Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở ở phường Qua thực tiễn phường Văn Quán, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội - Pdf 39

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN THANH THY

THựC HIệN PHáP LUậT
Về DÂN CHủ CƠ Sở ở PHƯờNG - QUA THựC TIễN
PHƯờNG VĂN QUáN, QUậN Hà ĐÔNG, THàNH PHố Hà NộI

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2016


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN THANH THY

THựC HIệN PHáP LUậT
Về DÂN CHủ CƠ Sở ở PHƯờNG - QUA THựC TIễN
PHƯờNG VĂN QUáN, QUậN Hà ĐÔNG, THàNH PHố Hà NộI

Chuyờn ngnh: Lut Hin phỏp - Lut Hnh chớnh
Mó s: 60 38 01 02

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: TS. NGUYN MU TUN

H NI - 2016


1.1.1.

Khái niệm ......................................................................................................7

1.1.2.

Đặc điểm ......................................................................................................13

1.1.3.

Nội dung ......................................................................................................14

1.2.

Khái niệm, đặc điểm, nội dung, hình thức thực hiện pháp luật về
dân chủ ở cơ sở...........................................................................................14

1.2.1.

Khái niệm ....................................................................................................14

1.2.2.

Đặc điểm ......................................................................................................16

1.2.3.

Nội dung ......................................................................................................19


Thể chế ........................................................................................................30

1.4.2.

Sự lãnh đạo của tổ chức Đảng cơ sở ...........................................................31


1.4.3.

Tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân trong hoạt động của chính
quyền cấp xã ................................................................................................33

1.4.4.

Sự phối hợp của Mặt trật Tổ quốc và các đoàn thể cấp xã ..........................34

1.4.5.

Trình độ, năng lực, uy tín của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ...............35

1.4.6.

Đặc điểm địa bàn dân cư, trình độ dân trí ...................................................36

1.5.

Các tiêu chí đánh giá chất lƣợng thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở ....37

1.5.1.


2.1.3.

Tình hình khiếu nại, tố cáo ..........................................................................49

2.1.4.

Tình hình vi phạm pháp luật trên địa bàn phường ......................................50

2.2.

Về quá trình thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại phƣờng
Văn Quán, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội ........................................52

2.2.1.

Quá trình triển khai thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ s ở tại phường
Văn Quán, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội .............................................52

2.2.2.

Hoạt động của Ban chỉ đạo xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở ............56

2.2.3.

Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong
việc chỉ đạo, hướng dẫn và phối hợp thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở .......57

2.3.

Kết quả thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở tại phƣờng (theo

xã phường thị trấn nói riêng ........................................................................66

3.1.2.

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị và các tầng lớp
nhân dân về vị trí, vai trò quan trọng việc thực hiện pháp luật dân chủ ở
cơ sở .............................................................................................................67

3.1.3.

Mở rộng dân chủ phải đảm bảo trật tự, kỷ cương, trong khuôn khổ
Hiến pháp và pháp luật ................................................................................68

3.1.4.

Thực hiện pháp luật dân chủ ở cấp xã gắn với đẩy mạnh học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và các phong trào thi đua
yêu nước ......................................................................................................68

3.1.5.

Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phòng, chống quan liêu,
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ở cơ sở ........................................................69

3.2.

Một số giải pháp .........................................................................................70

3.2.1.


Hiện đại hóa

HĐND:

Hội đồng nhân dân

HTX:

Hợp tác xã

MTTQ:

Mặt trận Tổ quốc

QCDC:

Quy chế dân chủ

TDP:

Tổ dân phố

UBND:

Ủy ban nhân dân

XHCN:

Xã hội chủ nghĩa


xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc
về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông
dân và đội ngũ trí thức” [46, Điều 2].
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ để lại nhưng kiến giải sâu sắc về dân chủ
và thực hành dân chủ mà Người còn trực tiếp nêu gương về lối ứng xử dân chủ đối
với con người trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống. Lúc sinh thời, Người đã
từng nhấn mạnh “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân, là chìa khóa vạn
năng để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội” [28, tr.8, 279].
Xác định đúng đắn tầm quan trọng và vai trò to lớn của dân chủ, trong bất kỳ
giai đoạn nào, Đảng và Nhà nước ta đều nhận thức việc thực hành dân chủ rộng rãi sẽ
tạo nên sức mạnh to lớn, đảm bảo sự thành công của cách mạng Việt Nam. Nhằm phát
huy đầy đủ, hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp công nghiệp hóa
(CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước, ngày 18/2/1998 Bộ Chính trị, Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa VII) đã ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW về
việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ (QCDC) ở cơ sở. Chỉ thị đã xác định:
...để giữ vững và phát huy được bản chất tốt đẹp của Nhà nước,
tham gia kiểm kê, kiểm soát Nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái,
quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng. Khâu quan trọng và cấp bách
trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực
tiếp thực hiện quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực
hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực
hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất [7].
Sau khi Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW, để cụ thể hóa các chủ
trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành các Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày

