Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Bình - Pdf 34

Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa
bàn tỉnh Quảng Bình
Trần Công Trung
Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Lý luận, Lịch sử Nhà nƣớc và pháp luật; Mã số: 60 38 01
Ngƣời hƣớng dẫn: GS.TS Ngô Thị Kim Quế
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Phân tích những vấn đề lý luận về dân chủ ở cơ sở và thực hiện pháp luật về
dân chủ ở cơ sở cơ sở. Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên
địa bàn tỉnh Quảng Bình, những mặt đã đạt đƣợc, những tồn tại hạn chế, nguyên nhân của
những hạn chế. Đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm đẩy mạnh việc thực hiện pháp
luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới.
Keywords: Dân chủ cơ sở; Pháp luật Việt Nam; Quảng Bình

Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ là một khái niệm, một chế độ chính trị, sự thể hiện quyền lực của quần chúng
nhân dân có từ thời thế giới cổ đại. Dân chủ là một hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã
hội, trong đó thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thông qua một hệ thống bầu cử tự
do.
Quan điểm về dân chủ đã có từ rất lâu, tuy nhiên những quan điểm đó không phải khi nào
cũng đồng nhất, chỉ có một điểm rằng tất cả các quan điểm nói về dân chủ luôn đề cao vai trò
của quần chúng nhân dân. Dân chủ và cuộc đấu tranh vì dân chủ, hòa bình, độc lập dân tộc, hợp
tác và phát triển là một xu thế lớn của thời đại. Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Dân
chủ là dân là chủ và dân làm chủ". Một chế độ dân chủ rộng rãi, một chế độ dân chủ thực sự là
tất cả quyền lực đều thuộc về nhân dân lấy nhân dân làm trung tâm. Nhân dân là điểm xuất phát
cũng đồng thời là điểm kết thúc của mọi quyền lợi.
Nhận thấy, trong giai đoạn hiện nay, khi thực hiện tốt vấn đề dân chủ sẽ đảm bảo đƣợc các
vấn đề mà theo tác giả đây là những vấn đề hết sức cần thiết và tác giả cũng nhận thấy đây là điểm
nhấn của luận văn, điểm mới mà các công trình nghiên cứu trƣớc về đề tài dân chủ rất ít đề cập tới

cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn đƣợc tiến hành trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh, quan điểm, đƣờng lối của Đảng về nhà nƣớc và pháp luật, về thực hiện dân chủ ở cơ sở.
- Luận văn đƣợc thực hiện dựa trên phƣơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử, trong đó sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể, nhƣ: phân tích tổng hợp, thống
kê và so sánh, phƣơng pháp lịch sử và logic…
6. Đóng góp của luận văn
- Góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về dân chủ ở cơ sở và thực hiện pháp luật về
dân chủ ở cơ sở.
- Làm rõ thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
với những thành công, hạn chế.
- Nêu quan điểm và một số giải pháp có tính khả thi để nâng cao chất lƣợng thực hiện
pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn hiện nay.


7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3
chƣơng.
Chương1: Cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở.
Chương 2. Thực trạng thự hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng
Bình.
Chương 3. Phƣơng hƣớng và giải pháp thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn
tỉnh Quảng Bình

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
1.1. NHẬN THỨC VỀ DÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY
DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN, BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI TRONG NHÀ NƢỚC



