BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
PHẠM VIỆT HOÀNG
Chuyên đề:
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ
CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
KHÁM CHỮA BỆNH BẰNG Y HỌC CỔ TRUYỀN
TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
Thuộc đề tài NCS:
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CAN THIỆP
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KHÁM CHỮA BỆNH
BẰNG Y HỌC CỔ TRUYỀN TẠI TỈNH HƯNG YÊN
HÀ NỘI - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
PHẠM VIỆT HOÀNG
Chuyên đề:
TP
TTBYT
TW
YDCT
YDCT
YDHHĐ
YHCT
YHCTTN
YHCTTW
YHHĐ
YTTN
NC
KHCN
WHO
HNYHCTTN
Bệnh viện Y học Cổ truyền
Châm cứu Trung ương
Cán bộ Y tế
Chăm sóc sức khỏe ban đầu
Chính sách Quốc gia
Hành nghề y tế tư nhân
Khám chữa bệnh
Khám chữa bệnh Y học Cổ truyền
Kinh tế xã hội
Thành phố
Trang thiết bị Y tế
Trung ương
Y dược Cổ truyền
Y Dược học Cổ truyền
3.3.11. Trung Quốc...................................................................................15
3.3.12. Nhật bản.......................................................................................19
3.3.13. Hàn Quốc......................................................................................20
3.3.14. Australia........................................................................................20
3.3.15. YHCT ở một số nước châu Âu.....................................................21
3.3.16. YHCT ở châu Phi.........................................................................22
3.4 Tình hình khám chữa bệnh bằng YHCT ở Việt Nam......................................27
3.4.1 Các quan điểm chỉ đạo chung về phát triển Y học cổ truyền và chính
sách của Đảng và chính phủ đối với hoạt động khám chữa bệnh
YHCT tại Việt Nam...........................................................................27
3.4.2 Tình hình khám chữa bệnh YHCT tại Việt Nam:............................31
3.4.3 Một số nghiên cứu về thực trạng và giải pháp nang cao chất lượng
khám chữa bệnh YHCT tại Việt nam đến 2010.................................40
IV. KẾT LUẬN..............................................................................................48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc sức khỏe (CSSK) là một trong những nhu cầu thiết yếu của
con người. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, sự phát triển của loài người
từ thời xa xưa y dược cổ truyền (YDCT) đã ra đời. Con người đã dùng các
loại cây, cỏ, bộ phận động vật, khoáng chất … để tăng cường và bảo vệ sức
khỏe. Trong xã hội YDCT phát triển do nhu cầu của người dân trong việc
chăm sóc và bảo vệ sức khỏe.
Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự nâng cao về nhận
thức cũng như nhu cầu thiết yếu về CSSK, sự kết hợp giữa y học hiện đại
(YHHĐ) và y học cổ truyền (YHCT) ngày càng chặt chẽ. Tỷ lệ và số lượng
người sử dụng các dịch vụ YHCT ngày càng được nâng lên. Ở Nhật, theo
thống kê thấy có tới 70 - 80% các thầy thuốc của phép chữa đối chứng đã kê
cu, liu phỏp tinh thn/tõm lý hay liờu phỏp qua tỏc ng ca tay. Ti cỏc
quc gia m cú s u th ca phộp cha i chng (tõy y) hoc YDCT cha
c lng ghộp vo h thng CSSK quc gia thỡ YDCT c gi l phng
phỏp tr liu thay th hay tr liu b sung (complementory or alternative
medicine) [37], [25].
3.2. Nhng nh hng v chớnh sỏch i vi YDCT ca T chc Y t th gii
Giỏ tr ca YHCT ó c TCYTTG khng nh rừ "Không cần
chứng minh lợi ích của YHCT, mà cần phải đề cao và khai
thác rộng rãi hơn nữa những khả năng của nó có lợi cho toàn
thể nhân loại, phải đánh giá và công nhận theo đúng giá trị
của nó và làm nó hữu hiệu hơn. Đó là hệ thống mà dân
chúng từ trớc đến nay đã coi nh của mình và chấp nhận
không hạn chế. Hơn thế dù ở đâu nó cũng có lợi nhiều hơn
những hệ thống từ ngoài, vì nó là một bộ phận không thể
tách rời của nền văn hoá nhân dân" [37].
