, tạo động lực quan trọng để hoàn thành
nhiệm vụ chính trị của địa phương.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở ở
từng địa phương còn có những hạn chế, bất cập nhất định. Có nơi, quyền làm chủ
của Nhân dân chưa được tôn trọng, chưa được phát huy, có khi còn mang tính hình
thức. Các chủ thể thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở chưa thực sự làm tròn vai
trò, trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở.
Hiện nay, các văn bản triển khai thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở khá hệ thống
trên các mặt, phương diện, nhưng vẫn còn khoảng trống ở một số lĩnh vực. Còn
những quy định vẫn chưa sát với thực tế, trong khi việc bổ sung, điều chỉnh thường

- GS. TS. Hoàng Chí Bảo: “Dân chủ và dân chủ ở nông thôn trong tiến trình
đổi mới”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008; Trong công trình này tác giả đã
nêu lên tầm quan trọng của dân chủ và dân chủ ở cơ sở, nhất là tầm quan trọng của
thực hiện dân chủ ở nông thôn; thực trạng và những hạn chế trong thực hiện dân
chủ ở nông thôn trong thời gian qua. Qua đó tác giả đề ra các giải pháp thực hiện
dânchủ trong tiến trình đổi mới ở nông thôn.
- PGS. TS. Nguyễn Văn Mạnh - Th.s. Tào Thị Quyên: “Dân chủ trực tiếp ở
Việt Nam, lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội 2010. Đây là kỷ
yếu Hội thảo Công trình nghiên cứu đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực
tiễn về dân chủ và dân chủ trực tiếp của một số nước và Việt Nam, các tác giả đã
đánh giá thực trạng thực hiện dân chủ trực tiếp và nêu ra các giải pháp nhằm phát
huy các hình thức dân chủ trực tiếp.
- Đào Trí Úc (Chủ biên), Trịnh Đức Thảo, Vũ Công Giao...: “Một số vấn đề lý
3


luận, thực tiễn về dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế giới và ở Việt Nam”,
Nxb: Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2014; Trình bày một loạt vấn đề về lý luận,
thực tiễn và các mô hình tổ chức thực hiện dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế
giới và Việt Nam. Đề xuất những quan điểm, giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp
luật và các cơ chế bảo đảm dân chủ trực tiếp và dân chủ cơ sở ở nước ta trong thời
gian tới.
Các công trình nghiên cứu về dân chủ ở cấp cơ sở, Phạm Ngọc Trâm: “Nhìn
lại quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở1998 - 2012”, Tạp chí Lịch sử Đảng,
số 11/2012.
Đối với quận Sơn Trà, việc triển khai các văn bản thực hiện pháp luật về dân
chủ ở cơ sở trong những năm đã được các ủy đảng, chính quyền và cả hệ thống
chính trị vào cuộc và thực hiện một cách nghiêm túc, đồng bộ và cso hiệu quả từ
quận đến cơ sở các phường. Công tác quán triệt, thường xuyên các văn bản chỉ đạo
của các cấp về thực hiện pháp luật về quy chế dân chủ cơ sở như Pháp lệnh 34 của

- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở
- Phân tích đánh giá thực tiễn pháp luật về dân chủ cơ sở và việc thực hiện
pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn Quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
- Trên cơ sở đó đề xuất, kiến nghị những giải pháp để tiếp tục thực hiện tốt
hơn pháp luật về dân chủ cơ sở (ở Sơn Trà nói riêng và ở Việt Nam nói chung)
trong tình hình hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở từ thực tiễn từ quận Sơn Trà, thành phố
Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn về thực hiện pháp luật về dân
chủ cơ sở, trong đó tập trung vào nghiên cứu các vấn đề gồm:
+ Các quan điểm khoa học về thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở
+ Các chủ trương của Đảng, quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam về
thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở

5


+ Thực tiễn thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở ở địa bàn quận Sơn Trà – Đà Nẵng.
- Phạm vi không gian: Quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2008 đến 2018.
- Phạm vi đối tượng của chính sách: Các đơn vị hành chính, các ủy đảng, cán
bộ công chức, viên chức, đảng viên và các dân cư trên địa bàn quận Sơn Trà.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa
duy vật biện chứng; lý luận về nhà nước và pháp luật (tư tưởng Hồ Chí Minh); quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng dân chủ và Nhà nước pháp quyền



CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ
1.1. Khái niệm, nội dung pháp luật về dân chủ cơ sở
1.1.1. Khái niệm pháp luật về dân chủ cơ sở
- Khái niệm dân chủ
Cùng với sự hoàn thiện dân chủ với tinh cách là một giá trị to lớn của văn
minh nhân loại, một phương thức tồn tại của xã hội hiện đại, dân chủ được vận
dụng vào hoạt động của những tổ chức và thiết chế chính trị nhất định. Trong đó,
dân chủ được thể hiện trên nhiều lĩnh vực kinh tế-xã hội. Tuy nhiên, để cho mọi lĩnh
vực hoạt động đều phát huy tính dân chủ, chúng ta cần phải thực hiện dân chủ hóa,
và dân chủ sẽ được thực hiện ngay từ cơ sở. Như vậy, ta có thể hiểu dân chủ ở nước
ta theo hai nghĩa sau đây:
Dân chủ được hiểu theo nghĩa rộng: Là một hiện tượng lịch sử - xã hội, một
giá trị xã hội, một nguyên tắc, phương pháp quản lý nhà nước, quản lý xã hội; là
một chế độ chính trị cầm quyền là một hiện tượng chính trị gắn liền với Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa; dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã
hội dựa trên việc thừa nhận Nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận
nguyên tắc bình đẳng và tự do.
Dân chủ cũng được vận dụng vào các tổ chức và hoạt động của những tổ chức
và thiết chế xã hội nhất định” [73,tr. 89]. Từ góc độ khái quát nhất, có thể hiểu dân
chủ là một phương thức cầm quyền cho phép cá nhân, tổ chức và các nhóm chủ thể
khác nhau trong xã hội có những cơ hội bình đẳng để tham gia vào tiến trình hoạt
động chính trị một cách đầy đủ và thực sự.
Dân chủ được hiểu như mục tiêu phấn đấu của Đảng, Nhà nước ta “Thực hiện
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Những mục tiêu này
đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Có thể hiểu dân có giàu thì nước với mạnh,
có dân chủ thực sự thì xã hội mới công bằng.

quá trình thực thi pháp luật về dân chủ cơ sở.
Quan tâm đến dân chủ cơ sở, thực chất đó là quan tâm đến mọi mặt đời sống
9


xã hội của người dân, đảm bảo đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của họ mà được pháp luật
thừa nhận và bảo vệ. Những quyền lợi của người dân phải được gắn liền với trách
nhiệm, nghĩa vụ và bổn phận công dân đối với Nhà nước, với xã hội. Quyền lợi của
người dân phải được nằm trong khuôn khổ của pháp luật và không đi ngược lại lợi ích
của Nhà nước và xã hội. Vì vậy, dân chủ phải được thể hiện qua mối quan hệ xã hội
giữa con người với con người và ngược lại giữa con người với xã hội, giữa công dân
với Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật, thông qua tổ chức và thể chế.
Nói đến dân chủ cơ sở chính là phát huy quyền làm chủ của Nhân dân ngay tại
nơi họ đang sinh sống, làm việc và học tập. Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà ta
luôn coi trọng việc phát huy dân chủ ở cơ sở, cụ thể bằng những Chỉ thị, Nghị
quyết, Kết luận chỉ đạo và các văn bản pháp luật về dân dân chủ cơ sở đã được ban
hành và thực thi đồng bộ.
- Khái niệm pháp luật về dân chủ cơ sở
Dân chủ chính là thước đo giá trị của pháp luật, phản ánh mức độ phát triển,
văn minh của một quốc gia. Ngược lại, pháp luật đóng vai trò quan trọng trong công
tác quản lý nhà nước, bởi vì pháp luật chính là công cụ quan trọng, chủ yếu, phổ
biến và hiệu lực nhất của quản lý nhà nước. Đồng thời, nó là phương tiện để ghi
nhận và thực hiện nền dân chủ xã hội. Bản thân pháp luật đã chứa đựng nội dung
của nền dân chủ, quy định các quyền tự do dân chủ trong các lĩnh vực của đời sống
xã hội. Cụ thể là, pháp luật là phương tiện để xác lập cơ chế làm chủ cho các tổ
chức và cá nhân, quy định các biện pháp củng cố, mở rộng và thực hiện dân chủ
trên thực tế. Pháp luật với thuộc tính vốn có quy định chặt chẽ, chính xác nhiệm vụ,
quyền hạn của các thiết chế quyền lực, hạn chế tình trạng lạm quyền, độc đoán
chuyên quyền, vi phạm các quyền tự do dân chủ của các chủ thể cầm quyền, các tổ
chức nhà nước trong việc thực thi các chính sách liên quan đến quyền và nghĩa vụ