doanh nghiệp, tổ chức kinh tế cơ sở…nơi diễn ra các quan hệ nhiều mặt giữa các tầng lớp nhân
dân. Hệ thống chính trị của nƣớc ta đƣợc tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân
chủ, nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đƣợc tổ chức thành 4 cấp: trung ƣơng,
tỉnh, huyện và xã (cơ sở) là cấp cuối cùng.
1.1.1.2. Khái niệm pháp luật về dân chủ cơ sở
Pháp luật về dân chủ là những quy tắc xử sự do Nhà nƣớc ban hành và đảm bảo thực
hiện, điều chỉnh những quan hệ phát sinh giữa Nhà nƣớc, các tổ chức chính trị, chính trị xã hội,
tổ chức kinh tế và công dân nhằm đảm bảo cho công dân thực hiện quyền làm chủ trong các lĩnh
vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
1.1.2. Nội dung pháp luật về dân chủ ở cơ sở
Nội dung pháp luật về dân chủ ở cơ sở là sự cụ thể hóa các quyền, các giá trị của dân chủ đã
đƣợc quy định trong Hiến pháp. Đó là các quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đó có
quyền tự do bầu cử và ứng cử (Điều 54), quyền của nhân dân lao động đƣợc tham gia vào quản lý
Nhà nƣớc (Điều 53), quyền tự do ngôn luận, quyền đƣợc thông tin (Điều 69), quyền của nhân dân
đƣợc kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy và cán bộ công chức Nhà nƣớc ( Điều 8), quyền bình
đẳng nam nữ (Điều 63)…
Sau một quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, để nâng cao giá trị pháp lý của các
quy định về dân chủ ở cơ sở, UBTVQH đã ban hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phƣờng,
thị trấn (thay thế Nghị định 79/2003/NĐ-CP) số 34/2007/PL-UBTVQH11 gồm có các nội dung:
Một là, những nội dung cần công khai để dân biết
Hai là, những nội dung nhân dân đƣợc bàn và quyết định trực tiếp
Ba là, những nội dung, hình thức mà nhân dân bàn, biểu quyết, tham gia ý kiến để cấp có
thẩm quyền quyết định
Bốn là, những nội dung nhân dân giám sát
Năm là, trách nhiệm tổ chức thực hiện dân chủ cơ sở
1.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC HÌNH THỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
1.2.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở

theo.
1.2.3. Hình thức thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở
Dân chủ đại diện là việc nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua các cơ
quan, tổ chức đại diện cho họ theo nghĩa rộng. Các cơ quan, tổ chức đại diện cho quyền lực và
quyền làm chủ của nhân dân bao gồm: Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, các cơ quan nhà
nƣớc khác, các đoàn thể, các tổ chức xã hội.
Dân chủ trực tiếp là hình thức thể hiện ý chí trực tiếp, có nghĩa là nhân dân trực tiếp làm
chủ, trực tiếp tham gia xây dựng và quản lý Nhà nƣớc ở xã, phƣờng. Trƣng cầu ý dân; chế độ bầu
và bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; hỏi ý kiến nhân dân, đƣa ra thảo luận
các chủ trƣơng, chính sách, các quyết định quản lý; khiếu nại, tố cáo, giải quyết khiếu tố của nhân
dân; chế độ công khai, báo cáo công việc trƣớc nhân dân của cơ quan nhà nƣớc, cán bộ công chức
nhà nƣớc; nhân dân bàn và quyết định trực tiếp những vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục,
y tế, an ninh trật tự trên địa bàn địa phƣơng, cơ sở; chế độ tự phê bình trƣớc dân; tiếp nhận và giải
quyết đơn thƣ khiếu tố, đơn thƣ dân nguyện; xây dựng chế độ và các tổ chức tự quản đời sống
cộng đồng, tập thể.
1.3. VAI TRÒ CỦA VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở XÃ,
PHƢỜNG
1.3.1. Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở góp phần mở rộng dân chủ, đảm bảo
các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.
Thứ nhất, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở góp phần hiện thực hóa các quan điểm,
chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về dân chủ trong thực tiễn đời sống của nhân dân
ở cơ sở
Thứ hai, thực hiện pháp luật dân chủ ở xã, phƣờng là phƣơng thức quản lý đảm bảo trên
thực tế các quyền dân chủ của nhân dân. Nhân dân đƣợc hƣởng quyền chính trị cơ bản nhất của
ngƣời công dân: quyền bầu cử.
Thứ ba, thông qua thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở giúp Đảng và Nhà nƣớc hoàn
thiện đƣờng lối, chính sách về dân chủ nói chung, dân chủ ở cơ sở nói riêng.
1.3.2. Vai trò của thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở đối với hoạt động của
chính quyền cơ sở.
Thứ nhất, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở xã, phƣờng, thị trấn vừa là điều