Do vy, trong chin lc YHCT (2002-2005) ca TCYTTG [37] ó nờu
rừ: Kt hp cht ch nn YDCT trong h thng chm súc sc khe quc gia.
Tc l YDCT cn phi c lng ghộp vo mi dch v chm súc sc khe
nh mi bnh vin, mi phũng khỏm, mi bin phỏp iu tr, chm súc hay
phc hi chc nng... Phi tớch cc lm cho cỏc dch v YDCT c ph bin
mi ch, mi ni, cho mi ngi dõn d tip cn vi dch v ny k c
trong lnh vc nh nc hay t nhõn. Cng cn thit lng ghộp cht ch trong
cụng tỏc o to v YDCT.
3.3 Tỡnh hỡnh khỏm cha bnh bng YHCT mt s nc trờn th gii:
4
Sử dụng và đưa YHCT trong hệ thống CSSK quốc gia đó và đang là
vấn đề được nhiều nước quan tâm. Chính sách cho YDCT có sự khác nhau
giữa các nước hay các vùng miền. Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lịch sử
sử dụng thuốc YHCT trong hệ thống cùng YHHĐ. Tuy nhiên hiện nay tại
Cămpuchia, YHCT vẫn không được liên kết hoặc lồng ghép chính thức với hệ
thống y tế quốc gia do các bác sỹ, dược sỹ và các nhân viên y tế chưa có đầy
đủ kiến thức về YHCT và chưa rõ về các lợi thế cũng như hạn chế của YHCT,
chưa có niềm tin vào tính an toàn và hiệu quả của YHCT cũng như tôn trọng
vai trò của các thầy thuốc YHCT. YHCT chủ yếu vẫn chỉ được dùng ở các hộ
gia đình và cộng đồng, và được thực hiện bởi các thày lang hoặc chính người
dân theo kinh nghiệm của bản thân họ. Bên cạnh đó, cũng tồn tại hình thức
dịch vụ YHCT tư nhân của một số cộng đồng người Hoa và của Việt Nam
được nhà nước cho phép. Như vậy, về chính sách thì Chính phủ Hoàng gia
Campuchia có cho phát triển YHCT, nhưng việc lồng ghép và ứng dụng
YHCT trong chăm sóc sức khỏe gần như không có, mà chỉ có ở tuyến cơ sở,
tồn tại như một hình thức chữa bệnh phục vụ cộng đồng [5].
Bộ y tế
Sở y tế các tỉnh thành
Y tế các ngành
Y tế
huyện quận
Dịch vụ y học cổ truyền trong cộng đồng
Sơ đồ 1. Y học cổ truyền trong hệ thống y tế của Campuchia
6
Nhận xét: Như vậy, mặc dù YHCT được pháp luật công nhận nhưng do
nhiều nguyên nhân mà dịch vụ khám chữa bệnh YHCT chỉ tồn tại trong cộng
đồng dân cư.
Các nghiên cứu về thực trạng sử dụng YHCT ở quốc gia này rất ít. Một
Bên cạnh đó, còn đội ngũ các thầy thuốc từ các dân tộc thiểu số cũng
tham gia vào sự phát triển của YHCT dưới các hình thức như sản xuất thuốc
cổ truyền tại nhà, các thuốc bổ trợ, sauna và xoa bóp cổ truyền [5]..
Bộ y tế
Cục thuốc và thực phẩm Bộ phận YHCT
Viện Y học
cổ truyền
Các cục chức năng
Sở y tế tỉnh thành
Tổ trạm
y học cổ truyền
Chỉ đạo trực tiếp
Chỉ đạo về chuyên môn kỹ thuật
Sơ đồ 2. Y học cổ truyền trong hệ thống y tế của Lào
Nhận xét: Mô hình YHCT của CHDCND Lào được pháp luật công
nhận và được phát triển từ trên xuống. Hiện tại các tuyến cơ sở đang được
duy trì và củng cố.