Ngày 07/7/2003, Chính phủ ra Nghị định số 79/NĐ-CP, ban hành Quy chế
thực hiện dân chủ ở xã, thay thế Nghị định số 29/1998/NĐ-CP. Ngày 18/4/2005
Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg ban hành Quy chế Giám
sát đầu tư của cộng đồng. Ngày 20/4/2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành
Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 về Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.
11


Pháp lệnh này quy định rõ 11 nội dung phải công khai để nhân dân biết (Điều 5,
Chương 2); những nội dung, hình thức nhân dân bàn và quyết định trực tiếp (Điều
10, Mục 1, Chương 3); những nội dung, hình thức nhân dân bàn, biểu quyết để cấp
có thẩm quyền quyết định (Mục 2, Chương 3); trách nhiệm (của Ủy ban nhân dân
cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, của Trưởng thôn. Tổ trưởng tổ dân phố)
tổ chức thực hiện những nội dung nhân dân bàn và quyết định (Mục 3, Chương 3);
những nội dung, hình thức để nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm
quyền quyết định (Điều 19, Điều 20, Chương 4); những nội dung nhân dân giám sát
(Điều 23; Chương 5), trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực
hiện giám sát của nhân dân (Điều 25, Chương 5). Pháp lệnh này cũng quy định rõ
những nguyên tắc thực hiện dân chủ ở cấp xã (Điều 2); Trách nhiệm tổ chức thực
hiện dân chủ ở cấp xã (Điều 3); và Các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 4)...
Có thể thấy, từ Chỉ thị 30-CT/TW (ngày 18-02-1998) của Bộ Chính trị (về xây
dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở được cụ thể bằng Nghị định 29/NĐ-CP
(ngày 1/15/1998) và Nghị định số 79/NĐ-CP (ngày 7/7/2003) của Chính phủ, đến
Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 (ngày 20/4/2007) của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội là những bước phát triển trong nhận thức về dân chủ cơ sở và quá trình
thể chế hóa quan điểm đúng đắn, tư tưởng chiến lược của Đảng về dân chủ ở cơ sở.
Nội dung pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn theo quy định tại Pháp
lệnh số 34 của UBTVQH 11 gồm:
- Những nội dung công khai để dân biết:
+ Chính quyền cơ sở thực hiện công khai các nội dung như kế hoạch phát triển

chuyển đổi cơ cấu kinh tế, sản xuất; dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi
tiết và phương án điều chỉnh, việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã… thể hiện
dưới hình thức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ
dân phố; phát phiếu lấy ý kiến; thông qua hòm thư góp ý.
- Những nội dung Nhân dân giám sát: là những nội dung công khai để dân
biết; những nội dung Nhân bàn và quyết định trực tiếp; nội dung Nhân dân bàn,
biểu quyết và những nội dung Nhân dân tham gia ý kiến được thực hiện dưới hình
thức thông qua hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của
cộng đồng; thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị.
13


