Quản lý nhà nước về văn hóa từ thực tiễn quận sơn trà, thành phố đà nẵng - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐÌNH VƯƠNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA
TỪ THỰC TIỄN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN ĐÌNH VƯƠNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA
TỪ THỰC TIỄN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành

: Luật Hành chính

Mã số

: 60.38.01.02

VBPL

: Văn bản pháp luật

VHTT

: Văn hóa thông tin

VHTTDL

: Văn hóa thể thao du lịch

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
1.1.

Tên bảng
Danh hiệu văn hoá từ năm 2012 đến 2015 trên địa
bàn quận

Trang
51


DANH MỤC CÁC HÌNH

nhà nước về văn hóa cũng gặp nhiều khó khăn, lúng túng, bị động trong công tác
quản lý, xử lý vi phạm, nhất là việc quản lý các loại hình dịch vụ văn hóa...
Trong quá trình hình thành và phát triển, Quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng với lợi thế của một quận có vị trí quan trọng về kinh tế biển, kinh tế du lịch, quốc
phòng và an ninh, là cửa ngõ ra biển Đông của thành phố, là tuyến giao thông huyết
mạch đặc biệt quan trọng của hành lang kinh tế Đông Tây... Sơn Trà là cánh cửa
tiếp nhận sự giao lưu văn hoá đa dạng, phong phú, thực sự có giao lưu từ nhiều nền
văn hoá Đông và Tây, văn hoá sa đảo.
Với những mặt thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội ở địa

1


phương, thực trạng về văn hóa trên địa bàn quận còn tiềm ẩn nhiều biểu hiện tiêu
cực ở một số hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa, lối sống, hành vi cư xử của con
người có những biểu hiện đáng lo ngại, làm xói mòn những giá trị đạo đức, thuần
phong mỹ tục của dân tộc. Trong bối cảnh phát triển công nghiệp hóa, đô thị hóa
hiện nay, công tác quản lý nhà nước về văn hóa sẽ gặp nhiều khó khăn, trở ngại bởi
thực tế đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về văn hóa còn thiếu về số
lượng, yếu về chuyên môn nghiệp vụ, các thiết chế văn hóa chưa được thành phố và
quận đầu tư kịp thời, các chính sách đầu tư cho con người làm công tác quản lý nhà
nước về văn hóa chưa thật sự được quan tâm, chú trọng.
Trước thực trạng và sự cấp thiết của vấn đề nghiên cứu, trên cơ sở khoa học,
thực tiễn, tiếp thu những công trình khoa học đi trước. Với mục đích nghiên cứu cơ
sở lý luận và thực tiễn công tác quản lý nhà nước về văn hóa, qua đó đề xuất các
giải pháp để hoàn thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với văn
hóa trên địa bàn quận. Vì vậy, tôi chọn “Quản lý nhà nước về văn hóa từ thực tiễn
quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng” làm đề tài luận văn cao học chuyên ngành Luật
hành chính.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về công tác quản lý văn hóa Việt Nam, xây

hóa trên địa bàn quận Sơn Trà hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm
nâng cao hiệu quả của hoạt động này trong điều kiện thực tế hiện nay của địa
phương.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung, vai trò của quản lý nhà nước về văn
hóa; phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về văn hóa ở nước ta
hiện nay;
- Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn quận Sơn Trà,
thành phố Đà Nẵng trong thời gian từ năm 2010 đến nay.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa
trên địa bàn quận Sơn Trà.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật, Thực tiễn hoạt

3


động văn hóa, quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố
Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Quản lý nhà nước về văn hóa là một trong những vấn đề nóng bỏng và có
phạm vi rộng cả về không gian và thời gian. Đề tài tập trung một số nội dung sau:
- Nghiên cứu một số lĩnh vực chủ yếu như: quản lý nhà nước về xây dựng dịch
vụ văn hóa, môi trường văn hóa, gia đình văn hóa, bảo tồn và phát huy các giá trị
văn hóa.
- Phạm vi thời gian: từ năm 2010 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về

văn được kết cấu làm 03 chương:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận của quản lý nhà nước về văn hóa.
Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn quận Sơn Trà,
thành phố Đà Nẵng.
Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa trên địa
bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