. Quảng Bình có đến 85% diện tích là đồi núi và đƣờng bờ biển dài 116,04 km. Biên
giới với nƣớc bạn Lào 201,17 km. Có 159 xã, phƣờng, thị trấn với 84,86% dân số sống ở
nông thôn. Ở Quảng Bình tồn tại 10 tộc ngƣời cùng sinh sống trong đó đồng bào dân tộc ít
ngƣời có trên 20.000 ngƣời sống tại 105 bản của 15 xã, đồng bào thiên chúa giáo có 94.000
ngƣời tồn tại trong 66 xã, 180 tín đồ phật tử và 1.670 ngƣời có tín ngƣỡng phật giáo. Toàn
tỉnh có 606 tổ chức cơ sở đảng với 58.500 đảng viên, có 150 cơ quan hành chính sự nghiệp,
582 trƣờng học; 2.946 doanh nghiệp trong đó có 27 doanh nghiệp nhà nƣớc, 2.919 doanh
nghiệp ngoài quốc doanh trong đó có 57 doanh nghiệp ngoài quốc doanh có tổ chức đảng với
1.289 đảng viên, 163 doanh nghiệp ngoài quốc doanh có tổ chức công đoàn…
2.2. QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN
CHỦ Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH.
2.2.1. Quá trình triển khai thực hiện pháp lệnh dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh
Quảng Bình
2.2.1.1. Tình hình cơ sở xã, thị trấn trước khi triển khai thực hiện pháp lệnh dân chủ
ở cơ sở
Năm 1998 trở về trƣớc, sau hơn 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nƣớc cơ chế
chính sách của Đảng, Nhà nƣớc, địa phƣơng từng bƣớc đƣợc đổi mới trên các lĩnh vực: Kinh tế,
xã hội nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần trong nhân dân và giữ vững ổn định anh ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh. Quảng Bình từ một trong những tỉnh nghèo nhất
cả nƣớc đã thay da đổi thịt. Tƣ tƣởng độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ đã giảm nhiều.
2.2.1.2. Tình hình tổ chức triển khai thực hiện pháp lệnh dân chủ cơ sở
Thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII), Ban
thƣờng vụ Tỉnh ủy đã xây dựng kế hoạch số 15-KH/TU, ngày 28/05/1998 về tổ chức quán triệt
và thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, tỉnh tổ chức
Hội nghị quán triệt trong đội ngũ cốt cán đã chọn 03 đơn vị làm điểm chỉ đạo quán triệt, triển
khai là huyện Quảng Ninh, xã Đại Trạch (Bố Trạch), phƣờng Đồng Sơn (Đồng Hới). Các huyện,
thành phố, đảng bộ trực thuộc đều quán triệt, triển khai, chọn điểm chỉ đạo thực hiện ở cơ sở.


Sau sơ kết 3 năm, Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng ra Chỉ thị số 10-CT/TW về tiếp tục chỉ đạo, tổ