- Quy định trách nhiệm của chính quyền, CBCC xã, phường thị trấn; của cán
bộ thôn, của tổ dân phố, khu phố, của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và của
Nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở cơ sở.
1.2. Khái niệm, đặc điểm và các hình thức thực hiện pháp luật về dân chủ
ở cơ sở
1.2.1. Khái niệm
Thực hiện pháp luật là một hiện tượng xã hội mang tính pháp lý bắt buộc. Quá
trình thực hiện pháp luật được diễn ra tiếp nối với quá trình xây dựng và hoàn thiện
pháp luật của Nhà nước. Về phương diện lý luận, thực hiện pháp luật là khái niệm
hiện nay đang có những cách hiểu ít nhiều khác nhau.
Theo Giáo trình Lý luận chung Nhà nước và pháp luật của Trường Đại học
Luật Hà Nội, “Thực hiện pháp luật được quan niệm là quá trình hoạt động có mục
đích làm cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi
thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [72, tr.463].
Theo Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Viện Nhà nước
và pháp luật - Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh: Thực hiện
pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích, làm cho những quy phạm của pháp
luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế

nhiều quan hệ pháp luật khác, trong đó chủ thể thực hiện chủ yếu là các cơ quan nhà
nước thì pháp luật về dân chủ ở cơ sở được thực hiện bởi nhiều chủ thể. Đó chính là
hệ thống chính trị ở cơ sở và quan trọng hơn là những người dân sống tại địa bàn cơ
sở. Chính họ sẽ quyết định hiệu lực, hiệu quả của việc thực hiện pháp luật về dân
chủ ở cơ sở.
Thứ hai, phạm vi thực hiện: việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở được
triển khai trên địa bàn rộng lớn nhất, sát với thực tiễn đời sống. Điều này lý giải bởi
hệ thống chính quyền cơ sở là hệ thống quyền lực có địa bàn rộng lớn nhất, phục vụ
lợi ích trực tiếp của Nhân dân, là cấp trực tiếp đưa chủ trương, Nghị quyết của
Đảng, pháp luật Nhà nước vào cuộc sống. Do đó “dân chủ ở cơ sở” phải được hiểu
là dân chủ ở cấp thấp nhất, rộng nhất, là nơi người dân thể hiện trực tiếp quyền làm
chủ của mình. Đó là khu dân cư, tổ dân phố được hình thành bằng một cộng đồng
dân cư chặt chẽ. Vì thế, tất cả các tổ chức quyền lực nhà nước, muốn làm tốt công
15


tác quản lý xã hội đều phải thông qua vai trò của hệ thống chính quyền cơ sở.
Thứ ba, nội dung thực hiện: pháp luật về dân chủ ở cơ sở gồm tất cả mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội, có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của
người dân nơi họ cư trú, nó có mối quan hệ mật thiết với nhau, chất lượng của việc
thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở góp phần đảm bảo sự tồn tại, phát triển của
pháp luật nói chung và pháp luật về dân chủ nói riêng.
Thứ tư, tính chất thực hiện: thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở là hoạt
động diễn ra thường xuyên, liên tục gắn liền với các hoạt động trên địa bàn khu dân
cư. Thực hiện dân chủ không chỉ tập trung ở cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ
quốc, đoàn thể của phường mà nó phải đi xuống khu dân cư là nơi cố kết cộng
đồng bền chặt. Hơn nữa, dân chủ không chỉ là thực hiện những quy định trong các
quy chế dân chủ, mà thể hiện thường xuyên, liên tục bằng tất cả các hoạt động kinh
tế - xã hội của chính người dân sinh sống tại đây. Chính quyền địa phương với vai
trò là đại diện cho Nhà nước, kiểm tra, giám sát cũng là chủ thể thực hiện dân chủ,