8
Những nghiên cứu đánh giá tổng thể về thực trạng khám chữa bệnh
bằng YHCT trên toàn quốc gia chưa được tiến hành. Một khảo sát sơ bộ của
Bộ Y tế Lào về cây thuốc trên toàn quốc cho thấy có khoảng 5000 loài trong
đó có khoảng 1500 loài được tìm thấy và chứng minh. Tuy nhiên các nhà thực
nghề đăng ký sử dụng thuốc Trung y, 13% đăng ký sử dụng thuốc cổ truyền
Malaysia [5], [14].
3.3.5. Myanmar
YHCT tại Myanmar có từ 300 năm trước. Hiện tại đang thực hành tại
Myanmar có 4 môn thực hành là hệ thống Desana, hệ thống Bhesiji, hệ thống
Netkhatta và hệ thống Vijadhara. Y học Ayurveda bao gồm hệ thống Bhesiji
được thực hành rộng rãi ở các thành phố trong đất nước [5]..
Myanmar đó có chính sách quốc gia về YHCT. Trong đó ghi rõ “để
củng cố các hoạt động dịch vụ và nghiên cứu y học bản địa ngang cấp quốc tế
và tham gia vào các hoạt động chăm sóc sức khỏe cộng đồng” [5]..
Viện YHCT được thành lập vào năm 1989, trực thuộc Bộ Y tế.
Dưới vụ YHCT có phòng YHCT của khu vực, của bang và một số
phòng khám y học cổ truyền của quận, huyện, xã.
Việc cung cấp chăm sóc sức khỏe bằng thuốc YHCT được thực hiện
thông qua các bệnh viện và phòng khám YHCT ở một số bang và khu vực. Có
2 bệnh viện 50 giường và 12 bệnh viện 16 giường, 237 phòng khám YHCT
tuyến huyện và thị trấn trong toàn quốc.
Ngoài ra nhà nước cũng cho phép các bác sỹ hành nghề YHCT tư nhân
cũng tham gia trong việc cung cấp chăm sóc sức khỏe. Hiện tại có khoảng
6000 bác sỹ YHCT đăng ký theo Luật của Hội đồng y học Myanmar [14]..
10
Bộ y tế
Viện YHCT
YHHĐ
quốc gia bao gồm:
- Một số bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế lồng ghép YHCT vào điều trị
gồm: Bệnh viện cựu chiến binh khu vực, Trung tâm y tế và bệnh viện Marino
Marcos; bệnh viện chỉnh hình của Phi-lip-pin; Trung tâm y tế Amanigue.
Bệnh viện tư nhân lồng ghép thuốc YHCT vào điều trị gồm y tế thành
phố, Trung tâm y tế Delos Santos.
Nghiên cứu YHCT tại quốc gia này tập trung nhiều vào nghiên cứu
thảo dược theo hướng dẫn của TCYTTG cho các nghiên cứu lâm sàng của
thuốc thảo dược như NC thuốc lagundi (Vitex negundo), Sambong (Blummea
balsamifera), Yerba buena (cây bạc ha cordifolia), Tsaang Gubat
(Camonaretusa) [5], [14]...
3.3.7. Singapore
YHHĐ được coi là phương pháp chữa bệnh trong hệ thống CSSK
chung và YHCT với các phương pháp chữa bệnh kinh nghiệm lâu đời của các
dân tộc khác nhau cũng được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng.
Nhà nước cho phép phương pháp khám và chữa bệnh YHCT được sử
dụng tại các phòng khám YHCT tư nhân và phòng khám YHCT từ thiện của
các tổ chức phi lợi nhuận. Trước 2007, YHCT được phép sử dụng tại các bệnh
12
viện, nhà điều dưỡng và chỉ dành cho người bệnh ngoại trú, đây được coi như
dịch vụ riêng biệt, không nằm trong các dịch vụ y tế cung cấp cho bệnh nhân
[5]..