1


11/5/1998 (sau được sửa đổi bằng Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 7/7/2003)
kèm theo Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn quy định các nội dung,

pháp luật về dân chủ cơ sở, tham mưu với các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương
để góp phần phát huy dân chủ ở Văn Quán.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề về dân chủ, dân chủ cơ sở, thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở là
vấn đề xoay quanh quyền làm chủ của người dân nên việc nghiên cứu vấn đề này
vừa có ý nghĩa thiết thực lại mang tính thời sự. Bởi đối với Việt Nam nói riêng và
thế giới nói chung, quyền con người, quyền công dân ngày càng được tôn trọng và
bảo vệ. Đây là những quyền cơ bản được thể hiện hầu hết trong các bản hiến pháp
của nhiều quốc gia trên thế giới. Hơn nữa, xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở
cơ sở là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nên có rất nhiều
công trình khoa học, sách, báo, tạp chí đề cập đến vấn đề này, đặc biệt là dân chủ ở
cấp xã. Có thể kể đến một số công trình có giá trị như:
- Quy chế thực hiện dân chủ cấp xã – một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 của PGS.TS. Dương Xuân Ngọc. Tác giả đã làm
rõ được ý nghĩa và tầm quan trọng của quy chế thực hiện dân chủ cấp xã trên cả hai
mặt lý luận và thực tiễn.
- Quá trình thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở một số tỉnh đồng bằng sông
Hồng hiện nay, đề tài khoa học cấp bộ năm 2002 – 2003, của TS. Nguyễn Thị Ngân.
Tác giả tiến hành đi sâu nghiên cứu về thực trạng việc thực hiện quy chế dân chủ
(QCDC) cơ sở ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng và từ đó đề xuất những giải pháp nhằm
đẩy mạnh và hoàn thiện việc thực hiện QCDC ở khu vực đồng bằng sông Hồng.
- Thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay: vấn đề đặt ra và giải pháp, Tạp chí
lý luận Chính trị, số 9/2004 của PGS.TS. Trần Khắc Việt. Tác giả chỉ ra những vấn
đề nảy sinh trong quá trình thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội ở nước ta, đồng
thời đề ra giải pháp nhằm tiếp tục phát huy dân chủ.
Ngoài ra còn có một số luận văn, luận án đề cập đến vấn đề này như:
- “Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn các
tỉnh Tây Nguyên” (2014) của Đỗ Văn Dương, Học viện chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh.


- Đưa ra quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về
dân chủ cơ sở để đẩy mạnh việc thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn
phường Văn Quán.

4


4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở.
Dân chủ ở cơ sở có phạm vi điều chỉnh rất rộng: xã, phường, thị trấn, cơ
quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp, tổ chức, hợp
tác xã,… Pháp luật về dân chủ ở cơ sở cũng được quy định trong rất nhiều các văn
bản pháp luật khác nhau, điển hình như Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày
20/4/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị
trấn (Pháp lệnh này thay thế Nghị định số 79/2003/NĐ-CP của Chính phủ ban hành
Quy chế thực hiện dân chủ ở xã); Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013 của
Chính phủ về Quy định chi tiết Khoản 3 Điều 63 của Bộ luật Lao động về thực hiện
quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc (Nghị định này thay thế Nghị định số
07/1999/NĐ-CP về ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước
và nghị định số 87/2007/NĐ-CP ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở công ty cổ
phần, công ty trách nhiệm hữu hạn); Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/1/2015 của
Chính phủ về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và
đơn vị sự nghiệp công lập (Nghị định này thay thế Nghị định số 71/1998/NĐ-CP về
ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan),… Đây là những
văn bản đ ể thực hiện và thể chế hóa quan điểm của Chỉ thị 30/CT–TW ngày
18/12/1998 của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiê ̣n quy chế dân chủ ở cơ sở . Sự
ra đời của quy chế dân chủ cơ sở là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo
cho các quy định của Hiến pháp được thực hiện trên thực tế, giúp nhân dân nắm
vững và thực hiện được các quyền dân chủ của mình. Nhưng để đánh giá rõ nét nhất
việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở thì xã, phường, thị trấn là loại hình cơ

7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn được chia thành
3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở ở Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở tại phường
Văn Quán, Quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
Chương 3: Quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về
dân chủ ở cơ sở tại phường Văn Quán, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