pháp luật, áp dụng pháp luật. Trong đó, thi hành pháp luật là một hình thức thực
hiện pháp luật mà chủ thể thực hiện pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình
bằng hành động tích cực, chính xác, kịp thời. Sử dụng pháp luật là hình thức trong
đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình là những hành vi mà
pháp luật cho phép. Ở hình thức này, các chủ thể pháp luật có thể thực hiện hay
không thực hiện quyền được pháp luật cho phép.
Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở được sử dụng chủ yếu ở hình thức sử
dụng pháp luật (đối với chủ thể là công dân) và chấp hành pháp luật (đối với chủ thể
là chính quyền và các tổ chức chính trị, xã hội ở cơ sở). Việc thực hiện pháp luật về
dân chủ ở cơ sở được thực hiện thông qua các hình thức sau:
- Hình thức thi hành pháp luật về dân chủ:
+ Đối với chính quyền cấp xã: công khai những việc Nhân dân được biết bằng
việc niêm yết công khai tại trụ sở UBND, thời gian niêm yết; công khai trên hệ
thống truyền thanh của xã, phường; hoặc thông qua thôn, tổ dân phố, là những hình
thức cụ thể mà chính quyền cấp xã phải thực hiện để công khai hóa toàn bộ nội
dung phải được công khai cho Nhân dân biết tại mục 2, Pháp lệnh số 34 của
UBTVQH.
17


Công khai, minh bạch các nội dung nêu trên vừa là yêu cầu khách quan, cũng
vừa là hình thức thi hành quyền lực nhà nước một cách kịp thời, chính xác, là điều
kiện đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, là cơ sở để Nhân dân giám
sát các cơ quan nhà nước, cũng như giám sát hoạt động của CBCC nhà nước. Thực
hiện tốt việc công khai góp phần khắc phục tình trạng tham nhũng, tiêu cực, tránh
được tình trạng cục bộ địa phương, lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân. Để làm tốt điều
này, đòi hỏi chính quyền địa phương cơ sở phải thực hiện tốt các công việc từ việc
lựa chọn, bố trí CBCC đảm bảo có đạo đức, đủ năng lực, trình độ chuyên môn đến
việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện một cách chi tiết, cụ thể, đảm bảo tính
hợp pháp và tính hợp lý để thực hiện công khai cho mọi người dân biết, có như vậy

pháp lý để buộc chính quyền cấp xã phải tôn trọng và phải tạo mọi điều kiện cho
Nhân dân sử dụng đầy đủ quyền dân chủ của mình. Đó là các quyền được bàn về
chủ trương đóng góp xây dựng hạ tầng kỹ thuật, công trình phúc lợi ở địa phương,
đóng góp ý kiến vào quy hoạch, kế hoạch, quy định kế hoạch sử dụng đất đai; bàn
bạc xây dựng hương ước, quy ước của của tổ dân phố; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm
tổ trưởng tổ dân phố; bầu, bãi nhiệm thành viên Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám
sát đầu tư của cộng đồng… Trên cơ sở đó Nhân dân được quyền thể hiện ý chí,
nguyện vọng, quan điểm của mình một cách chủ động, phù hợp với điều kiện, khả
năng của bản thân và của địa phương góp phần thực hiện dân chủ ở cơ sở đúng với
bản chất của dân chủ XHCN.
- Hình thức áp dụng pháp luật về dân chủ:
Pháp luật về dân chủ ở cơ sở tác động đến các quan hệ xã hội, vào cuộc sống
mang lại lợi ích thiết thực cho người dân chỉ khi tất cả những quy định của pháp
luật về dân chủ đều được thực hiện đồng bộ, thường xuyên, chính xác, kịp thời và
triệt để trong thực tế. Vì vậy, phải có hình thức áp dụng pháp luật về dân chủ ở cơ
sở, đây là hình thức mang tính quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua chính
quyền hoặc CBCC nhằm hiện thực hóa các quy phạm pháp luật vào các trường hợp
cụ thể, như theo thẩm quyền chính quyền mà pháp luật quy định
1.3. Vai trò của việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở
Thứ nhất, Quy chế dân chủ cơ sở ra đời để giải quyết một cách cơ bản những
vấn đề cụ thể đối với việc triển khai và thực hiện có hiệu quả dân chủ ở cơ sở. Quy
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status