nƣớc, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội ; quy hoạch đất đai; các chƣơng trình, dự án liên quan
đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội, thu chi ngân sách, đóng góp các loại quỹ, các
chế độ chính sách liên quan trực tiếp đến lợi ích của dân…..
Đối với những việc nhân dân bàn và trực tiếp quyết định đã đƣợc chính quyền cơ sở phối
hợp với Mặt trận, các đoàn thể tổ chức thực hiện khá tốt trong đó nhân dân bàn bạc quyết định
trực tiếp chủ trƣơng và mức đóng góp để xây dựng các công trình điện đƣờng, trƣờng học, trạm
xá, nhà văn hóa thôn, bản theo phƣơng châm Nhà nƣớc và nhân dân cùng làm đƣợc nhân dân
đồng tình và thực hiện tự giác, có hiệu quả.
Thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của cơ quan
Việc thực hiện Nghị định 71/1998/NĐ-CP của Chính phủ về Quy chế dân chủ trong hoạt
động của các cơ quan đã có nhiều chuyển biến tích cực. Hầu hết các cơ quan đã quán triệt
nghiêm túc và tổ chức thực hiện tốt các nội dung của Nghị định. Đồng thời cụ thể hóa nghị định
để xây dựng các nội quy, quy chế phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện cụ thể của từng
cơ quan để thực hiện có hiệu quả.
Thực hiện Quy chế dân chủ trong doanh nghiệp
Thực hiện Nghị định số 07/1999/NĐ-CP, Nghị đinh số 87/2007/NĐ-CP về thực hiện Quy
chế dân chủ trong doanh nghiệp, Giám đốc, Chủ tịch Hội đồng quản trị ở nhiều doanh nghiệp đã


quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Trong những năm gần đây, hầu hết các doanh nghiệp nhà
nƣớc đƣợc cổ phần hóa, nhiều doanh nghiệp chuyển qua công ty cổ phần, công ty trách nhiệm
hữu hạn….sản xuất kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau, địa bàn hoạt động của một số
doang nghiệp rộng. Trong cơ chế mới, không ít doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất, kinh
doanh, giải quyết việc làm cho nhiều lao động.
Các mặt đạt được khi thực hiện QCDC
Kinh tế ổn định và tăng trƣởng; sản xuất nông nghiệp, vụ Đông Xuân đƣợc mùa; sản xuất
công nghiệp gặp nhiều khó khăn, nhƣng vẫn tăng trƣởng so cùng kỳ; dịch vụ, du lịch phát triển;
cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội đƣợc chú trọng đầu tƣ, nhất là một số công trình trọng điểm; các
lĩnh vực văn hóa, xã hội có những chuyển biến tiến bộ; quốc phòng - an ninh đƣợc tăng cƣờng,
trật tự an toàn xã hội đƣợc giữ vững; công tác an sinh xã hội đƣợc chú trọng, đời sống nhân dân

Một số cán bộ, đảng viên và nhân dân chƣa gƣơng mẫu thực hiện QCDC, nhất là trong việc
thực hiện nghĩa vụ công dân, dân chủ chƣa đi đôi với kỉ cƣơng pháp luật, thậm chí còn lợi dụng dân
để khiếu kiện đông ngƣời, gây rối trật tự, làm mất ổn định tình hình ở một số địa phƣơng, đơn vị.
Vai trò Mặt trận, các đoàn thể đối với việc tham gia xây dựng và thực hiện QCDC chƣa
đƣợc phát huy đầy đủ và thƣờng xuyên, việc phối hợp thực hiện QCDC cơ sở với các cấp, các
ngành chƣa đồng bộ, thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận, các
đoàn thể còn hạn chế. Công tác tuyên truyền vận động đoàn viên, hội viên và nhân dân thực hiện