6


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
1.1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung pháp luật về dân chủ ở cơ sở
1.1.1. Khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm dân chủ, khái niệm về dân chủ cơ sở
a/ Khái niệm dân chủ:
Thuật ngữ “dân chủ” ra đời từ thời Hy Lạp cổ đại, khoảng thế kỷ thứ VII-VI
trước công nguyên. Theo tiếng Hy Lạp cổ, dân chủ là do hai từ hợp thành, “demos”
là nhân dân và “kuatos” là quyền lực hay chính quyền. “Demoskratia” – dân chủ có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân. Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa:
“Dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận
nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do.
Dân chủ cũng được vận dụng vào các tổ chức và hoạt động của những tổ chức và
thiết chế xã hội nhất định” [37].
Như vậy, dân chủ được coi là tiêu chí đánh giá cách thức, trình độ tổ chức và
thực hiện quyền lực nhà nước đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Song vấn đề dân chủ luôn là vấn đề phức tạp, có nội dung rộng lớn, luôn luôn mới,
gắn với những tiến bộ về lịch sử và văn hóa của loài người. Để nghiên cứu, hiểu rõ

của Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân.
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ XHCN:
Dân chủ theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin là một hiện tượng
lịch sử gắn liền với xã hội có giai cấp và được biến đổi dưới nhiều hình thức
khác nhau trong điều kiện tương ứng của các hình thái kinh tế - xã hội. Trong xã
hội XHCN, “dân chủ” có một chất lượng mới do được phát triển đầy đủ trên cơ
sở một nền kinh tế phát triển cao, nhờ đó con người được giải phóng và phát
triển toàn diện. Trong đó, “sự phát triển của mỗi người là điều kiện phát triển tự
do của tất cả mọi người” [8, tr.51].
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin dân chủ trước hết là một hình thức Nhà nước.
V.I Lênin viết: “Chế độ dân chủ, đó là một Nhà nước thừa nhận việc thiểu số phục
tùng đa số, nghĩa là sự tổ chức đảm bảo cho một giai cấp thi hành bạo lực một cách

8


có hệ thống chống lại giai cấp khác” [40, tr.101]. Vì vậy, dân chủ luôn mang tính
giai cấp, nó tồn tại và biến đổi cùng với sự biến đổi của cuộc đấu tranh giai cấp và
sự thay đổi của phương thức sản xuất chủ yếu của xã hội. Dân chủ XHCN là một
hiện tượng hợp quy luật, là bước phát triển cao hơn về chất so với các kiểu dân chủ
khác và bản chất của dân chủ XHCN là giải phóng con người, để con người có thể
thực hiện được những quyền tự nhiên của mình, tự làm chủ vận mệnh và quyết định
những vấn đề xã hội. Theo C.Mác, dân chủ XHCN thực chất là chế độ “do nhân dân
tự quy định Nhà nước”, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực Nhà nước. Nhân
dân tự tổ chức quyền lực nhà nước qua bầu cử, tham gia quản lý và quyết định
những vấn đề quan trọng, kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước thông qua
hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Lênin đã khái quát quyền dân chủ
trong lĩnh vực chính trị của dân thành ba nội dung lớn: quyền bầu cử, quyền tham
gia quản lý các công việc của Nhà nước và quyền bãi miễn.
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, dân chủ XHCN có những đặc điểm cơ bản sau:

thể thay đổi về số lượng, chất lượng và đối tượng tùy theo tính chất của một xã hội
trong từng thế kỷ, từng nấc thang phát triển nhất định. Có thể nói, khái niệm dân
đồng nhất với khái niệm nhân dân, dân chúng, quần chúng nhân dân. Và việc thực
hiện cho được “dân là chủ, dân làm chủ” đấy chính là thực hiện sứ mệnh lịch sử, vai
trò to lớn của quần chúng nhân dân, bởi vì quần chúng nhân dân là lực lượng cơ bản
của mọi cuộc cách mạng, là người trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất và sáng tạo
ra những giá trị tinh thần, nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của nhân loại.
b/ Khái niệm dân chủ cơ sở:
Quần chúng nhân dân là những người trực tiếp sản xuất ra những giá trị vật
chất và sáng tạo ra giá trị tinh thần. Trong lao động và sinh sống, nhân dân luôn gắn
bó mật thiết với một đơn vị, một tổ chức, một địa bàn dân cư nhất định. Bất cứ một
tổ chức nào, xét theo hệ thống cấu trúc, cũng bao gồm hệ thống cấu trúc từ nhỏ đến
lớn. Những cấu trúc nhỏ nhất trong một hệ thống có tư cách như một chỉnh thể
tương đối hoàn chỉnh, độc lập, là nền tảng cho toàn bộ hệ thống được gọi là cơ sở.
Cơ sở là “tế bào” của hệ thống. Bất cứ một công dân, một thành viên nào của tổ
chức cũng đều gắn bó và sinh sống, lao động, học tập ở một cơ sở nhất định trong
hệ thống. Đó chính là xã, phường, cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế cơ sở...
nơi diễn ra các quan hệ nhiều mặt giữa các tầng lớp nhân dân. Hệ thống chính trị