5


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA
1.1. Khái niệm, vai trò, đặc điểm của quản lý nhà nước về văn hoá
1.1.1. Khái niệm văn hóa và vai trò của văn hóa
1.1.1.1. Khái niệm văn hóa
Thuật ngữ “văn hóa” đã sớm xuất hiện trong ngôn ngữ của loài người, đặc biệt
là ở các quốc gia được coi là cái nôi của văn minh nhân loại.
Ở phương Đông, từ “văn hóa” xuất hiện sớm trong ngôn ngữ Trung Hoa. Ở
thời kỳ Tây Hán, trước công nguyên, trong bài Chi Vũ sách Thuyết Uyển, Lưu
Hướng đã viết: “Bậc thánh nhân trị thiên hạ, trước dùng “văn đức” rồi “sau mới
dùng vũ lực”. Dùng vũ lực để đối phó với người bắt phục tùng, dùng văn hóa không
thay đổi được thì sau đó sẽ “trừng phạt”. Như vậy, văn hóa được dùng để cải hóa
con người, làm cho con người tốt đẹp hơn.
Ở phương Tây, thuật ngữ “văn hóa” có nguồn gốc từ tiếng Latinh “colere” sau
đổi thành “cultura”, chữ “cultus” chuyển nghĩa thành thờ cúng, “culte” có nghĩa là
khai khẩn đất hoang, vun trồng cây cối, về sau chuyển thành nghĩa vụ trồng trí tuệ.
Như vậy, trong quan niệm cổ truyền, dù ở phương Đông và phương Tây văn
hóa gắn liền với giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, trí tuệ, đào tạo con người, một tập thể
người để cho họ có phẩm chất tốt đẹp, cần thiết cho toàn thể cộng đồng. Có thể dẫn

Định nghĩa này nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo của các cộng đồng người
gắn liền với tiến trình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồng trải qua một thời
gian dài tạo nên những giá trị có tính nhân văn phổ quát, đồng thời có tính đặc thù
của mỗi cộng đồng, bản sắc riêng của từng dân tộc. Định nghĩa còn cho ta thấy
không phải hoạt động nào của con người cũng tạo nên giá trị văn hóa, chỉ có “các
hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại”, trải qua thời gian dài hàng thế
kỷ mới tạo ra được các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu…cái mà người ta có
thể coi là văn hóa của mỗi tộc người. Định nghĩa này còn muốn nhấn mạnh tính
riêng của mỗi nền văn hóa, cỗ vũ cho việc giữ gìn tính đa dạng của văn hóa thế giới,
khuyến cáo nguy cơ suy thoái của các nền văn hóa dễ bị tổn thương trong làn sóng
toàn cầu hóa, hệ lụy của cách thức phát triển kinh tế không tôn trọng yếu tố văn hóa
vì con người. Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào định nghĩa có tính khái quát này, trong
hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa, chúng ta dễ bị hiểu một cách sai lệch: Quản

7


lý văn hóa là quản lý các hoạt động sáng tạo và thu hẹp hơn nữa là quản lý sáng tác
văn học nghệ thuật. Thực tế quản lý văn hóa không phải như vậy, quản lý văn hóa
cấp cơ sở lại càng không phải chỉ có thế.
Theo kết quả nghiên cứu gần đây, một số nhà khoa học cho rằng văn hóa là
sản phẩm đặc trưng của con người và xã hội loài người và văn hóa là một quá trình
con người tác động vào tự nhiên, làm biến đổi tự nhiên một cách có ý thức, có lợi
cho cuộc sống con người. Mặc dù, con người là một động vật cao cấp đặc biệt, có
thể phát minh ra nhiều máy móc, thiết bị tác động vào tự nhiên, làm cho tự nhiên
biến đổi mạnh mẽ, nhưng chúng ta cũng cần nhận thấy rằng: suy cho cùng con
người cũng là sản phẩm của tự nhiên, là kết quả của quá trình tiến hóa của tự nhiên,
do đó con người không thể tách rời thế giới tự nhiên, không thể chi phối được tự
nhiên theo ý muốn chủ quan của mình. Chính vì thế mà con người phải luôn luôn hòa
mình vào tự nhiên, ứng xử một cách thân thiện và thông minh với thế giới xung