Năm 2007, Bộ y tế đã cho phép các bác sỹ đăng ký hành nghề y tế và
nha sỹ đồng thời có đăng ký hành nghề YHCT đó là được làm châm cứu và
coi đó như một dịch vụ nằm trong nội dung hành nghề y của họ. Ngoài ra các
bệnh viện và phòng khám cũng cho phép tuyển dụng những người thầy thuốc
thực hành YHCT có đăng ký làm châm cứu để phục vụ cho bệnh nhân [5]..
Năm 2004, Bộ y tế đã tiến hành một khảo sát cho thấy có 53% số dân
liệu dược thảo YHCT được công bố, trong đó có 31 đề tài được thử nghiệm lâm
sàng tại các bệnh viện của các trường đại học và Bệnh viện công [14]..
3.3.9. Nepal
Theo báo cáo của Bộ Y tế Nepal cho đến năm 1992 có 145 trung tâm
YHCT sử dụng Ayurveda và các phương pháp YHCT khác trong hoạt động
phòng và chữa bệnh. Hơn 50% các trung tâm y tế đa khoa có sử dụng
Ayurveda cùng với y học hiện đại để điều trị [14]. .
3.3.10. Ấn Độ
Cộng hòa Ấn độ có di sản giàu có về hệ thống YHCT chăm sóc sức
khỏe từ nhiều thế kỷ. Hệ thống YHCT là Ayurveda, Yoga tồn tại gần 7000
năm. Chính phủ Ấn độ thừa nhận các hệ thống cổ truyền đã được hệ thống
hóa (nhờ Ayurveda), cũng như các cách chữa bệnh không cần thuốc như Yoga,
Siddha, Unani và các hệ thống y tế Tây Tạng đều được nhà nước công nhận
và tạo điều kiện cho phát triển [14]. .
Chính sách của Ấn Độ về YDCT có nhiều điểm tương đồng với các
nước khác, nhất là cũng dựa vào chiến lược của WHO và gần giống chính
sách của Trung Quốc.
14
- Coi trọng công tác đào tạo YDCT, coi đó là một sự lồng ghép vào
chương trình quốc gia.
- Lồng ghép chặt chẽ YDCT vào hệ thống chăm sóc sức khỏe quốc gia,
nhưng vẫn chưa lồng ghép YDCT vào YHHĐ. Hai nên y học tồn tại song
song [24].
- Thúc đẩy nghiên cứu khoa học và đầu tư kinh phí cho nghiên cứu
khoa học trong YDCT.
- Thành lập một tổ chức quốc gia (tương đương với cơ quan Bộ) phụ
trách, quản lý YDCT bao gồm các nền y học dân tộc như Ayurveda, Yoga,
Unani, Siddha và Homoeopathy (phép chữa vi lượng đồng cân) để thúc đẩy
Trung Quốc có khoa YHCT . Hiện nay, năm 2011 theo số liệu của Cục Quản
lý Trung y dược quốc gia Trung Quốc có 3009 Bệnh viện YHCT, với 28 Học
viện Trung y, 57 cơ sở nghiên cứu [1]..
Mô hình KCB YHCT Trung Quốc theo tuyến
Cục quản lý Trung y dược
quốc gia
Cục quản lý Trung y dược
tỉnh thành
Khoa Trung y huyện thị
Sơ đồ 4. Mô hình YHCT từ Trung ương đến cơ sở
Nhận xét: Sơ đồ trên cho thấy nước CHDCND Trung Hoa đã có chính
sách để phát triển YHCT một cách toàn diện, đều khắp từ tuyến Trung ương
tới tuyến cơ sở.
16
Công tác quản lý kiểm tra khám chữa bệnh toàn quốc do Bộ Vệ sinh chủ
quản. Cấp huyện trở lên do Bộ phận hành chính vệ sinh chính phủ nhân dân
địa phương chịu trách nhiệm quản lý.
- Các bệnh viện YHCT được phân cấp như sau:
Cấp 1: 20 – 79 giường bệnh là tối thiểu, gồm các khoa sau: Khoa lâm
sàng, khoa dược, khoa xét nghiệm, khoa X quang.