chủ trƣơng, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nƣớc thiếu chiều sâu, cụ thể.
2.3.3. Nguyên nhân
2.3.3.1 Nguyên nhân ưu điểm
Các cấp ủy Đảng,chính quyền,Mặt trận,đoàn thể đã nhận thức đúng đắn tầm quan
trọng của chỉ thị số 30-CT/TW về xây dựng thực hiện QCDC nên đã tập trung lãnh đạo, chỉ
đạo cụ thể hóa việc xây dựng và thực hiện.
Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị (Khóa VIII), Các Nghị định của Chính phủ về thực
hiện QCDC trong các loại hình cơ sở và Pháp lệnh dân chủ của UBTVQH (khóa XI) đƣợc ban
hành kịp thời có sự điều chỉnh kịp thời phù hợp với tình hình, đáp ứng nguyện vọng của cán bộ,
đảng viên và nhân dân, vì vậy đƣợc đông đảo quần chúng hƣởng ứng và thực hiện.
Ý thức trách nhiệm, trình độ dân trí, đời sống nhân dân đƣợc nâng cao, chính sách pháp
luật ngày càng đƣợc hoàn thiện đã góp phần để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình.
Quá trình xây dựng, thực hiện QCDC đã gắn kết chặt chẽ với các tổ chức động viên các
tầng lớp nhân dân thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo Quốc phòng- An Ninh,
xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, thực hiện tốt các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu
nƣớc, quan tâm các lợi ích chính đáng của nhân dân.
Cấp Ủy và chính quyền các cấp đã coi trọng công tác kiểm tra, sơ kết, tổng kết, kiểm
điểm rút kinh nghiệm, khắc phục hạn chế, yếu kém trong lãnh đạo chỉ đạo; biểu dƣơng, khen
thƣởng kịp thời, nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến.
2.3.3.2. Nguyên nhân khuyết điểm, hạn chế
Thứ nhất, do nhận thức về tầm quan trọng của việc thực hiện dân chủ chưa cao

dụng một cách khoa học từ khâu soạn thảo đến thẩm định rồi thông qua.
2.3.4. Bài học kinh nghiệm
Qua 10 năm thực hiện Chỉ thi số 30-CT/TW của Bộ chính trị (khóa VIII) có thể rút ra
một số bài học kinh nghiệm sau :
Thứ nhất, Tăng cƣờng vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, năng lực tổ chức
thực hiện của các cấp chính quyền, hiệu quả phối hợp của Mặt trận, các đoàn thể đối với việc
thực hiện QCDC.
Thứ hai, các cấp ủy Đảng phải coi trọng việc lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức quán triệt đầy đủ,
sâu sắc tƣ tƣởng, quan điểm chỉ đạo và nội dung Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ chính trị (khóa
VIII), các Nghị định của chính phủ về thực hiện QCDC trong các loại hình cơ sở, Pháp lệnh dân
chủ của UBTVQH 11. Đồng thời chủ động đề ra biện pháp, kế hoạch phân công trách nhiệm cụ
thể cho các tổ chức chính trị xã hội trong hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên và quần chúng
nhân dân thực hiện.
Thứ ba, thực hiện QCDC phải gắn liền với thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã
hội, cũng cố quốc phòng- an ninh và cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn đảng, cũng cố chính
quyền, cải cách hành chính; Phát huy vai trò Mặt trận, các đoàn thể. Phát huy Dân chủ phải gắn
liền với kỷ cƣơng, kỷ luật; quyền lợi đi đôi với nghĩa vụ.
Thứ tư, tăng cƣờng công tác kiểm tra, đôn đốc với việc thực hiện QCDC. Giải quyết dứt
điểm các vụ việc tồn động, đơn thƣ khiếu nại, tố cáo của nhân dân, xử lí nghiêm minh những vi
phạm, kịp thời uốn nắn các biểu hiện lệch lạc. Chú trọng sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, biểu
dƣơng, khen thƣởng kịp thời những tập thể, cá nhân thực hiện tốt QCDC.
Thứ năm, phát huy vai trò tham mƣu của Ban chỉ đạo thực hiện QCDC các cấp; thƣờng
xuyên cũng cố, kiện toàn Ban chỉ đạo; Bổ sung sửa đổi quy chế hoạt động. Phân công trách
nhiệm cụ thể các thành viên. Duy trì tốt chế độ giao ban, phản ánh tình hình, đề xuất kịp thời.
Chương 3
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN
CHỦ Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH QUẢNG BÌNH
3.1. QUAN ĐIỂM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH

QCDC thành nề nếp.
Tổ chức đảng, đảng viên gƣơng mẫu thực hiện QCDC, chấp hành nghiêm kỷ luật của
Đảng, Pháp luật Nhà nƣớc, đi đầu trong việc thực hiên QCDC; thực hiện tốt quy chế chất vấn
trong Đảng; đƣa việc thực hiện dân chủ cơ sở thành một tiêu chuẩn để xem xét chi bộ, đảng bộ
trong sạch vững mạnh, đảng viên đủ tƣ cách, đơn vị tiên tiến xuất sắc.
Cấp uỷ Đảng lãnh đạo thực hiện QCDC cơ sở gắn chặt với việc lãnh đạo tăng cƣờng
công tác dân vận của các cấp chính quyền,phát huy vai trò của Mặt trận, đoàn thể để tạo hiệu quả
tổng hợp.
3.1.1.3. Tập trung chỉ đạo thực hiện các nội dung của Pháp lệnh và các Nghị định về
dân chủ cơ sở; thực hiện QCDC cơ sở đi liền với giữ vững kĩ cương, kỉ luật, quyền lợi gắn với
trách nhiệm, Nghĩa vụ công dân; chống các biểu hiện lợi dụng dân chủ để vi phạm pháp luật
Chính quyền các cấp tăng cƣờng phổ biến nâng cao hiểu biết pháp luật cho nhân dân. Chỉ
đạo thực hiện nghiêm túc các nội dung của pháp lệnh và nghị định về QCDC ở các loại hình cơ
sở; rà soát bổ sung, sửa đổi các quy chế, hƣơng ƣớc. Phân công cụ thể trách nhiệm của các thành
viên trong việc giải quyết các vấn đề gay cấn ở địa phƣơng, cơ quan, đơn vị; đông thời có kế
hoạch chỉ đạo thực hiện hiệu quả
Nâng cao chất lƣợng hoạt động của HĐND, UBND, nhất là cấp cơ sở, đổi mới việc tiếp
xúc cử tri để nắm tâm tƣ nguyện vọng nhân dân. Thực hiện tốt quy chế phối hợp hoạt động giữa
HĐND, UBND các cấp với Mặt trận,các đoàn thể; quy chế phối hợp hoạt động giữa thủ trƣởng
cơ quan, ban chấp hành công đoàn; tiến hành hội nghị, đại hội cán bộ, công chức, viên chức,
ngƣời lao động theo quy định.
Chỉ đạo thực hiện tốt Chỉ thị 18/2000/CT-TT của Thủ tƣớng Chính phủ về tăng cƣờng
công tác dân vận của chính quyền.
3.1.1.4. Phát huy vai trò của Mặt trận, các đoàn thể trong việc thực hiện dân chủ đại
diện; đồng thời vận động nhân dân phát huy dân chủ trực tiếp trong quá trình thực hiện
QCDC ở cơ sở
Mặt trận, các đoàn thể nhân dân tiếp tục chỉ đạo đổi mới nội dung, phƣơng thức hoạt
động nhằm thống nhất hành động các tổ chức thành viên để tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân
dân tham gia thiết thực trong thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Tăng cƣờng vận động đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân phát huy dân chủ