Trong định nghĩa này, các nhà khoa học tiếp cận khái niệm văn hóa theo tính
hệ thống được tích hợp thành tổng thể hệ thống các khía cạnh, các nội dung và các
biểu hiện của văn hóa, trong đó nhấn mạnh đến tính giá trị, tính chuẩn mực cũng
như tính sáng tạo và tính nhân văn của văn hóa. Những đặc tính cơ bản và quan
trọng đó luôn luôn được gắn kết với nhau trên nền tảng của sinh hoạt cộng đồng dân
cư trong thực tiễn và trong lịch sử để tạo thành những yếu tố văn hóa bản sắc tiêu
biểu cho từng cộng đồng dân cư.
Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (1998), Đảng ta đã xác định
nền văn hóa mà chúng ta xây dựng bao gồm toàn bộ các hoạt động tinh thần của xã
hội, từ tư tưởng, đạo đức, lối sống tới văn học, nghệ thuật, thông tin đại chúng; giáo
dục - đào tạo; khoa học - công nghệ; bảo tồn di sản văn hóa; văn hóa các dân tộc
thiểu số; xây dựng môi trường văn hóa; giao lưu văn hóa quốc tế…Đây là những
lĩnh vực góp phần tạo nên nền tảng tinh thần của xã hội. Nhìn một cách khái quát,
văn hóa là khái niệm chỉ thuộc tính của con người, là sáng tạo cải tạo hiện thực
vươn tới giá trị nhân văn, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, là dấu hiệu để phân biệt loài
người với loài vật, cá nhân này với cá nhân khác, cộng đồng này với cộng đồng
khác. Đồng thời, đây cũng là khái niệm để chỉ chất lượng và trình độ cuộc sống của
con người.
1.1.1.2. Vai trò của văn hóa
Bác Hồ và Đảng ta đã nhiều lần khẳng định, văn hóa là cốt cách của một dân
tộc, xây dựng văn hóa chính là xây dựng nền tảng tinh thần của một dân tộc. Nền
văn hóa ấy có nhiệm vụ không ngừng nâng cao tố chất đạo đức tư tưởng cũng như
văn hóa, khoa học, kỹ thuật của toàn dân tộc, đào tạo những công dân xã hội chủ
nghĩa có lý tưởng, có đạo đức, có văn hóa, có kỷ luật.
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh: Văn hóa là mục tiêu, động lực của sự
nghiệp cách mạng. Bởi lẽ:
Văn hóa là mục tiêu, có nghĩa là mục tiêu là cái đích cần đạt tới. Mục tiêu của
cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc gắn

các giá trị truyền thống, của đạo lý, dân tộc để hạn chế xu hướng sùng bái hàng hóa,
sùng bái tiền tệ. Hạn chế những tiêu cực này chỉ có thể là văn hóa và chủ yếu bằng
văn hóa. Sự thâm nhập của văn hóa độc hại, của sự lai căng văn hóa, của lối sống