Cấp 2: 80 – 299 giường, gồm Nội khoa, Ngoại khoa, và thêm các khoa
như cấp 1.
Cấp 3: 300 giường trở lên, gồm các khoa như sau: Cấp cứu, Nội khoa,
Ngoại khoa, Sản khoa, Nhi khoa, Châm cứu, Chấn thương, Hậu môn trực
tràng, Da liễu, Mắt, Xoa bóp bấm huyệt, Tai mũi họng.
- Ngoài ra còn có các Bệnh viện Đông Tây y kết hợp.
- Hệ thống Đồng Nhân Đường có nguồn gốc từ năm 1669, năm Khang
- Tăng cường đào tạo, hiện đại hóa công tác đào tạo cán bộ YDCT [20].
- Ứng dụng tất cả những chính sách của WHO đã khuyến cáo trong
Chiến lược phát triển YDCT của WHO [20].
- Đào tạo cán bộ YHCT: Đội ngũ cán bộ làm tư vấn có đủ khắp nơi và
dần được chuẩn hóa bằng các lớp, các khoá đào tạo với nội dung chương trình
phù hợp cho từng thời kỳ, phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn. Trong đó
các thầy thuốc YHHĐ được đào tạo thêm về YHCT, các thầy lang cổ truyền
được đào tạo thêm về YHHĐ, họ được tham gia các chương trình y tế của
Nhà nước và được công nhận một cách chính thức. Đội ngũ thầy thuốc cổ
truyền cơ sở này đó thực sự đóng góp nhiều trong sự nghiệp CSSKBĐ tại
cộng đồng.
18
Năm 2000, Trung quốc xuất khẩu thuốc YHCT tăng 8,9%, công nghệ
YHCT đạt 8,64 tỷ USD. Có trên 2000 loại dược thảo và khoảng 3300 đơn
thuốc cổ truyền khác cùng với lượng thuốc sản xuất là 370.000 tấn/năm [31]..
Tính đến 12/2002, Trung quốc có 4.808.640 người làm việc ở 85.705 tổ
chức y tế trong đó có 3801 tổ chức YHCT (4,4%) với 435.082 cán bộ nhân
viên YHCT (9,1%). Có 213.861 gường bệnh, có khoảng 200 triệu bệnh nhân
ngoại trú được điều trị bằng YHCT. 95% bệnh viện cung ứng YHHĐ có khoa
phòng về YHCT. Khoảng 56% bác sỹ nông thôn (1.330.000) sử dụng kết hợp
cả YHHĐ và YHCT [1]..
Hội nghị phát triển YHCT Trung Quốc năm 2005 đã thống kê: YHCT
Trung Quốc đã được hơn 120 quốc gia và khu vực trên thế giới chấp nhận. ở
Anh, hơn 3000 bệnh viện thực hành về YHCT Trung Quốc đã được mở. Có
khoảng 2,5 triệu người Anh đã chi tổng số 90 triệu bảng Anh hàng năm để
được điều trị bằng YHCT Trung Quốc. Ở Pháp có 2 600 bệnh viện thực hành
về YHCT Trung Quốc có tới 7 000 đến 9 000 cán bộ châm cứu. Cho đến nay,
ít nhất 40 nước đã mở trường học về châm cứu. Trên 50 hợp đồng y học được
Kampo rất ít gây phản ứng và tác dụng phụ, ngoài ra y học Kampo còn đáp ứng
các yếu tố tâm linh và các giá trị tinh thần của người Nhật. Chế phẩm dược
Kampoo dùng trong lâm sàng chiếm tới 84,3% và được ứng dụng chủ yếu với
các chứng bệnh: viêm gan, rối loạn kinh nguyệt, hen, cảm lạnh, rối loạn tiêu hóa,
viêm khớp mạn tính, rối loạn tâm thần thân thể.
Kampoo khá an toàn và thích hợp với người cao tuổi. Ít nhất 65% bác sĩ ở
Nhật đã khẳng định rằng họ đã sử dụng phối hợp đồng thời thuốc YHCT và
thuốc hiện đại [14]..