10


của nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên
tắc cơ bản của nền dân chủ XHCN, được tổ chức thành 4 cấp: trung ương, tỉnh,
huyện và xã (cơ sở) là cấp cuối cùng. Xã, phường, thị trấn là nơi trực tiếp thực hiện
đường lối của Đảng trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa trong thực tiễn
khách quan. Dân chủ, với ý nghĩa tối cao nhất là quyền tự nhiên của con người được
thực hiện trước hết là ở cơ sở. Dân chủ cơ sở là nhân dân có quyền được biết, được
bàn và được tham gia giải quyết và kiểm tra giám sát mọi hoạt động diễn ra ở cơ sở.
1.1.1.2. Khái niệm pháp luật về dân chủ ở cơ sở

Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

. Vì vậy Pháp lu ật giữ vai

trò hế t sức quan tr ọng, vừa là phương ti ện để nhân dân phát huy quyền làm chủ,
thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình . Vừa là nhân t ố điều chỉnh các quan hệ xã
hội, nó luôn tác động và ảnh hưởng rất mạnh mẽ tới các quan hệ xã hội trong đó
có các quan hệ giữa các cá nhân công dân với Nhà nước, giữa công dân với nhau
trong đời sống xã hội.
Dân chủ là mô ̣t hình th ức nhà nước, gắn liền với nhà nước và chỉ xuất hiện
khi trước đó đã tồn tại ba yếu tố : nhân dân, quyền lực công cộng và mối quan hệ
giữa chúng. Do đó người ta có thể đề cập đến nhà nước mà không có dân chủ,
nhưng không thể đề cập đến dân chủ mà không có nhà nước. Dân chủ là thuộc tính
của Nhà nước XHCN, việc tăng cường hiệu lực và phát huy vai trò của Nhà nước
trong quản lý mọi mặt của đời sống xã hội luôn gắn liều với quá trình thực hiện và
mở rộng dân chủ XHCN
Dân chủ phải gắn với pháp luật, phải được thể hóa thành pháp luật. Chính
pháp luật là điều kiện, là cơ sở để đảm bảo cho dân chủ được thực hiện. Những
quyền tự do dân chủ của công dân phải được quy định cụ thể trong pháp luật, Nhà
nước phải đảm bảo cho công dân thực hiện các quyền đó trong khuôn khổ luật định,
đồng thời pháp luật cũng quy định những nghĩa vụ tương ứng mà công dân phải
thực hiện để đảm bảo trật tự kỷ cương xã hội.
Trên cơ sở phân tích nhà nước, pháp luật, dân chủ và mối quan hệ giữa
chúng có thể hiểu pháp luật về dân chủ là những quy tắc xử sự do Nhà nước ban
hành và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc
thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.
Từ đó suy ra pháp luật về dân chủ ở xã , phường, thị trấn là nh ững quy tắc

12



13


viên và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh, theo định hướng XHCN.
- Thứ bảy, pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở thể hiện yêu cầu dân chủ phải
trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật; đi đôi với trật tự kỷ cương; quyền đi
đôi với nghĩa vụ; kiên quyết xử lý những hành vi lợi dụng dân chủ, vi phạm Hiến
pháp, pháp luật, xâm phạm lợi ích của nhà nước, lợi ích của tập thể, quyền tự do
dân chủ và lợi ích hợp pháp của công dân
1.1.3. Nội dung
Pháp luật về thực hiện dân chủ cũng có nội dung điều chỉnh riêng. Tại điều 1
Pháp lệnh số 34/2007/PL – UBTVQH ngày 20 tháng 4 năm 2007 về thực hiện dân
chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn có ghi:
Pháp lệnh này quy định những nội dung phải công khai để nhân dân biết;
những nội dung nhân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý
kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám
sát; trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn (sau đây
gọi chung là cấp xã), của cán bộ thôn, làng, ấp, bản, phun, sóc (sau đây gọi chung
là thôn), tổ dân phố, khu phố, khối phố (sau đây gọi chung là tổ dân phố), của các
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và của nhân dân trong việc thực hiện dân
chủ cấp xã.
Như vậy, căn cứ vào quy định đó ta có thể thấy nội dung điều chỉnh của pháp
luật thực hiện dân chủ cơ sở cấp xã rất rộng nhưng tất cả là để nhằm đảm bảo mục
tiêu: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đảm bảo nguyên tắc “dân làm gốc”,
đảm bảo dân chủ XHCN.
1.2. Khái niệm, đặc điểm, nội dung, hình thức thực hiện pháp luật về
dân chủ ở cơ sở
1.2.1. Khái niệm