10


thực dụng và những tiêu cực khác của kinh tế thị trường… đã và đang ảnh hưởng,
làm băng hoại những giá trị văn hóa truyền thống, ảnh hưởng tới sự phát triển bền
vững của đất nước…
Trước đổi mới, đất nước ta gặp rất nhiều khó khăn trên lĩnh vực kinh tế - xã
hội. Đại hội VI, Đảng ta đã nghiêm túc nhìn thẳng vào sự sai lầm của cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp mà chúng ta duy ý chí áp dụng một cách máy móc và cũng
thấy sự kìm hãm của cơ chế ấy đối với một xã hội văn hóa.
Trong đường lối đổi mới của mình, vấn đề văn hóa ngày càng được Đảng ta
quan tâm, nhân tố văn hóa đã từng bước tham gia vào sự phát triển kinh tế - xã
hội. Các Đại hội Đảng VII, VIII, IX, X, XI, XII đều đặc biệt quan tâm đến việc
phát huy nguồn nội lực, coi đó là cơ sở của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Vì vậy, các Hội nghị Trung ương 4 khóa VII, Trung ương 2, Trung ương 5,
Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII; Trung ương 5, Trung ương 10 (khóa IX), Trung
ương 9 (khóa XI)…đã ra các Nghị quyết quan trọng về phát triển văn hóa và giáo
dục - đào tạo, khoa học công nghệ, về tư tưởng - lý luận, về xây dựng và chỉnh đốn
Đảng… Các văn kiện của Đảng đã khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã
hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và sự
nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; yêu cầu “bảo đảm sự gắn
kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then
chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội; tạo nên sự
phát triển đồng bộ của ba lĩnh vực trên chính là điều kiện quyết định bảo đảm cho
sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước” (Kết luận Hội nghị lần thứ mười
Ban Chấp hành Trung ương khóa IX); coi phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ là “quốc sách hàng đầu”; “đầu tư cho văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa

Quản lý nhà nước hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ mọi hoạt động của nhà nước
nói chung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ,
chức năng của nhà nước. Theo quan niệm này thì quản lý nhà nước là hoạt động của
tất cả các cơ quan nhà nước từ Quốc hội, Chính phủ đến các cơ quan nhà nước khác
thông qua pháp luật. Nhà nước có thể trao quyền của mình cho các cá nhân hay các
tổ chức xã hội, để các chủ thể đó thay mặt nhà nước tiến hành hoạt động Quản lý
nhà nước.
Mặt khác, quản lý nhà nước còn được hiểu theo nghĩa hẹp đó là quản lý nhà

12


nước trong lĩnh vực hành pháp gọi là quản lý hành chính nhà nước. Quản lý hành
chính nhà nước là một hình thức hoạt động của nhà nước được thực hiện trước hết
và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có nội dung là bảo đảm sự chấp
hành Luật, Pháp lệnh và các Nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ
chức và chỉ đạo thực hiện một cách trực tiếp và thường xuyên đối với công cuộc
xây dựng kinh tế, văn hóa, xã hội, hành chính - chính trị của nước ta.
Quản lý nhà nước về văn hóa là một lĩnh vực cụ thể của khoa học quản lý, đây
là một trong những chức năng cơ bản của nhà nước, là sự quản lý của nhà nước đối
với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua
Hiến pháp, pháp luật và cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo gìn giữ một nền văn hóa
lành mạnh, đậm đà bản sắc dân tộc, đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa dân tộc,
tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội một cách hài hòa, phù
hợp với giá trị truyền thống và văn hóa của đất nước, trong đó pháp luật nổi lên với
tư cách là công cụ có uy lực nhất để đảm bảo vai trò quản lý của Nhà nước.
1.1.2.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước về văn hóa
Thứ nhất, về đối tượng quản lý: Trong lĩnh vực văn hóa, có rất nhiều đối
tượng quản lý mà đòi hỏi Nhà nước cần phải có những cơ chế, chính sách, quy định
phù hợp trong công tác quản lý nhằm đảm bảo khai thác, sử dụng tài nguyên và phát

cho văn hóa tham gia tích cực vào việc thực hiện mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh" của đất nước. Vì vậy, việc quản lý nhà nước về văn
hóa được xã hội hoá một cách tối đa nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong công
tác quản lý văn hóa.
1.1.2.3 Vai trò của quản lý Nhà nước về văn hóa
- Một là, quản lý nhà nước về văn hóa sẽ góp phần định hướng, điều chỉnh sự
phát triển của văn hóa quốc gia, giúp hiện thực hóa các chủ trương, đường lối văn
hóa của Đảng cầm quyền, từ đó tác động đến mục tiêu, bản chất của văn hóa dân
tộc. Quản lý nhà nước về văn hóa sẽ làm cho văn hóa trở thành một tác nhân kích
thích sự phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương. Từ một lĩnh vực bị xem là
chủ yếu mang chức năng giáo dục, tuyên truyền, văn hóa đã dần trở thành một lĩnh
vực có giá trị kinh tế, mang lại lợi nhuận, góp phần nâng cao đời sống người dân,
ổn định an ninh xã hội.
- Hai là, đối với các tổ chức và cá nhân tham gia trong lĩnh vực văn hóa, chủ