- Nâng cao nhận thức trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận và các
đoàn thể, đặc biệt là ngƣời đứng đầu các địa phƣơng, đơn vị về việc rà soát, sửa đổi, bổ sung và
ban hành các quy chế, quy định, nội quy sát với đặc điểm tình hình của cơ quan, đơn vị, cơ sở;
thực hiện tốt Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị.
- Tăng cƣờng sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng đối với Mặt trận và các đoàn thể
trong việc phát huy vai trò của các hội đồng tƣ vấn, dân chủ đại diện, mở rộng dân chủ trực tiếp,
tăng cƣờng công tác giám sát, phản biện trong việc thực hiện QCDC
- Ban chỉ đạo các cấp tăng cƣờng công tác tham mƣu cho cấp ủy, chính quyền trong chỉ
đạo thực hiện QCDC, kịp thời kiện toàn, bổ sung thành viên BCĐ, phân công trách nhiệm cụ thể
của các thành viên. Xây dựng kế hoạch kiểm tra của BCĐ, các thành viên BCĐ theo chức trách,
nhiệm vụ đƣợc phân công.
- Tiến hành tổ chức tổng kết, đánh giá kịp thời việc xây dựng và thực hiện QCDC, triển
khai xây dựng nhiệm vụ công tác của năm 2013. Chỉ đạo xây dựng các mô hình, điển hình làm
tốt QCDC trong xây dựng nông thôn mới dể nhân rộng; kịp thời biểu dƣơng, khen thƣởng những
tập thể, các cá nhân có nhiều thành tích thiết thực trong thực hiện QCDC ở cơ sở.
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ
CƠ SỞ Ở TỈNH QUẢNG BÌNH
3.2.1. Nâng cao nhận thức của các chủ thể thực hiện pháp luật về vai trò, tầm quan
trọng và nội dung của pháp luật về dân chủ cơ sở
Phải luôn luôn quán triệt quan điểm dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát
triển xã hội.
Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về dân chủ cơ sở. Cần phải đƣa ra nhiều văn bản quy
phạm pháp luật về dân chủ mang tính khoa học, hợp lý tránh tình trạng lỏng lẽo hoặc mâu thuẫn.
Cần làm rõ hơn các quyền của ngƣời dân nhƣng bên cạnh đó cũng phải xác định rõ trách
nhiệm của chính quyền cơ sở, các cán bộ lãnh đạo địa phƣơng trong việc thực hiện pháp luật về


dân chủ cơ sở.
Trong bối cảnh chúng ta đang sửa đổi, bổ sung Hiến pháp việc đƣa dân chủ trực tiếp và
xác định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phƣơng vào nội dung cần quan tâm sửa đổi bổ sung

có các văn bản có giá trị pháp lý cao hơn ảnh hƣởng đến hoặc cùng điều chỉnh về một vấn đề.
Mặt khác, tính không thống nhất, không đồng bộ giữa các văn bản này kể các quy định trong
cùng một văn bản gây khó khăn cho việc khi áp dụng hay kể cả những quy định không mang tính
chất khả thi, không thể áp dụng trong thực tế. Nhìn chung, một số văn bản vẫn còn thiếu tính
khoa học
3.2.7. Tăng cường đối thoại giữa người dân và các cơ quan nhà nước trong việc thực
hiện quy chế dân chủ
Việc đối thoại giữa ngƣời dân với các cơ quan nhà nƣớc trong việc thực hiện dân chủ cơ
sở sẽ là cơ hội để ngƣời dân nói lên tâm tƣ nguyện vọng của mình, giải quyết đƣợc những thắc
mắc mà mình gặp phải, để hiểu rõ hơn về quyền lợi cũng nhƣ nghĩa vụ của mình đồng thời cũng
xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, ngƣời có thẩm quyền trong việc bảo đảm các
quyền và nghĩa vụ đó, trách nhiệm của những ngƣời này ra sao khi họ vi phạm đến quyền và lợi
ích của ngƣời dân.


3.2.8. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, kỹ năng sử dụng quy định pháp
luật về dân chủ cơ sở
Việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật sẽ giúp cho ngƣời dân nắm bắt
đƣợc pháp luật một cách kịp thời, sẽ hiểu rõ hơn về quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Sẽ biết
cách thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình nhƣ thế nào. Công tác tuyên truyền, phổ biến
giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên của hoạt động thực thi pháp luật, là cầu nối để chuyển tải
pháp luật vào cuộc sống, làm cho mọi công dân đƣợc tiếp cận với pháp luật.
KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
- Nghị định số 71/1998/NĐ-CP của Chính phủ về ban hành QCDC trong hoạt động cơ
quan ban hành từ năm 1998, từ đó đến nay Trung ƣơng đã có nhiều văn bản liên quan đến việc
thực hiện QCDC nhƣ Luật cán bộ, công chức; Luật viên chức. Quy tắc ứng xử của CBCC trong
các cơ quan hành chính, công tác cải cách hành chính, Luật phòng, chống tham nhũng, lãng phí
đã có hiệu lực nên nhiều điểm trong Nghị định cần đƣợc bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tình
hình thực tế.
- Đề nghị BCĐ Trung ƣơng tiếp tục chỉ đạo, hƣớng dẫn thực hiện QCDC ở các loại hình