Theo giáo trình Lý luận chung Nhà nước và pháp luật của Trường Đại học
Luật Hà Nội: “Thực hiện pháp luật được quan niệm là quá trình hoạt động có mục
đích làm cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi
thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [48, tr.463].
Theo Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Viện Nhà nước
và pháp luật - Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh: “Thực hiện
pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích là cho những quy phạm pháp luật trở
thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực hiện của
các chủ thể pháp luật” [30, tr.270].
Theo Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Khoa Luật – Đại
học Quốc gia Hà Nội: “Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích
làm cho những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [39, tr. 494].
Nhìn chung các định nghĩa nêu trên đều có nội dung tương đối giống nhau,
theo đó, thực hiện pháp luật là hoạt động (việc, quá trình) nhằm thực hiện những

15


yêu cầu của pháp luật, làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực
trong cuộc sống. Trong quan hệ với cơ sở, thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã,
phường, thị trấn là hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật về
thực hiện dân chủ ở cấp xã đi vào cuộc sống nhằm mở rộng và phát huy quyền làm
chủ của nhân dân, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN thực sự là của
dân, do dân và vì dân.
Thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở được thực hiện theo nguyên tắc: đảm
bảo trật tự kỷ cương, đảm bảo quyền của nhân dân được biết, được bàn, được tham
gia ý kiến, quyết định, thực hiện và giám sát việc thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở để
bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; công
khai, minh bạch trong quá trình thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở đảm bảo sự lãnh đạo
của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Hiện nay, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ

đô ̣ng sinh hoa ̣t hàng ngày của chính người dân ở thôn , tổ dân phố . Chính vì vậy mà
viê ̣c thực hiê ̣n pháp luâ ̣t về dân chủ ở xã, phường, thị trấn là hoạt động mang tính
thường xyên, liên tu ̣c. Sự hiê ̣n hữu của xã , phường, thị trấn lúc này đóng vai trò là
đại diện cho nhà nước để giám sát , kiểm tra việc thực hiện dân chủ (dân chủ bán
trực tiếp). Để phát huy tốt vấn đề dân chủ ở xã cần phải nghiên cứu thiết chế thôn,
làng và sự tác động của nó tới phát huy dân chủ ở xã, tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu
về tính đặc thù về văn hoá truyền thống, điều kiện kinh tế tự nhiên, tổng kết việc
xây dựng hương ước, qui ước.
Thứ hai, Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấ n được triển
khai trên địa bàn rộng lớn nhất so với các loại hình cơ sở khác.
Hiê ̣n nay pha ̣m vi điề u chỉnh của pháp luâ ̣t về thực hiê ̣n dân chủ đươ ̣c thể
hiê ̣n chủ yế u ở 3 văn bản : Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội về thực hiện dân chủ ở xã , phường, thị trấn; Nghị định số 60/2013/NĐCP của Chính phủ quy đinh
̣ chi tiế t Khoản 3 Điề u 63 của Bộ luật Lao động về thực
hiê ̣n quy chế dân chủ ở cơ sở ta ̣i nơi làm viê ̣c

(gọi tắt là Nghị định số 60/2013) và

Nghị định số 04/2015/NĐ-CP của Chính phủ về thực hiê ̣n dân chủ trong hoa ̣t đô ̣ng
của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập . Đây là 3 loại hình
cơ sở đang đươ ̣c pháp luâ ̣t điề u chin
̉ h . Trong đó xã , phường, thị trấn là loại hình
tiêu biể u về mo ̣i mă ̣t , là loại hình có ph ạm vi rô ̣ng lớn nhấ t . Ở nước ta từ trước đến
nay xã , phường, thị trấn là nơi tập trung các hoạt động sống , lao đô ̣ng, sinh hoa ̣t của
tuyê ̣t đa ị đa số các tầ ng lớp nhân dân . Nế u xã , phường, thị trấn bao gồm nơi nhân
dân sinh số ng , học tập và làm việc thì các loại hình còn lại chỉ đáp ứng

1 trong số

các yếu tố này . Có thể so sánh đơn giản thế này, diện tích và số lượng dân cư tập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status