14


yếu là kinh doanh mang tính lợi nhuận, do vậy mà ít hoặc không có trách nhiệm,
không cần quan tâm đến đến việc bảo vệ, gìn giữ, bảo tồn tài nguyên văn hóa hiện
có mà khai thác tài nguyên văn hóa một cách càn kiệt, bất chấp mọi thiệt hại liên
quan đến văn hóa dân tộc. Chính vì vậy, Nhà nước có vai trò đối với công tác quản
lý đó là phải tham gia vào việc điều hành, phân phối và sử dụng tài nguyên văn hóa
thông qua việc ban hành pháp luật quy định các về việc gìn giữ, bảo vệ và bảo tồn
tài nguyên văn hóa.
- Ba là, nếu không có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật thì hoạt động
văn hoá sẽ vận động theo hai hướng vừa tích cực, vừa tiêu cực. Vai trò quản lý nhà
nước thể hiện ở chỗ, Nhà nước trên cơ sở nắm bắt những đặc trưng riêng, định
hướng cho hoạt động văn hoá phát triển theo hướng tích cực, lành mạnh, xây dựng
nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng

Đảng lãnh đạo thông qua các quan điểm, chủ trương, chính sách thể hiện trong các
văn kiện, nghị quyết, chỉ thị; thông qua việc xây dựng bộ máy, đội ngũ cán bộ của
Đảng tham gia vào bộ máy chính quyền nhà nước.
Thứ hai, nguyên tắc nhà nước quản lý là thực hiện quyền lực chính trị của nhà
nước trên lĩnh vực văn hóa thể hiện qua Hiến pháp, luật và các văn bản dưới luật để
quản lý, xây dựng bộ máy quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương, ủy ban
văn hóa xã hội của Quốc hội, xây dựng cơ chế chính sách, bộ máy cán bộ công
chức, viên chức nhà nước để thực thi các nhiệm vụ về văn hóa.
Thứ ba, nguyên tắc nhân dân làm chủ thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân
các cấp, các đoàn thể chính trị xã hội…từ đó nhân dân tham gia xây dựng, đóng góp
và giám sát việc thực hiện công tác quản lý văn hóa của nhà nước.
Thứ tư, nguyên tắc phân định quản lý hành chính và quản lý sự nghiệp văn
hóa. Cần phân định rõ chức năng quản lý hành chính nhà nước về văn hóa thông tin
bộ, vụ, cục, UBND tỉnh, sở, phòng…quản lý bằng luật pháp, phi lợi nhuận và chức
năng hoạt động sự nghiệp văn hóa của các đơn vị nghiệp văn hóa từ trung ương đến
địa phương như: nhà hát, các đoàn nghệ thuật, bảo tàng, thư viện, trung tâm văn hóa
thông tin, viện nghiên cứu
1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về văn hoá
Thứ nhất, xây dựng và thực thi hệ thống pháp luật nhằm quản lý thống nhất
các hoạt động văn hóa.

16


Trong sự tồn tại và phát triển của văn hóa thì quản lý văn hóa đóng vai trò rất
quan trọng. Những năm qua, quán triệt tinh thần: “Văn hóa là nền tảng tinh thần
của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước” của Đảng, hoạt
động quản lý văn hóa ở Việt Nam đã có những kết quả khả quan. Việc xây dựng,
hoàn thiện thể chế văn hóa ngày càng được Đảng và Nhà nước ta kịp thời kiện toàn
theo hướng thiết thực, hiệu quả, đã xoá bỏ những quy định, thủ tục không còn phù


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status