Với sự nhận thức nƣớc ta là một nhà nƣớc pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân cũng nhƣ nguyên tắc dân biết, dân bàn, dân làm dân kiểm tra đã không ít ngƣời nghiên
cứu về vấn đề dân chủ cơ sở. Căn cứ vào tình hình thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa
bàn tỉnh Quảng Bình trong những năm vừa qua đã có nhiều chuyển biến tích cực song bên cạnh
đó còn có nhiều hạn chế thiếu sót. Đề tài của tác giả góp một phần nhỏ trong việc tìm hiểu các
quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, đánh giá thực trạng thực hiện dân chủ cơ sở trên địa
bàn tỉnh Quảng Bình, những vấn đề đã đạt đƣợc, những vấn đề còn bất cập, hạn chế cũng từ đó
tác giả đƣa và những nguyên nhân, giải pháp đồng thời có những kiến nghị để giúp cho việc thực
hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đƣợc tốt hơn trong thời gian tới.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài rộng, những quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở là
tƣơng đối giống nhau nên trong quá trình nghiên cứu đề tài không thể không mắc những sai lầm,
thiếu sót. Tác giả cũng rất mong muốn nhận đƣợc sự phản hồi của bạn đọc để cho đề tài đƣợc
hoàn thiện hơn và phát huy đƣợc tốt hơn giá trị của nó.

References
1.
Trịnh Ngọc Anh, “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ
sở vững mạnh”, Tạp chí Cộng sản, (11), 2003.
2.
Lê Trọng Ân, “Dân chủ và phát huy dân chủ của nhân dân trong sự nghiệp đổi mới”, Tạp
chí Cộng sản, (24), 2004.
3.
Lƣơng Gia Ban, Dân chủ và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2003.
4.
GS, TS Hoàng Chí Bảo (Chủ biên): Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn hiện nay (sách
tham khảo), NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2005.
5.

quốc gia, Hà Nội 1991.
18. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính
trị quốc gia, Hà Nội 1996.
19. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội 2001.
20. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2006.
21. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương lần thứ 3, Khóa VIII,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1997.
22. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương lần thứ 5, Khóa IX,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002.
23. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương lần thứ 6, Khóa IX,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002.
24. Đảng Cộng sản Việt Nam: Chỉ thị số 30 CT/TW, ngày 18/2/1998 của Bộ Chính trị Về
xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, Hà Nội, 1998.
25. Trần Quốc Huy: Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam hiện nay, Luận
văn thạc sĩ Luật, Hà Nội, 2005.
26. Lê Xuân Huy: Ý thức pháp luật với quá trình thực hiện dân chủ ở nông thôn nước ta hiện
nay (Qua thực tế một số tỉnh phía Bắc), Luận văn thạc sĩ Triết học, 2005.
27. Vũ Văn Hiền, Phát huy dân chủ ở xã, phường, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004.
28. Mai Thế Hởn, Hoàng Ngọc Hòa, Vũ Văn Phúc, Phát triển làng nghề truyền thống trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.
29. Hiến pháp Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.
30. Dƣơng Trung Ý, Nâng cao sự lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng thực hiện hiệu quả dân
chủ ở cơ sở, Tạp chí Cộng sản, (14), Hà Nội, 2003.
31. Lênin, Toàn tập, tập 30, Nxb Tiến bộ, Matxcova, 1978.
32. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.
33. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.
34. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.
35. Lê Quang Minh, “Để thực hiện dân chủ ở cơ sở”, Tạp chí Cộng sản,(11), Hà Nội, 2003.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status